tại sao trong đường lối chính sách của đảng ,đảng ta lại quán triệt quan điểm toàn diện,quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể,giúp mình ok

 |  Xem: 28.502  |  Trả lời: 3
Ngày gửi: 23/02/2008 - 14:26  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (3)

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người.



Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v...) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay". Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến"1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong "chiến lược phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
Ngày gửi: 23/02/2008 - 14:30
Hồ Chí Minh thường dạy chúng ta: Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “Vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có phù hợp với thực tế hay không, có thật là đúng không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác-Lênin là “cẩm đang thần kỳ”, nhưng Người không biến nó thành một mớ giáo điều, chỉ sao chép rập khuôn, cái có sẵn mà luôn đối chiếu với thực tiễn thế giới; phương Đông và Việt Nam. Do đó, muốn vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh phải vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để đáp ứng một cách sáng tạo tư tưởng của Người vào hoàn cảnh cụ thể của tình hình mới, phù hợp với điều kiện từng nơi, từng lúc.

Hồ Chí Minh thường nhắc nhở chúng ta “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”2.

1 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2002, tập 8, trang 494.

2 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2002, tập 8, trang 496.


Quan điểm lịch sử cụ thể

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm rất biện chứng. Hồ Chí Minh chẳng những là một nhà chiến lược thiên tài, rất vĩ đại mà còn là một nhà sách lược tài giỏi, tùy đối tượng, hoàn cảnh cụ thể mà Người có cách ứng xử linh hoạt sáng tạo riêng. Vì vậy, quá trình vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chúng ta phải đặt ra những quan điểm, luận điểm của Người vào một hoàn cảnh cụ thể, nhất định (viết, nói, trong hoàn cảnh nào, lúc nào, với ai, nhằm mục đích gì). Mỗi sự kiện có nhiều tầng lớp ý nghĩa, dựa vào một câu của Hồ Chí Minh, nhưng phải đặt vào hoàn cảnh cụ thể của lời nói mới hiểu được ý nghĩa đích thực của nó. Tránh tình trạng đơn giản hóa, hiện đại hóa hoặc suy diễn chủ quan.

Do tính cách mạng triệt để, sâu sắc và toàn diện của cách mạng Việt Nam, nên cách mạng nước ta luôn luôn gặp phải sự chống phá điên cuồng và quyết liệt của kẻ thù. Ngay cả sau khi nhân dân ta đã giành được chính quyền nhưng Đảng và chính quyền non trẻ của ta lại bị thù trong giặc ngoài đẩy vào tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Trong điều kiện khó khăn ấy, để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền non trẻ, Hồ Chí Minh đã có những lời nói và việc làm rất linh hoạt, sáng tạo, độc đáo, táo bạo. Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào hoạt động bí mật.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử cụ thể, nó phản ánh hiện thực lịch sử và do đó chịu sự chi phối tác động của chính bản thân điều kiện lịch sử. Bất kỳ một tư tưởng quan điểm nào khác, kể cả những quan điểm của các bậc vĩ nhân, tư tưởng Hồ Chí Minh có lúc bị hạn chế do không vượt qua được những chế định của điều kiện lịch sử.

Vì vậy, cũng như chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được phát triển trong những điều kiện mới, cần được đặt vào trong một điều kiện mới để vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Quan điểm toàn diện và phát triển hệ thống

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Xem xét vấn đề một cách toàn diện và có hệ thống là một phương pháp khoa học quan trọng, một phong cách của Hồ Chí Minh. Nắm vững quan điểm này, trong quá trình vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chúng ta cần nhìn nhận đánh giá sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, bao quát, hệ thống. Hồ Chí Minh khi xem xét đánh giá một sự vật hiện tượng nào, Người luôn xem xét một cách toàn diện: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quá khứ, hiện tại, tương lai, truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; cá nhân và tập thể cộng đồng; thời thế, lực, thiên thời địa lợi nhân hòa; nhận thức tư tưởng tình cảm; đức và tài; lý luận và thực tiễn; nói và làm… Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ đảng viên ta trong công tác phải có cái nhìn toàn diện hệ thống, tránh chủ quan phiến diện, cục bộ. Nghiên cứu, học tập vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm ấy của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản tức là giành độc lập để đi tới chủ nghĩa xã hội. Đó là hạt nhân, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mọi tư tưởng cụ thể đều xuất phát từ đó và phục vụ mục tiêu đó. Tách rời độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề không phải ở câu chữ mà ở tinh thần cơ bản, ở nội dung cơ bản (cốt lõi) đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh; ở “ham muốn vượt bậc” của Người làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Ham muốn ấy của Người chỉ có thể thực hiện được trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ngày gửi: 23/02/2008 - 14:34
Quan điểm toàn diện là cách đánh giá sự vật hiện tượng (Tự nhiên, xã hội, con người...) một cách bao quát nhiều mặt, nhiều khía cạnh...để dẫn đến quyết định đúng.

Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ:

"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta".

Như thế, việc quán triệt quan điểm toàn diện là tất yếu. Trong quá trình xây dựng CNXH chúng ta không thể quá coi trọng vấn đề này mà đặt nhẹ vấn đề khác, phát triển mảng này mà bỏ mặc mảng kia... Quan tâm đến tất cả các vấn đề khía cạnh của xã hội tạo ra một tầm nhìn rộng lớn, mỗi khía cạnh đều có mối quan hệ tương hộ lẫn nhau. Cũng như khi đào tạo và rèn luyện cán bộ, dựa trên quan điểm toàn diện thì phải rèn luyện cả về đức, trí, lao động, thể, mỹ... Phải tạo ra những con người có lối sống lành mạnh, giản dị, phong cách làm việc khoa học, trung thực, hết lòng vì nước, vì dân. Cán bộ phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lấy đạo đức cách mạng làm nền tảng, phải lấy chữ liêm làm đầu nhất là những người làm trong công sở...

Về Quan điểm phát triển chúng ta quán triệt quan điểm này vì: Chúng ta cần phải hiểu chủ nghĩa Mác theo điểm lịch sử ở chỗ chủ nghĩa Mác sinh ra thời điểm nào, điều kiện nào và hoàn cảnh kinh tế xã hội thời đó. Mặt khác chúng ta cần có quan điểm phát triển để cập nhật chủ nghĩa Mác Lênin, bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin luôn được vận dụng sáng tạo và phát triển không ngừng, nhất là ở Việt Nam và Trung Quốc thành công, làm thêm kho tàng lý luận Mác –Lênin phong phú và giữ nguyên giá trị bền vững.

Cuối cùng quan điểm lịch sử cụ thể : quan điểm chính là việc áp dụng các hình thức, phương pháp tiến hành cách mạng sát hợp với điều kiện từng nơi, từng lúc. Một hình thức, phương pháp thích hợp với nơi này, lúc này thì đối với nơi khác, lúc khác có thể không còn thích hợp nữa. Vì vậy, đòi hỏi phải luôn luôn tìm tòi, đổi mới, tránh rập khuôn, sao chép hay tuyệt đối hoá một hình thức, một phương pháp nhất định nào đó. Lênin nói: Chủ nghĩa Mác tuyệt đối đòi hỏi phải xét vấn đề hình thức đấu tranh về mặt lịch sử của nó. Đặt vấn đề đó ra mà không hề dựa vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, tức là không hiểu gì về chủ nghĩa duy vật biện chứng cả.

Tốt nhất lần sau bạn nên tự đi tìm hiểu thì hay hơn vì bạn hỏi như thế này bạn sẽ ko hiểu lắm đâu!

Mời bạn ghé thăm: Thờ Trang Trẻ Em
Ngày gửi: 23/02/2008 - 14:59
Lời cảm ơn 3 điểm
Cảm ơn câu trả lời của lephuongtv.
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(8 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn