Vụ lừa đảo nghiêm trọng ở Hải Phòng

Tôi tên là: Đỗ Văn Đại- Sinh năm :1956
Đăng ký HKTT: số 14/17 Lê Lợi-phường Máy Tơ-quận Ngô Quyền-HP
Tôi viết bài này để trình bày 1 việc như sau,mong mọi người giúp đỡ và lấy làm kinh nghiệm.
Do chỗ quen biết với anh Phạm Tuấn Minh-sinh năm 1978
Số CMND:031436021.Trú quán tại địa chỉ:12/46 Đà Nẵng-Lạc Viên-Ngô Quyền-Hải Phòng.
Ngày 20-6-2009,anh Minh(là người bán vật liệu xây dựng có cửa hàng vật liệu Minh Hòa tại Máy Chai-Ngô Quyền-HP) và vợ là chị Phạm Thị Hảo(sinh năm 1983-quê tại xã Xuân Phong-huyện Xuân Trường-Nam Định) đến hỏi vay tôi số tiền :230 000 000 đồng(Hai trăm ba mươi triệu đồng chẵn).Với lý do để anh lấy vốn kinh doanh vật liệu xây dựng và anh Minh hứa trong vòng 3 thang sẽ trả ngay(và có thể trả bât cứ khi nào chú Đại cần).Do xuất phát từ tình cảm hàng xóm,biết anh Minh có cửa hàng buôn bán vật liệu thật nên vợ chồng tôi tin tưởng cho vay số tiền trên không lấy lãi và anh Minh có gửi cho vợ chồng tôi một giấy mua bán nhà (địa chỉ:12/46 Đà Nẵng- Lạc Viên-Ngô Quyền-HP) để làm tin.
Sau đó hồi 15h ngày 21-7-2009,anh Minh có đến nhà tôi xin lại giấy mua bán nhà trên (lý do là cho cháu mượn có chút việc rồi sẽ trả lại ngay và hứa nếukhoong trả lại sẽ chịu trách nhiệm trước chú Đại và pháp luật.)
Đến ngày 25-7-2009,vợ chồng toi có ý định sẽ động thổ làm nhà vào ngày 31-7 nên có gọi điện báo cho anh Minh để chuẩn bị số tiền trên trả cho vợ chồng tôi thì tất cả số điện thoại anh Minh cho đều không liên lạc được,vợ chồng tôi đến của hàng thì được biết vợ chồng anh Minh đã bỏ trốn vì vỡ nợ.
Mọi người hãy giúp tôi,tôi sẽ đăng ảnh tên Minh để mọi người cùng cảnh giác,và giúp tôi thoát khỏi việc này.
 |  Xem: 1.525  |  Trả lời: 1
Ngày gửi: 12/09/2009 - 11:22  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (1)

Bạn phải nêu rõ nội dung của các hợp đồng vay tiền: mục đích vay, tài sản thế chấp, số tiền vay, lãi suất, hạn thanh toán, có phù hợp với Bộ luật dân sự không? Có đem tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, nhiều lần không??? So sánh đối chiếu với các dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Đ 139, Đ 140 BLHS) (thủ đoạn gian dối, hành vi chiếm đoạt...). Nói chung phải có hồ sơ rõ ràng mới "phán" được hướng giải quyết theo tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự. Còn việc hình sự hóa quan hệ dân sự vẫn còn xảy ra khi các chủ nợ hay dùng chiêu nhờ công an đòi nợ chứ không khởi kiện ra tòa dân sự. Việc này nay đã ít gặp, nhưng chưa hẳn đã hết hãy liệu phòng tránh.

Bạn nên nhờ luật sư giúp. Luật sư sẽ đưa ra các phương án tốt nhất để giải quyết vụ việc này. Nếu cần mời bạn đến Văn phòng Luật sư Khánh Hưng (Đoàn Luật sư thành phố hà Nội) Địa chỉ 19 Tràng Thi quận Hoàn Kiếm Hà Nội . Tất nhiên phải trả thù lao cho luật sư. Đêm qua mình có nói qua về việc bạn cần trao đổi. Còn cụ thể phải có hồ sơ. Phải có thờì gian nghiên cứu.

Trao đổi thêm với bạn để tự so sánh, phân biệt nhé:
Đối với tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Điều 139 quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…thì bị phạt…”. Trong lời văn của điều luật này có hai điểm chưa rõ ràng là “thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản”. Vì thế, để áp dụng chính xác Điều 139 thì hai điểm chưa rõ ràng này cần phải được giải thích. Tương tự như thế đối với tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 140). So với Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự hiện hành đã mô tả các hành vi khách quan của tội phạm này chứ không quy định chung chung là “lạm dụng tín nhiệm”. Tuy nhiên, điều luật này vẫn chưa làm sáng tỏ nội dung của hành vi “chiếm đoạt”. Bởi vì, không phải cứ hành vi không trả nợ hoặc không trả được nợ nào cũng là “chiếm đoạt”. Để việc áp dụng thống nhất và việc định tội tại hai điều luật này được chính xác, tránh “hình sự hoá” làm oan người vô tội, cần thiết phải có một Thông tư liên tịch (TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an) giải thích về vấn đề này. Trong Thông tư phải làm rõ: 1) Thế nào là hành vi chiếm đoạt (biểu hiện); 2) Cách chứng minh ý thức chiếm đoạt; 3) Các trường hợp nhầm lẫn với vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tuy nhiên, ngay cả khi quy phạm pháp luật đã rõ ràng, việc đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng về tính chất pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật trong các giao dịch cũng có thể thiếu chính xác. Ở đây chúng tôi không bàn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng do tiêu cực mà cố tình đánh giá sai tính chất pháp lý của hành vi bị “hình sự hoá” mà chỉ muốn bàn đến trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng do nhận thức sai bản chất của hành vi “chiếm đoạt” nên đã làm oan người vô tội. Trong thực tế có nhiều quan điểm cho rằng nếu hết hạn nêu trong hợp đồng mà bên có nghĩa vụ không thanh toán được nợ thì bị xem là “chiếm đoạt”. Quan điểm này hết sức sai lầm và không có căn cứ pháp lý, bởi vì nếu theo cách hiểu này thì tất cả các bị đơn trong các quan hệ dân sự, kinh tế đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hai tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, việc chứng minh “ý thức chiếm đoạt” của người phạm tội là hết sức quan trọng vì đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của hai tội danh này. Vì đây là dấu hiệu chủ quan cho nên nó phải được đánh giá thông qua những biểu hiện của hành vi khách quan. Khi không có cái nhìn toàn diện về những biểu hiện của hành vi khách quan, các cơ quan tiến hành tố tụng rất dễ đánh giá sai bản chất pháp lý của hành vi vi phạm. Thông thường, người vi phạm bao giờ cũng che giấu ý thức và mục đích “chiếm đoạt”. Việc đánh giá hành vi nào có ý thức và mục “chiếm đoạt” nhưng bị che giấu và hành vi không có ý thức và mục “chiếm đoạt” trong nhiều trường hợp thật không dễ. Theo chúng tôi, để chứng minh được ý thức và mục “chiếm đoạt”, chúng ta có thể giải quyết mấy vấn đề sau (qua những biểu hiện của hành vi khách quan):
+ Người vi phạm có cố ý không thực hiện nghĩa vụ trả nợ không? Có ý định này trước hay sau khi thực hiện giao dịch?
+ Người vi phạm có dịch chuyển quyền sở hữu tài sản trái pháp luật không?
+ Người vi phạm có mất hẳn quyền sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp tài sản của mình không?
+ Người vi phạm có chiếm giữ, sử dụng trái phép, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác như của mình không?
Để chứng minh được những vấn đề trên, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể lưu ý những nội dung sau:
1) Mục đích của việc vay ghi trong hợp đồng và sử dụng thực tế tài sản vay (hợp pháp hay không hợp pháp);
2) Lý do không trả được nợ (do khách quan hay chủ quan, có chính đáng hay không);
3) Trường hợp người vi phạm bỏ trốn thì phải xác định thái độ chủ quan là bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hay sợ bị cưỡng bức, dùng vũ lực…
4) Người vi phạm còn khả năng thanh toán nợ không?
Chỉ khi xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ án và giải quyết đúng đắn những vấn đề trên thì chúng ta mới có đủ cơ sở kết luận người vi phạm có ý thức và mục đích “chiếm đoạt” và hành vi của họ mới có dấu hiệu phạm tội. Trong mọi trường hợp, dù người có hành vi vi phạm không trả được nợ nhưng đó là do khách quan mà chính họ không thể khắc phục được thì không thể kết luận là họ có ý định “chiếm đọat”. Trong trường hợp không chứng minh được sự hiện diện của “chiếm đọat” trong thái độ chủ quan của người vi phạm thì việc khởi tố, điều tra, truy tố… người này có thể được xem là hành vi “hình sự hoá”.
Ngày gửi: 12/09/2009 - 17:18
Lời cảm ơn 3 điểm
Cảm ơn câu trả lời của cogaidentuhomqua.
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn
cucreHCM_