Cho em hỏi về các phương pháp thụ tinh nhân tạo ở ngưởi ?

Em muốn biết rõ về cách thực hiện các phương pháp đó.xin các bạn tư vấn

 |  Xem: 6.590  |  Trả lời: 5
Ngày gửi: 18/11/2011 - 18:55  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (5)

Chuyên gia

Bạn thân mến!

Hiện nay, có rất nhiều biện pháp điều trị hiếm muộn thích hợp với từng nguyên nhân gây hiếm muộn. Các phương pháp điều trị này có thể là:

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

IVF là phương pháp cho tinh trùng và trứng gặp nhau và thụ tinh bên ngoài cơ thể tạo thành phôi, phôi sau đó sẽ được chuyển vào buồng tử cung. IVF được sử dụng cho các trường hợp sau:

-  Tắc vòi trứng

-  Lạc nội mạc tử cung

-  Hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân

-  Tinh trùng yếu, ít, dị dạng

-  Rối loạn rụng trứng

Quy trình thực hiện gồm có 4 bước chính: kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, thụ tinh giữa trứng và tinh trùng và chuyển phôi

Trữ phôi

Hơn 50% bệnh nhân điều trị với phương pháp IVF có dư phôi và những phôi này sẽ được trữ lạnh. Ưu điểm của chuyển phôi trữ là chi phí rất thấp và an toàn cho bệnh nhân do không cần kích thích buồng trứng và chọc hút trứng

Hỗ trợ phôi thoát màng

Hỗ trợ phôi thoát màng là một thủ thuật trong phòng thí nghiệm giúp đỡ phôi thoát ra khỏi vỏ bao để có thể bám vào nội mạc tử cung, sau đó làm tổ và phát triển thành thai. Thủ thuật này được chứng minh là một thủ thuật an toàn và có khả năng làm tỉ lệ có thai khi thực hiện IVF tăng thểm khoảng 7%. Kỹ thuật này được thực hiện cho các trường hợp sau:

-  Lớn tuổi

-  Ít trứng

-  Thất bai IVF nhiều lần

-  Chuyển phôi trữ lạnh

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)

IUI là phương pháp đưa một thể tích nhỏ tinh trùng đã được lọc rửa vào buồng tử cung gần thời điểm rụng trứng. IUI thường được chỉ định cho các trường hợp như

-  Tinh trùng ít

-  Bất thường về xuất tinh (xuất tinh ngược dòng, xuất tinh sớm, chấn thương tủy sống)

-  Xin tinh trùng

-  Rối loạn rụng trứng

Chẩn đoán di truyền trước khi phôi làm tổ (PGD)

PGD được sử dụng để đánh giá những bất thường gen của phôi trước khi cấy vào tử cung và làm tổ niêm mạc tử cung. Các cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bất thường về di truyền sẽ được áp dụng PGD để chọn lọc các phôi trước khi phôi làm tổ vào tử cung. Như vậy, các phôi bất thường về di truyền có thể được phát hiện và loại bỏ sớm hơn.

Trữ tinh trùng

Trữ  lạnh tinh trùng là một cách dự trữ tinh trùng để sử dụng trong tương lai. Phương pháp này được thực hiện cho những đàn ông có thể sử dụng một số loại thuốc hay tia xạ mà có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng. Phương pháp này cũng được sử dụng khi người chồng không có mặt được ngày chọc hút trứng.

Xin trứng

TTTON – xin trứng là một kỹ thuật mang tính nhân đạo, thể hiện sự tương thân, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng. TTTON- xin trứng là một kỹ thuật điều trị hiệu quả cho những phụ nữ buồng trứng không còn hoạt động hoặc suy giảm chức năng.  Phương pháp này thực hiện cho các trường hợp suy buồng trứng sớm, phụ nữ lớn tuổi tuổi tiền mãn kinh, thất bại với IVF nhiều lần……

Xin tinh trùng

Xin tinh trùng được chỉ định khi không tinh trùng do bất thường về di truyền, hóa trị hoặc xạ trị. Xin tinh trùng cũng là hướng điều trị của những người phụ nữ độc thân muốn có con. Ở tại hầu hết các trung tâm khi một cặp vợ chồng hay phụ nữ độc thân muốn xin tinh trùng thì họ phải vận động người cho tinh trùng vào ngân hàng, sau đó sẽ được tráo với một mẫu tinh trùng của người khác

Nuôi trưởng thành noãn (IVM)

IVM là một cải tiến của thụ tinh trong ống nghiệm, an toàn hơn, thuận tiện hơn, chi phí thấp hơn và có tỷ lệ thành công cao.

Theo phác đồ TTTON lâu nay là phải kích thích buồng trứng mới thực hiện được. Tuy nhiên, việc kích thích này dễ gây ra những biến chứng nguy hiểm, đặc biệt ở những người mắc hội chứng đa nang buồng trứng. Hơn nữa, lượng thuốc sử dụng để kích thích đã chiếm từ 60 - 70% giá thành điều trị vô sinh; thời gian điều trị cũng phải mất từ 2 - 4 tuần...

"Kỹ thuật này là quá trình nuôi trưởng thành trứng người bên ngoài cơ thể từ giai đoạn túi mầm đến giai đoạn đầu kỳ giữa. Sau đó, trứng giai đoạn đầu kỳ giữa sẽ được thụ tinh và phát triển thành phôi như bình thường”

Do đó, IMV là một cải tiến của TTTON cổ điển về quy trình thu nhận noãn, thay vì phải dùng rất nhiều nội tiết tố để kích thích nang noãn phát triển, ta có thể thu nhận noãn trực tiếp từ các nang noãn nhỏ có sẵn trong buồng trứng mà không cần dùng thuốc nội tiết kích thích. Kỹ thuật này được báo cáo thành công trên thế giới vào năm 1994..."

Phác đồ TTTON kết hợp IVM có lợi điểm là không dùng thuốc kích thích buồng trứng hoặc ít sử dụng. Đồng thời, bệnh nhân cũng mất ít thời gian để đến bệnh viện tiêm thuốc, siêu âm, xét nghiệm. Nhờ vậy, chi phí của phác đồ này thấp hơn, nguy cơ quá kích buồng trứng được loại trừ, giảm tỷ lệ biến chứng cho bệnh nhân.

Hiện nay, chi phí thực hiện TTTON tại Việt Nam thuộc loại thấp nhất trên thế giới, nếu dùng phương pháp cổ điển (IVF)  là 50 triệu đồng nhưng nếu áp dụng kỹ thuật IVM chỉ mất 25 triệu đồng. Ưu điểm nổi bật của IVM là an toàn cho bệnh nhân, loại trừ nguy cơ hội chứng quá kích buồng trứng và các tác dụng phụ khác của kích thích buồng trứng. 

Ngoài ra, kỹ thuật IVM rút ngắn thời gian điều trị. Nếu như phác đồ TTTON bình thường kéo dài từ hơn 2 - 4 tuần thì quy trình IVM kéo dài chưa đến 1 tuần; bệnh nhân chỉ tiêm 4 mũi thuốc thay vì 20 - 40 mũi. Tỉ lệ thành công của TTTON theo kỹ thuật mới này là 35%. Hiện đã có nhiều trường hợp thất bại trong điều trị TTTON truyền thống nhưng đã thành công khi đến với kỹ thuật mới này.

"Các trường hợp Hội chứng buồng trứng đa nang là đối tượng phù hợp nhất của IVM. Ở những bệnh nhân này, khi thực hiện TTTON cổ điển với phác đồ kích thích buồng trứng tiêu chuẩn, tỉ lệ bị hội chứng quá kích buồng trứng là rất cao. Ngược lại, một số trường hợp khác lại không đáp ứng với kích thích buồng trứng. Trong khi đó, số nang noãn có sẵn ở hai buồng trứng là rất nhiều và có thể lấy được nhiều nang noãn mà không cần kích thích buồng trứng.

Các bạn có thể gọi đến Tổng đài Tư vấn AZ 1900.6899 hoặc nhắn tin theo cấu trúc AZH câu hỏi của bạn rồi gửi đến 8785 khi gặp bất kỳ vấn đề gì về sức khỏe và y tế! 

Ngày gửi: 18/11/2011 - 18:56
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
BS Hồ Mạnh Tường

Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies) là những kỹ thuật Y Sinh học được áp dụng để điều trị vô sinh. Từ khi phương pháp Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) thành công năm 1978 ở Anh, khái niệm các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hình thành và phát triển rất mạnh trên toàn thế giới. Ở các nước phát triển, hiện có khoảng 1-5% số em bé sinh ra hiện nay là từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (không kể thụ tinh nhân tạo). Người ta ước tính có trên nửa triệu chu kỳ hỗ trợ sinh sản được thực hiện mỗi năm trên toàn thế giới. Trên thế giới đã có hàng triệu em bé ra đời từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tại Việt Nam, con số này có thể đạt đến 1000 vào năm nay và hiện nay có khoảng 250 em bé ra đời mỗi năm từ các kỹ thuật TTTON.

Theo phân tích của nhiều trung tâm, thụ tinh nhân tạo (hay IUI) không xếp vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART). Người ta định nghĩa rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bao gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh, trong đó, có chọc hút trứng và đem trứng ra bên ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện các kỹ thuật điều trị vô sinh vừa mới phát triển, để đơn giản và dễ hiểu trong việc sử dụng thuật ngữ, chúng tôi đề nghị nhập kỹ thuật thụ tinh nhân tạo vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Thụ tinh nhân tạo (artificial insemination)

Thụ tinh nhân tạo (TTNT) là một trong những kỹ thuật điều trị vô sinh phổ biến nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Hiện nay, hầu hết các trung tâm trên thế giới đều áp dụng kỹ thuật kỹ thuật bơm tinh trùng sau chuẩn bị vào buồng tử cung (IUI) để thực hiện thụ tinh nhân tạo. Do đó, khi nói đến TTNT, có thể hiểu là IUI với tinh trùng đã chuẩn bị. Một số kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay không còn hoặc ít được sử dụng như bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào cổ tử cung, bơm môi trường chứa tinh trùng vào đến vòi trứng và ổ bụng.

Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (IVF/ET)

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) có nghĩa là cho trứng và tinh trùng kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm (thay vì trong vòi trứng người phụ nữ). Sau đó, phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vào buồng tử cung. Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung người mẹ. Tỉ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị IVF/ET trung bình trên thế giới hiện nay khoảng 25%. Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và phác đồ điều trị của từng trung tâm.

Một số kỹ thuật phát sinh từ TTTON

Chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT), chuyển hợp tử vào vòi trứng (ZIFT) chuyển phôi vào vòi trứng (TET). Các kỹ thuật này chỉ có thể thực hiện cho những trường hợp có ít nhất một vòi trứng hoàn toàn bình thường về mặt giải phẫu và chức năng. Kỹ thuật chuyển giao tử hoặc phôi vào vòi trứng phải được thực hiện qua phẫu thuật nội soi ổ bụng. Tỉ lệt thành công của các kỹ thuật này nói chung không cao hơn kỹ thuật TTTON, trong khi đó chi phí cao hơn, cần nhiều trang bị phức tạp hơn, tỉ lệ tai biến cao hơn và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng cao hơn. Do đó, các kỹ thuật này hiện chỉ được áp dụng rất ít, chủ yếu vì lý do tín ngưỡng.

Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (Intracytoplasmic Sperm Injection)
Kỹ thuật được ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỉ lệ thụ tinh thấp hoặc không thụ tinh khi thực hiện TTTON do bất thường quá trình thụ tinh hay chất lượng tinh trùng thấp. Với kỹ thuật này, người ta có thể tạo một hợp tử hoàn chỉnh bằng một trứng và một tinh trùng duy nhất. Đây được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới.

ICSI hiện nay đã chiếm khoảng 50% các chu kỳ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và là một kỹ thuật không thể thiếu ở một trung tâm HTSS. Kỹ thuật này có thể cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn, làm số phôi có được nhiều hơn, nhiều khả năng chọn lọc được phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung. Kỹ thuật ICSI hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tươi hoặc sau trữ lạnh; tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh và tinh hoàn.

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với sự tham gia của “người thứ ba”
Các kỹ thuật điều trị trên cũng dựa trên cơ sở kỹ thuật của các KTHTSS đã trình bày. Tuy nhiên, do tính chất của bệnh lý vô sinh, để điều trị, cần có sự hỗ trợ về sinh học của người thứ ba. Đây là những kỹ thuật điều trị có liên quan nhiều đến các vấn đề y học, pháp lý, nhân đạo và quan niệm đạo đức xã hội.

Các kỹ thuật này bao gồm:

- Xin tinh trùng: kỹ thuật này để điều trị cho các trường hợp vô sinh nam hoàn toàn không có tinh trùng.
- Xin trứng: kỹ thuật này áp dụng cho những trường hợp người vợ bị cắt buồng trứng, buồng trứng bị suy yếu. Trứng xin từ người thứ ba có thể để thực hiện TTTON hoặc ICSI với tinh trùng chồng sau đó chuyển phôi lại vào tử cung người vợ.
- Xin phôi: phôi dư từ các cặp vợ chồng làm TTTON sau khi đã thành công, có đủ con, được tự nguyện hiến lại cho ngân hàng phôi. Phôi được chuyển vào tử cung người xin.
- Mang thai hộ: kỹ thuật này thường được áp dụng cho những trường hợp người phụ nữ có buồng trứng bình thường nhưng đã bị cắt tử cung hoặc bị bệnh lý nội khoa nặng (Ví dụ: bệnh tim) khiến việc mang thai có thể nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và con. Tinh trùng chồng và trứng người vợ được cho TTTON. Sau đó phôi được chuyển vào tử cung người mang thai hộ.

Sự phát triển rất nhanh của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã đặt cho chúng ta một vấn đề lớn về quản lý. Ngoài việc chọn các chỉ định thích hợp và đánh giá mặt lợi hại của từng kỹ thuật, chúng ta cần đảm bảo về mặt y đức của các kỹ thuật trên để đảm bảo chúng phục vụ tốt cho việc điều trị vô sinh và tránh việc lạm dụng các kỹ thuật điều trị.

Tài liệu tham khảo:
- IFFS International Consensus. Executive Committee of IFFS (2001): 2-13
Thụ tinh nhân tạo. Nhà xuất bản Y học (2002): 1-12

Ngày gửi: 19/11/2011 - 08:51

THỤ TINH NHÂN TẠO

Việc thụ tinh nhân tạo có hai phương pháp:

1. Cấy tinh nhân tạo: là đưa tinh trùng người nam vào cơ phận của người nữ để có thể thụ thai.

2. Thụ tinh trong ống nghiệm qua các giai đoạn sau đây:

- Lấy trứng trong buồng trứng người phụ nữ đúng lúc, đồng thời lấy tinh trùng của người nam,

- Cho hai nhân tố phối hợp thành phôi thai đầu tiên để cho phát triển thành một số tế bào (khoảng từ 35 đến 60 giờ),

- Cấy phôi thai vào trong tử cung phụ nữ. Đây là giai đoạn khó khăn nhất vì chỉ khoảng 20% trường hợp cấy vào màng tử cung thành công và phôi thai không bị đào thải ra bên ngoài.

Cả hai trường hợp cấy tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm có thể được thực hiện trong vòng vợ chồng hay với tinh trùng hoặc trứng của một người thứ ba.

Lập trường của Giáo Hội về thụ tinh nhân tạo

- Việc cấy tinh nhân tạo cũng như việc thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng hoặc trứng của người thứ ba là trái ngược với tính cách một vợ một chồng của hôn nhân. Nó đi ngược phẩm giá của đôi vợ chồng và với ơn gọi riêng của bậc làm cha mẹ. Hơn nữa đứa con phải được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân.

- Việc cấy tinh nhân tạo thuộc phạm vi hôn nhân: Huấn thị ngày 27/02/1987 của Bộ Giáo lý Đức Tin viết: sự cấy tinh nhân tạo trong phạm vi vợ chồng, nghĩa là trong khuôn khổ hôn nhân không có nhân tố của người thứ ba, chỉ có thể chấp nhận được khi phương pháp kỹ thuật không thay thế cho tác động vợ chồng, nhưng chỉ giúp cho tác động này đạt được mục đích dễ dàng hơn.

- Việc thụ tinh trong ống nghiệm thuộc phạm vi hôn nhân: theo giáo lý truyền thống về hôn nhân và về phẩm giá của con người, Giáo Hội tiếp tục chống lại phương thức thụ tinh trong ống nghiệm vì đây là điều không phù hợp với phẩm giá của việc truyền sinh và sự kết hiệp giữa hai vợ chồng, kể cả khi phương pháp này cố gắng làm cho các phôi thai khỏi phải chết.

Đôi vợ chồng son sẻ mong ước có con, đó là một ước muốn rất hợp lý và hợp pháp. Tuy nhiên việc thụ tinh trong ống nghiệm bao hàm việc huỷ hoại nhiều phôi thai người. Người ta phải cho nhiều trứng và tinh trùng phối hợp với nhau rồi chọn một trứng đã thụ tinh tốt để cấy vào cơ phận người mẹ. Các phôi thai còn lại thường bị huỷ đi và đây là hình thức phá thai xâm phạm tới sinh mạng của những người vô tội đang ở trạng thái thành hình.

Hơn nữa, cho dù không có phôi thai nào bị huỷ đi, thì việc thụ tinh trong ống nghiệm cũng không thể chấp nhận được vì hành động này tách rời hai ý nghĩa căn bản của tác động vợ chồng. Tác động này có công hiệu nhằm liên kết hai vợ chồng lại, đồng thời làm cho họ có thể sinh sản ra những sự sống mới. Khi dùng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tức là ngoài cơ thể của đôi vợ chồng, người ta “đặt sự sống và căn tính của bào thai vào tay các bác sĩ và những nhà sinh học, và như vậy là thiết lập quyền thống trị của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận con người. Liên hệ thống trị này tự nó nghịch với phẩm giá con người và sự bình đẳng phải có giữa cha mẹ và con cái” (Huấn thị “Donum vitae” 2, 5).

“Xét về luân lý, việc sinh sản sẽ mất đi sự tuyệt hảo riêng của nó khi không còn là hoa trái của hành vi phu thê, nghĩa là hành vi đặc loại của sự phối hợp vợ chồng (...). Chỉ sự tôn trọng mối liên lạc giữa những ý nghĩa của hành vi phu thê và sự tôn trọng tính hiệp nhất của con người mới bảo đảm được một sự sinh sản phù hợp với nhân phẩm con người” (Huấn thị “Donum vitae” 2, 4).

Kết luận:

Sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, mà vẫn phải chịu đựng nỗi đau khổ vì vô sinh, Giáo hội mời gọi những cặp vợ chồng này liên kết với thập giá Đức Kitô, là nguồn mạch mọi phong phú thiêng liên. Họ có thể sống quảng đại bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi, hoặc tham gia những công tác phục vụ tha nhân (x. GLHT, số 13783-1379).

Ngày gửi: 19/11/2011 - 08:55

Phương pháp thụ tinh nhân tạo với nhiều triển vọng mới

Bệnh viện Bạch Mai

Tạo bào thai thành công bằng cách nhẹ nhàng tác động lên phôi trước khi cấy vào tử cung. Các nhà khoa học nói biết họ có thể kiểm soát được khả năng tạo bào thai thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm trên chuột bằng cách nhẹ nhàng tác động lên phôi trước khi cấy vào tử cung.

thu_tinh.jpg

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Michigan (Mỹ) cho biết: "Chỉ bằng tác động đơn giản như vậy, chúng ta sẽ có được những tế bào tốt hơn, đây là chìa khóa để có được ca thụ tinh trong ống nghiệm thành công".

Ý tưởng của nghiên cứu này là bắt chước hành trình theo tự nhiên của phôi khi di chuyển từ ống dẫn trứng đến dạ con. Phôi thai của con người được tạo ra với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo sẽ không được trải nghiệm hành trình này mà cấy trực tiếp vào tử cung.

Nhóm nghiên cứu cho rằng, phôi của chuột được tác động sẽ khỏe mạnh hơn sau 4 ngày và số lượng tế bào nhiều hơn so với những phôi lớn lên chỉ trong các khay nuôi cấy.

Khoảng 77% tạo thành bào thai thành công khi cấy vào cơ thể chuột cái, so với chỉ 55% phôi tạo bào thai thành công nếu chỉ được nuôi cấy đơn thuần rồi cấy trực tiếp vào tử cung chuột.

Các nhà nghiên cứu cho biết họ sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu này trên người.

Theo Thanh niên

Ngày gửi: 19/11/2011 - 09:00

Thêm một địa chỉ thụ tinh nhân tạo ở Việt Nam

Kể từ hôm nay (26/4), các cặp vợ chồng vô sinh ngoài BV Phụ sản Từ Dũ TP.HCM và Viện Bảo vệ Bà mẹ & Trẻ sơ sinh còn có thể đến điều trị ở một cơ sở mới: Trung tâm Công nghệ phôi Học viện Quân y. Dưới đây là trao đổi của Giám đốc Trung tâm, GS.TSKH Trần Văn Hanh về sự khác biệt của cơ sở này với 2 cơ sở trước.

Trung tâm Công nghệ phôi vừa chính thức khai trương ngày 25/4, là một toà nhà riêng biệt xây trên khu đất 1.000m2 của Học viện Quân y (HVQY), được trang bị các thiết bị đồng bộ, hiện đại giúp thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ đơn giản đến phức tạp nhất là lọc rửa, lưu trữ tinh trùng và noãn, thụ tinh trong ống nghiệm. Ưu điểm Trung tâm là luôn sẵn tinh trùng chất lượng tốt. Chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật chọc hút mào tinh hoàn để gom tinh trùng, lại có nhiều bình trữ đạt tiêu chuẩn quốc tế đủ khả năng lưu cùng lúc hàng nghìn mẫu.

Theo gợi ý của Bộ trưởng Bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến, trong tương lai chúng tôi nên thành lập ngân hàng tinh trùng, nơi lưu trữ cả noãn và phôi người phục vụ nhu cầu chính đáng của các cặp vợ chồng vô sinh cả nước.

Một điểm đặc biệt khác so với hai khoa hỗ trợ sinh sản ở BV Từ Dũ TP.HCM và Viện Bảo vệ Bà mẹ & Trẻ sơ sinh (Hà Nội) là ngoài chức năng điều trị với các dịch vụ khám, tư vấn, chữa vô sinh, tạo phôi trong ống nghiệm, chẩn đoán sớm dị tật bẩm sinh... Trung tâm Công nghệ phôi còn là cơ sở đào tạo ĐH và sau ĐH chuyên ngành Phôi thai học thực nghiệm, Phôi thai học lâm sàng và Sản khoa. Tại đây, ngoài sự đóng góp thường xuyên của 20 y, bác sĩ, còn có sự hỗ trợ của hàng trăm cán bộ nhiều chuyên ngành liên quan của HVQY như sản phụ khoa, nội tiết tố, cùng hoạt động hợp tác của nhiều nhà khoa học chuyên ngành mô học và phôi thai trên cả nước.

Như vậy, Trung tâm Công nghệ phôi HVQY sẽ là nơi các nhà chuyên môn trao đổi thông tin, kinh nghiệm (thậm chí cả trang thiết bị); chất lượng và hiệu quả điều trị nhờ vậy sẽ ngày một nâng cao.

Giáo sư vừa nhắc đến một ngân hàng tinh trùng, noãn và phôi sẽ được thành lập tại Trung tâm Công nghệ Phôi HVQY. Các cặp vợ chồng vô sinh sẽ được lợi gì từ kho lưu trữ này?

Trong 3 năm vừa xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, vừa bước đầu điều trị vô sinh (từ năm 2000), chúng tôi đã khám, tư vấn cho 978 cặp vợ chồng, thực hiện thụ tinh nhân tạo 223 chu kỳ; 25 chu kỳ trong số này cho kết quả có thai (chiếm tỷ lệ 10%). Sau 2 đợt thụ tinh trong ống nghiệm đã có 2 cháu ra đời tháng 2/2002; 8 cháu khác sẽ chào đời vào khoảng tháng 8, 9 năm nay. Tổng cộng, đã có 20 cháu ra đời tại Trung tâm Công nghệ Phôi HVQY nhờ phương pháp hỗ trợ sinh sản với sự trợ giúp của kho tinh trùng.

Đến thời điểm hiện tại, kho đang lưu giữ 200 mẫu tinh trùng chất lượng tốt phục vụ các cặp vợ chồng có nhu cầu. Đây đều là tinh trùng của những người đủ tiêu chuẩn (đã có 1 con, dáng vóc khoẻ, có học vấn) tự nguyện hiến cho Trung tâm.

Trong tương lai, ngân hàng tinh trùng của Trung tâm Công nghệ Phôi HVQY sẽ phục vụ không chỉ các cặp vợ chồng vô sinh (hiện đã lên đến con số trên 1 triệu). Những người sắp qua điều trị đặc biệt, chắc chắn ảnh hưởng khả năng sinh sản (như trị xạ chữa ung thư) có thể gửi tinh trùng, noãn hoặc phôi của mình vào đây. Đây sẽ là loại tinh trùng, noãn, phôi hữu danh, thuộc quyền sử dụng của riêng một cá nhân khi có nhu cầu. Các loại tinh trùng khác, được gọi là vô danh, lưu trữ theo nguyên tắc tự nguyện, 1 người cho 1 người để tránh tình trạng anh em kết hôn lầm theo quy định của luật pháp.

Để có tinh trùng hỗ trợ sinh sản, các cặp vợ chồng "khó" có tốn kém?

Như tôi đã nói, nhiều người tự nguyện hiến tinh trùng cho chúng tôi, có nghĩa chúng tôi sẽ cấp miễn phí cho người cần. Chi phí cho một ca thụ tinh trong ống nghiệm thường tập trung ở tiền thuốc kích thích rụng trứng. Mỗi ống thuốc này giá 800.000-900.000 đồng. Trung bình một ca thụ tinh trong ống nghiệm sẽ cần chi phí khoảng 20 triệu đồng.

Xin cảm ơn Giáo sư!
  • Quảng Hạnh

Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Ngày gửi: 19/11/2011 - 09:11
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo