Ứng dụng Thông báo Hỗ trợ Đăng ký Đăng nhập
1 thành viên trả lời
dangvinh Trả lời cuối cùng: 06/08/2008
Thành viên tích cực nhất

Kim Dai Kien

4 lượt cảm ơn

Phạm Liên

4 lượt cảm ơn

Hanh Beo

3 lượt cảm ơn

  • Hot
  • Giảm giá
  • Mới

      Các bài thơ của Chế Lan Viên

      Tiểu sử và văn nghiệp
      Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Cam An, Cam Lộ, Quảng Trị.

      Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

      Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn sáng lập ra "Trường Thơ Loạn" được gọi là nhóm "Bàn thành tứ hữu" của Bình Định.

      Năm 1939 ông ra học tại Hà Nội, sau vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942 ông cho ra đời tập văn "Vàng Sao", tập thơ triết luận về đời với mầu sắc siêu hình, huyền bí.

      Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, sau ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh, viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

      Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo "Văn học". Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo "Văn học" (sau là báo "Văn nghệ"). Từ năm 1963 ông là Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V, VI; Ủy viên Ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội.

      Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.

      Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

      Chế Lan Viên là bố của nhà văn Phan Thị Vàng Anh.

      Quan điểm và phong cách sáng tác

      Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ", thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958).

      Trước Cách mạng tháng 8, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "Trường thơ loạn": "kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên, qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.

      Sau Cách mạng, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng", và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống".

      Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài "

      Các bút danh


      Ngoài bút danh Chế Lan Viên nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận "Những bước đường tư tưởng của tôi" của Xuân Diệu, đăng trên báo "Văn học" tháng 9/1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo "Thống Nhất", xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.

      Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo "Văn học", phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập "Vào nghề" và "Nói chuyện văn thơ" của tác giả Chàng Văn.

      Trong mục "Nụ cười xuân" trên báo "Văn học", Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là "Ngô bói Kiều" và "Lý luận Đờ Gôn" ký tên Oah (tức Hoan).


      For Teen Việt Nam: http://14vn.net | Teen
      Gallery | Phim | Music | Game | Softwarez
      Đây là blog của tôi:http://blog.360.yahoo.com/blog-AEhlU8Y1eqhdiYvrNTjvt2BKIuE-?cq=1
      Câu hỏi này hữu ích với bạn? Cảm ơn
      40801
      Trả lời (8)

      Vui lòng đăng nhập ID VATGIA để gửi trả lời của bạn

      Xuân


      Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
      Đem chi xuân lại gợi thêm sầu ?
      Với tôi, tất cả như vô nghĩa
      Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !

      Ai đâu trở lại mùa thu trước
      Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ?
      Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
      Về đây đem chắn nẻo xuân sang !

      Ai biết hồn tôi say mộng ảo
      YÙ thu góp lại cản tình xuân ?
      Có một người nghèo không biết tết
      Mang lì chiếc áo độ thu tàn !

      Có đứa trẻ thơ không biết khóc
      Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran !

      Chao ôi ! mong nhớ ! Ôi mong nhớ !
      Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.
      Đọc thêm
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm

      Trên Đường Về

      Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
      Quay về xem non nước giống dân Hời:
      .........................................................
      .........................................................

      Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi
      Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
      Những sông vắng lê mình trong bóng tối
      Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

      Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn,
      Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
      Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
      Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui !

      Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận
      Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang
      Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận,
      Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.

      Đây, những cảnh thái bình trong Chiêm Quốc
      Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi
      Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp
      Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui

      Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng,
      Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
      Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng,
      Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

      Đây, trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo
      Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà,
      Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo,
      Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.

      Những cảnh ấy Trên Đường Về ta đã gặp
      Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi
      Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập
      Nỗi buồn thương, nhớ tiếc giống dân Hời.
      Đọc thêm
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm

      Đặt tên con


      Các chị mong em trai
      Mẹ sinh con là gái,
      Con nhoẻn miệng con cười
      Cả nhà vui trở lại

      Đặt tên con Vàng Anh
      Giữa mùa mưa bão lớn
      Bột mì trôi vạn tấn
      Đê vỡ quê Thái Bình
      Cuộc đời đang nặng gánh
      Mà tên con nhẹ tênh

      Đặt tên con Vàng Anh
      Nào mẹ cha chẳng nghĩ
      Chờ một ngày thắng Mỹ
      Cây ngọt và trái lành
      Con là chim, con nhỉ
      Trời của con màu xanh.

      (1968)


      Đây là blog của tôi:

      http://blog.360.yahoo.com/blog-AEhlU8Y1eqhdiYvrNTjvt2BKIuE-?cq=1
      Đọc thêm
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm



      Bác



      Là chân lý, Bác chẳng nói nhiều hơn chân lý

      Cả nước nghe khi, im lặng, Bác cười.

      Chẳng phải lật sách nào ra tìm hiểu Bác,

      Bác sống trong ta, Bác ở giữa đời.
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm

      Bác vẫn còn đây



      Chớ để quân thù nghe ta khóc, ơi em

      Vết thương phải thành sẹo ngay đi mà đánh giặc

      Đã đau rồi đừng khóc để đau thêm

      Ta còn cả đời ta mà khóc Bác



      Bom Mỹ nguỵ tranh thủ phút này để tấn công ta

      Pháo đài máu với những bom bảy tấn

      Nguyện thương đau không thành tiếng khóc oà

      Ta đau đấy nhưng giết thù, ta vẫn sẵn



      Ta có nước mắt thương đau nhưng ta còn có lửa thương đau

      Giặc nếm cái chết lúc ta cười, cho chúng nếm thêm ngày ta khóc

      Hễ đau nhiều thì dao chém lại càng sâu

      Xuất kích lớn là giữa ngày tang tóc



      Hai mươi năm trôi phút giây nào Bác không nghĩ đến miền Nam ?

      Miền Nam “máu trong máu” và “thịt trong thịt” Bác
      Đọc thêm
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm

      Búp lộc vừng



      Đền cũ vua xưa , đỏ lộc vừng

      Chồi non lá nhỏ sáng đầu sân

      Ngựa xưa voi cũ hai hàng đá,

      Uy thế còn thua búp lá xuân.
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm



      Cành đào tiểu đội Y



      Thiếu gạo, giao thừa ăn cháo

      Đón xuân, nổ súng chào xuân

      Dọc ngang một nhánh hoa rừng

      Cắm vỏ đạn đồng cao pháo.
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm



      Cầu vồng



      Trời xanh sau lúc khóc

      Nước mắt treo cầu vồng

      Cải mống cầu hy vọng

      Cho tấm lòng đau xong
      . Bình luận này hữu ích với bạn? Cảm ơn

      Báo vi phạm