"Tràng Giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, dọn đường cho tình yêu giang sơn Tổ Quốc"-Xuân Diêu.

Suy nghĩ của em về nhận xét trên

làm giúp em đề văn này với anh chị ơi

 |  Xem: 15.195  |  Trả lời: 2
Ngày gửi: 04/04/2011 - 21:34  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (2)

Lời đề tự “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, là cảm hứng chủ đạo của Huy Cận trong bài thơ “Tràng giang” đã khắc chạm vào thời gian và hồn người hơn nửa thế kỷ qua. “Tràng giang” là bài thơ kiệt tác trong tập thơ “Lửa thiêng” xuất bản năm 1940. Theo tác giả cho biết, vào một buỏi chiều thu năm 1939, khi còn là sinh viên trường Đại học Canh nông, Huy Cận đứng ở bờ nam bến Chèm, ngắm sông Hồng mênh mông lòng dào dạt xúc động mà viết bài thơ này. Đó là những cảm nhận về tràng giang và một nỗi buồn man mác dâng lên lúc hoàng hôn khi nhà thơ lặng ngắm cảnh: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Khổ thơ đầu nói về “sóng gợn”, con thuyền và cành củi khô trôi trên dòng sông:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”.

Tràng giang – sông dài và lớn, như Hoàng Hà, Trường Giang… ở đây là dòng sông Hồng Hà thân yêu, dòng sông “đỏ nặng phù sa”. Sóng gợn lăn tăn, lớp lớp “buồn điệp điệp”, như vỗ vào, thấm sâu vào lòng người bao ám ảnh. Con thuyền nhỏ bé, trôi xuôi dòng, buông mái chèo “nước song song”. Cặp từ láy: “điệp điệp”, “song song” gợi tả một nơi buồn thấm thía, xa vắng và mơ hồ. hình ảnh cành củi khô vừa mang ý nghĩa hiện thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. “Củi một cành khô” nhỏ bé tầm thường, từ rừng xa xôi trôi về đã được đem vào thơ, tạo nên “cái ý vị mới mẻ” của “Thơ mới”. Nó biểu tượng cho một kiếp ngời phù du, bé nhỏ trôi nổi trên dòng đời vô định. Buồn thương thế, biết đi đâu, về đâu?

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành kho lạc mấy dong”

Phép đối được sử dụng sáng tạo, chỉ đối ý, đối hình mà vần thơ vãn cân xứng, hài hoà. Con thuyền và cành củi khô đang cùng trôi nổi trên dòng tràng gian. Huy Cận nói đến nhiều “vạn cổ sầu”, “buồn thiên thu”, ở đây ông lại viết “sầu trăm ngả”. Cả cõi dương và cõi âm? “Sầu trăm ngả” như tỏa rộng và phủ lên những kiếp người đau thương. Các số từ trong 3 vần thơ “sầu trăm ngả”, “củi một cành khô”, “lạc mấy dòng” đã làm thấu cái ám ảnh về kiếp người nhỏ bé, hữu hạn, còn sự đau khổ, sầu thương thi to lớn, vô hạn.

Nỗi buồn vô hạn ấy lại được miêu tả qua một không gian bao la. Cái bé nhỏ tương phản với cái mênh mông, vô cùng. Cồn thì nhỏ bé thưa thớt, buồn bã: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”. Vần lưng “nhỏ - nhỏ”, kết hợp với láy âm “lơ thơ” và “đìu hiu”, âm hưởng câu thơ như trĩu lòng người về mộtnỗi buồn hiu hắt cô quạnh. Nghệ thuật sử dụng từ láy tài ba, gợi lên màu sắc cổ kính, dẫn hồn người đọc về với cổ thi: “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo – Bên Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”(Chinh phụ ngâm). “Lơ thơ tơ liễu buông mành…”(“Truyện Kiều”).

Chợ chiều vốn đã buồn xao xác, vãn chợ chiều thì cái buồn xao xác xa vắng lại được nhân lên nhiều lần. Thế mà giờ đây cái âm thanh xao xác “vãn chợ chiều” từ một làng xa cũng không còn nữa. Từ “đâu” biểu lộ cái ngơ ngác của thi nhân với một nỗi buồn lẻ loi cô quạnh chứa chất trong lòng:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Bầu trời và lòng sông là không gian hai chiều. Trời cao thăm thẳm in xuống lòng sông. Người ta thường nói “cao chót vót”, “sâu thăm thẳm” nhưng Huy Cận lại viết “sâu chót vót” để làm nổi bật hai tiểu đối: “nắng xuống” và “trời lên” kia, cái bao la, mênh mông đều rợn ngợp. Dòng sông thì “dài”, bầu trời thì “rộng”, và bến đò thì “cô liêu” xa vắng:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Song dài, trời rộng, bến cô liêu”

“Tràng giang” là thi phẩm đại diện sáng chói, lung linh nhất của “lửa thiêng”. Nói đến “Tràng giang” là nói đến “Lửa thiêng”. Nói đến “Lửa thiêng” là nói đến nỗi buồn mênh mang, bao trùm không gian và thời gian, dường như ngâm chứa chất “cái lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế!”(Xuân Diệu).

Câu hát “bèo dạt mây trôi” trong dân ca Quan Họ từng gợi lên trong hồn ta nhiều cảm xúc mơ hồ. Khổ thứ ba, huy Cận lấy cánh bèo trôi dạt trên dòng tràng giang làm biểu tượng cho sự hợp tan chia lìa trên dòng đời cua rnhững kiếp người truân chuyên lưu lạc:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Giữa cái bao la trời đất, sông nước hầu như không có một bóng dáng con người. Câu thơ phủ định bằng điệp từ “không” liên tiếp “không một chuyến đò ngang”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”, chỉ có màu “vàng” của bãi tiếp nối với màu “xanh” của bờ vô tận. Cái buồn bà cô đơn của tâm trạng được diễn tả trong một không gian “mênh mông” và “lặng lẽ”.

Khổ thơ cuối nói về khoảnh khắc hoàng hôn. Hoàng hôn trong thơ cổ gắn liền với tình quê, cố hương:

“.. Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta”

(“Qua Đèo Ngang”)

Thôi Hiệu, nhà thơ lỗi lạc đời Đường, đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn khói sóng phủ mờ trên sông Hán Dương buổi hoàng hôn mà lòng thổn thức:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

(Tản Đà dịch)

Huy Cận lựa chọn một số thi liệu đầy chất thơ để diễn tả một tình quê: một cánh chim chiều, lớp lớp núi mây bạc. Không có khói sóng mà vẫn thương nhớ quê nhà da diết:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chìm nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa,

Lòng quê dợn dợn vời non nước,

Không khói hoàng hon cũng nhớ nhà”.

Câu thơ nên hoạ, đầy hình tượng và dạt dào cảm xúc. Hồn Đường như thấm vào câu chữ. Ai đã từng xa quê, trong khoảnh khác hoàng hôn mới thấy hết cái hay (đẹp mà buồn) trong những bài thơ nói về tình quê. Lòng quê: “Song sa vò võ phương trời – Nay hoàng hôn đãlại maii hôn hoàng”(Truyện Kiều)… “kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ - Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn” (“Chiều hôm nhớ nhà”) - Từ cảm nhận ấy, ta như bâng khuâng nhập hồn mình vào “Tràng giang”, lặng lẽ trầm ngâm nhìn theo “vời con nước” mà “nhớ nhà”, nhớ quê hương. Huy Cận không cần có khói sóng mà lòng quê vẫn “dờn dợn”, vẫn “nhớ nhà”. Rõ ràng tình quê trong Huy Cận không cần có khói sóng mà lòng quê vẫn “dờn dợn”, vẫn “nhớ nhà”, nhớ trong Huy Cận cháy bỏng và da diết vô cùng. Nói rằng thơ đích thực nâng đỡ lòng người, khơi gợi những gì đẹp đẽ nhất tiềm ẩn nơi đáy sâu tâm hồn người để vươn tới cái cao cả. Đọc “Tràng giang” ta cảm nhận sâu thêm chân lý nghệ thuật ấy.

“Tràng giang” là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ “Lửa thiêng”. Nó là ngọn lửa thiêng liêng, ngọn lửa vĩnh cửu toả sáng một hồn thơ đẹp. Thi sĩ đã chọn thể thơ thất ngôn với bốn khổ thơ, như một bức hoạ tứ bình tuyệt tác. Một nỗi buồn thấm thía được diễn tả lớp lớp tầng tầng qua những vân thơ mỹ lệ, hàm súc. “Tràng giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Giang sơn Tổ quốc” như Xuân Diệu đã nói. Có “Tràng giang” mới có “Đất nở hoa” và những “Bài thơ cuộc đời” đằm thắm nồng hậu… sau này. Đọc “Tràng giang” ta thêm yêu, thêm nhớ đất trời sông núi quê hương.

Ngày gửi: 15/04/2011 - 10:55
Điểm cao trong luồng thơ tạo vật với tâm tình này chắc hẳn là bài “Tràng giang”; thiên nhiên tạo vật ở đây là đất nươc rồi, đất nước của ta. Bài thơ hầu như trở thành cổ điển, của một nhà “thơ mới”. Vào một cách dõng dạc đàng hoàng, vì đây là “đại giang”, là sông lớn, ví dụ như sông Hồng; là tràng giang; rộng, bao gồm cả trường giang; dài; sầu trăm ngr chứ không phải ít ngả, vì là sông lớn:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Hơi thở cổ điển là đúng, bởi sông lớn là giang san bền bỉ muôn đời. Duy câu thứ tư thì hiện đại; thơ truyền thống của cha ông ta không đưa cái nét hiện thực, thực tế, nôm na, chân thật đến sống sít, là cải một cành trôi đi trên sông.

“lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Tâm lý của thơ trữ tình công khai nói chung trước cách mạng là nói nỗi buồn; Huy Cận cũng muốn làm nổi bật cái “dài”, “rộng” và “cô liêu”, cho nên phủ định, đến cả một chuyến đò ngang, đến cả một chiếc cầu, chỉ có bờ bờ bãi bãi. Và đây là tâm trạng trước cách mạng: “bèo dạt, hoa trôi”, những số kiếp con ngời trôi dạt trên con sông Thời gian:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang,

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Bốn câu kết:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”

điệp điệp, song song, rồi lớp lớp, lại nhắc cái trang nghiêm của hai câu thơ mở đầu, bởi đây là không khí của sự lớn lao. 

“Chim nghiêng cánh nhỏ; bóng chiều sa”.

Ở nửa trên bài: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”, trưa đã ngả sang chiều, nhưng còn nhiều ánh sáng lắm, có vậy mới thấy được thật xa, mênh mông; đoạng cuối bài thì là càng gần về hoàng hôn, con chim đang xoè cánh bay, bóng chiều sa nặng đến nỗi nó phải nghiêng cánh, lệnh cánh: cũng là lúc:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Câu thơ Thôi Hiệu: “Yên ba giang thượng sử nhan sầu” (Tản Đà dịch: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”),do đó. Huy Cận nói cao độ hơn: có khói trên sông, đã đành là nhớ nhà; ở đây nhớ nhà cao độ, không cần phải có khói hoàng hôn mới gợi nhớ - Cả bài thơ thúc lại ở hai câu kết này; cái điệp từ cuối cùng “dờn dợn” nói lòng quê bát ngát mênh mông, sông càng vời rộng, càng nhớ quê hương. “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông, đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Giang sơn, Tổ quốc. (Xuân Diệu)
Ngày gửi: 15/04/2011 - 10:57
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(3 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(3 lượt cảm ơn)
Quảng cáo