Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Và Phân tích đoạn trích “Đất nước” (Trích trường ca Mặt đường khát vọng)

1. Về tác phẩm "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, qua việc theo dõi các năm thì tần suất đê rơi vào 3 đề cụ thể sau:

Đề 1: Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.
Đề 2: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung
Thành.
Đề 3: Phân tích tác phẩm để làm rõ cảm hứng sử thi trong tác phẩm.

2. Tác phẩm "Đất nước" Nguyễn Khoa Điềm

Đề 1: Phân tích đoạn trích “Đất nước” (Trích trường ca Mặt đường khát vọng) của
Nguyễn Khoa Điềm).
Đề 2: Bình giảng:
a) “Và ở đâu … núi sông ta”
b) “Trong anh và em … muôn đời”
Đề 3. So sánh cảm hứng yêu nước trong tác phẩm "Bên kia sông Đuống" và "Đất nước"của Nguyễn Khoa Điềm.
 |  Xem: 190.695  |  Trả lời: 2
Ngày gửi: 08/11/2008 - 17:10  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (2)

Anh cũng sẽ post tiếp phần kiến thức cơ bản về 2 tác phẩm này, để các mem tiện theo dõi và ôn tập.

1. RỪNG XÀ NU:
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1/ Chủ đề tác phẩm : Từ nỗi đau riêng của bản thân đến nỗi đau chung của xóm làng, dân tộc đã khiến Tnú quật khởi và dân làng Xô-man đồng khởi diệt giặc để tự cứu mình và góp phần giải phóng dân tộc.

2/ Hình ảnh cây xà nu và rừng xà nu trong truyện có tác dụng tạo nền cho câu chuyện. Bằng những hình tượng nghệ thuật có giá trị tạo hình, có ý nghĩa tượng trưng và bằng thủ pháp nhân hóa làm cho cây xà nu cũng như rừng xà nu hiện hình sống động trước mắt người đọc: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”. Rồi “… nhựa ứa ra, tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”. Thế nhưng “Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Và có khi “cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây non mọc lên, ngọn xanh rợn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”.
Bức tranh phong cảnh sống động như được khắc, được chạm thành đường nét chắc khỏe, những hình khối vững chãi với những màu sắc và mùi vị đặc biệt: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè, gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn…”.
Cây xà nu là một loại cây đặc biệt sinh trưởng nơi núi rừng Tây Nguyên, là loại cây “ham ánh sáng mặt trời” như con người Tây Nguyên luôn vươn tới ánh sáng chân lí. Nó lại có sực sống vững bền: Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn…” như con người Tây Nguyên luôn quật khởi kiên cường. Cây xà nu, rừng xà nu đã gắn bó với con người Tây Nguyên tự bao đời nay, như một lẽ tự nhiên và khi cần “rừng xà nu ưỡm tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…”. Ở một tầng nghĩa cao hơn, rừng xà nu tiêu biểu cho sức sống bất diệt, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Các thế hệ cây xà nu nối tiếp nhau lớn lên tượng trưng cho các thế hệ dân làng Xô-man, nói rộng ra là các thế hệ nhân dân Việt Nam.

3/ Trong bối cảnh núi rừng hùng vĩ và trang nghiêm nổi lên bốn hình tượnng nhân vật:
Cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng. Mỗi nhân vật, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trung Thành, đều để lại trong lòng người đọc những ấn tượng đẹp và sâu sắc.
- Cụ Mết: là một “già làng” với hình dáng bên ngoài “quắc thước”, “râu đã dài tới ngực và đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược; Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn” – “Ông không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!” – Những khi vừa ý nhất ông chỉ nói “Được!”. Giọng nói của ông ồ ồ “dội vang trong ngực”.
Là một người giàu kinh nghiệm sống, lời nói của ông mang ý nghĩa chân lí: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”. Mệnh lệnh chiến đấu ông phát ra đơn giản và chắc nịch:
“Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên…” Tính cách của ông tiêu biểu cho tính cách quật cường, bất khuất của dân tộc ta, tượng trưng cho lịch sử, cho truyền thống của dân tộc.
- Tnú: Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, đi làm liên lạc cho cán bộ, anh vượt sông ở những quãng nước chảy xiết nhất, những chỗ mà giặc không ngờ. Bị giặc phục kích bắt được, Tnú nuốt thư vào bụng: Cộng sản ở đây nè! Bị giặc đốt mười ngón tay, Tnú không kêu. Anh căm giặc đến “mất cảm giác đau đớn”. Nét gan góc đó chính là tinh thần dũng cảm, kiên cường của dân tộc.
- Dít: Cô em vợ Tnú. Cô cũng gan góc không kém gì Tnú. Giặc bắt cô đứng giữa sân, lên đạn bắn qua tai, qua tóc, cày đất quanh hai chân cô. Váy rách từng mảng, Dít khóc. Nhưng đến viên thứ mười, cô đứng im, nhìn bọn địch bình thản. Khi chị của Dít là Mai bị giặc giết, Dít không khóc, không ngủ. Ngồi cho tới gà gáy, Dít đi giã gạo, gần đủ 30 lon gạo trắng cho Tnú mang đi.
Lớn lên, Dít làm công tác lãnh đạo, được quần chúng tin cậy vì cô bình tĩnh, gan dạ, giàu tình cảm mà có tính nguyên tắc. Khi nghe tin Tnú về, câu hỏi đầu tiên của cô về Tnú với giọng hơi lạnh lùng: “- Đồng chí về có giấy không?”. Nhưng xem giấy xong, đưa trả lại cho Tnú rồi chị mới cười và đổi cách xưng hô:
- “… Sao anh về có một đêm thôi?”
Cả Tnú và Dít đều tượng trưng cho lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh cách mạng hiện tại, là sự tiếp nối tự nhiên trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.
- Bé Heng: là thế hệ đàn em, là hình ảnh hôm qua của Tnú. Bé Heng hồn nhiên, tươi mát, sống động, đáng tin tưởng của tương lai. Hình tượng nhân vật này hứa hẹn một sự phát triển không ngờ sau này. Đó là thành phần kế tục sự nghiệp cách mạng của cha ông.
Ngày gửi: 08/11/2008 - 17:11
2. ĐẤT NƯỚC - NGUYỄN KHOA ĐIỀM

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1/ Tìm hiểu về bài thơ:
- Tác giả tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ của những năm chống Mỹ. Trong thơ
của họ nổi bật ý thức tuổi trẻ, vai trò và trách nhiệm của mình trong thời đại và đặc biệt là sự nhận thức của họ đối với đất nước với nhân dân và với cuộc kháng chiến của dân tộc.
- Chủ đề “ Đất nước”bao trùm trong thơ Việt Nam 1945-1975. Tuy nhiên, bài thơ
này được viết trong thời kỳ chống Mỹ nên nó mang dấu ấn của một thời với cách nhận cảm của thế hệ trẻ qua chính những trắc nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cốt lõi của những bài thơ này là tư tưởng nhân dân đã chi phối toàn bộ những cảm hứng chủ đạo cũng như câu tứ và hình tượng thơ.
- Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ hàng loạt các trường ca ra
đời. Điểm khác biệt là các tác phẩm này không dựa vào cốt truyện tự sự mà nó viết theo sự vận động ý thức của tác giả. “Mặt đường khát vọng” là sự thức tỉnh của thanh niên trí thức thành thị Miền Nam trước hiện tình của đất nước. Họ nhận rõ kẻ thù, ý thức về đất nước về nhân dân đồng thời đề ra trách nhiệm cho thế hệ là phải đứng dậy tranh đấu.
Bài thơ này là sự cảm nhận, phát hiện về đất nước trong cái nhìn tổng hợp và toàn
vẹn, nó mang đậm tư tưởng nhân dân. Bài thơ đã sử dụng các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo và rất thích hợp với tư tưởng nhân dân của tác phẩm.

2/ Phần thứ nhất:
+ Bốn câu thơ đầu viết dài ra những câu văn xuôi êm ả, như lời kể chuyện cổ tích,
trầm lắng, tha thiết, ngọt ngào.Mỗi câu thơ đều có từ “ Đất nước”và do đó, cả bốn câu bị chi phối, bị cuốn hút, bị bện chặt bởi cái chủ đề đất nước. Những câu thơ dài, mênh mông, không có sự hiệp vần. Nó là một câu chuyện kể.
+ Đoạn thơ mở đầu bình dị tạo nên một sự gần gũi thân thiết chứ không trang trọng
dõng dạc như Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Đất nước trong trừu tượng, nó ở ngay trong cuộc sống của chúng ta. Từ lời kể của Mẹ, miếng trầu của bà cho đến phong tục tập quán rất riêng ( “tóc bới sau đầu”). Đất nước là tình nghĩa thủy chung của cha mẹ, là hạt gạo ta ăn hàng ngày, là cái kèo, cái cột trong nhà v.v …
+ Hai câu thơ đóng và khép của đoạn đầu tạo dựng được không khí. “Khi ta lớn lên” là thời điểm hiện tại “Đất nước đã có rồi” là thời gian quá khứ.
“Đất nước có từ ngày đó”là đẩy đối tượng vào dòng thời gian hun hút xa xăm. Điều khẳng định về đất nước là “ Có rồi” “Có từ ngày đó” “Có trong những cái ngày xửa ngày xưa”… Đất nước vừa cụ thể vừa huyền ảo.
+ Tiếp đó là sự nhận cảm Đất nước từ các phương diện địa lý – lịch sử. Tác giả định
nghĩa Đất nước không giống các nhà chuyên môn về lịch sử – địa lý đã đành mà cũng không định nghĩa theo hướng khái quát trong “ Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi. Tác giả chia cắt thành tố “ Đất”và “Nước”trong bản thân từ “ Đất nước”.Cách chiết từ này có thể dẫn tới sự giải thích sai lầm hoặc giản đơn hoá khái niệm. Nhưng tư duy nghệ thuật lại làm cho định nghĩa đất nước trở nên vô cùng sinh động và độc đáo ( đất nước đã được cụ thể hoá cao độ và đem đến một thông báo rất mới mẻ có tác động đến tình cảm thẩm mỹ cao).
- Đất nước được cảm nhận trên phương diện không gian và thời gian, địa lý và lịch
sử:

Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Từ huyền thoại:
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Cho đến truyền thuyết vua Hùng và ngày giỗ Tổ ( 10 -3 âm lịch).
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

( Truyền thuyết vua Hùng đã được nhắc lại ở phần hai của bài thơ: Chín mươi chín
con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương).
Kết hợp với sự khẳng định “Đã có rồi” ở trên kia, tác giả muốn nói lên bề dày, chiều sâu lịch sử của nước Việt nam chúng ta. Về mặt không gian địa lý đất nước không chỉ là núi rừng:
“Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”không chỉ là biển cả: “Con cá ngư ông móng nước biển khơi” mà còn là cái không gian rất gần gũi với cuộc sống mỗi người.
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đó là nơi nảy nở tình yêu lứa đôi.

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm (một không gian rất nhỏ, chỉ có hai người biết, hai người hay). Đó cũng là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao nhiêu thời gian, bao nhiêu thế hệ:
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Tác giả đã sử dụng những câu ca dao, những nội dung của truyền thuyết dân gian
với một ngôn ngữ rất tự nhiên nhuần nhị. Chính vì thế mà những câu thơ vừa có cá tính sáng tạo mới mẻ vừa mang nét gần gũi thân thương.
- Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
- Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
(Bài ca dao: “ Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất”…)
+ Tìm giá trị của đất nước trên cái khoảng rộng của không gian và cái chiều dài chiều sâu của thời gian (một không gian có tính chất địa lý và một thời gian có tính chất lịch sử). Đất nước là sự thống nhất các phương diện văn hoá truyền thống, phong tục các đời thường hàng ngày và cái vĩnh hằng mãi mãi, giữa sự sống của cá thể và sự sống của cộng đồng…
Ý thơ tập trung vào tụ điểm cuối cùng của tư tưởng trong Phần một của bài thơ.
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần của đất nước
Thì ra đất nước có trong mỗi cá nhân, đất nước kết tinh trong mỗi con người. Bởi vì
mỗi cá nhân không chỉ là riêng mình mà còn là của đất nước. Mỗi cuộc đời đều thừa hưởng được những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc. Cho nên tác giả nhắn nhủ chúng ta phải có trách nhiệm với đất nước. Lời nhắn nhủ ấy là với “em”nên nó có tính chất tâm sự riêng tư không lên gân giả tạo theo kiểu “giáo huấn”.
Em ơi em Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời…

3/ Phần thứ hai của bài thơ:
Tư tưởng cơ bản của phần này là tư tưởng đất nước của nhân dân.
+ Cách nhìn những thắng cảnh của địa lý có chiều sâu của sự phát hiện mới mẻ (Những người vợ … núi sông ta).
- Cảnh thiên nhiên kỳ thú đã gắn bó máu thịt với đời sống dân tộc. Nó được những
thế hệ, những lớp ngưới đi trước tiếp nhận và cảm thụ qua tâm hồn, qua cảnh ngộ của những hoàn cảnh, của những cuộc đời, của lịch sử dân tộc. Nếu không có người vợ chờ chồng trong những cuộc chiến tranh li tán thì không có Đá Vọng Phu. Nếu không có truyền thuyết vua Hùng dựng nước thì không cảm nhận được sự linh thiêng và hùng vĩ của cảnh quan núi đồi trùng điệp….
Đoạn thơ đã khái quát:
“Và ở đâu trên khắp ruộng gò bãi… núi sông ta”
+ Tác giả “nhìn vào bốn nghìn năm Đất Nước” không điểm lại các thời đại hào hùng như Nguyễn Trãi (trải từ Triệu, Đinh… ) như Chế Lan Viên (nước Việt Nam nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê, thành nước Việt nhân dân trong mát suối) mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh.
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình dân
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
+ Tư tưởng cốt lõi và tụ điểm là ở phần cuối.
“Đất nước này là Đất nước nhân dân”
- Vì là của nhân dân nên nó là “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Đây là một định
nghĩa giản dị mà khá độc đáo.
- Tác giả chọn ba dẫn chứng trong ca dao thần thoại để nói về truyền thống của nhân
dân, của dân tộc.
+ “Yêu em từ thuở trong nôi” tức là tình yêu rất đắm say.
“Biết quí công cầm vàng…” là biết quí trọng tình nghĩa.
“Biết trông trẻ”… nhắc tới tích Thánh Gióng để nói đến sự quyết liệt trong căm thù
và trong chiến đấu. (Huy Cận đã từng phát hiện đức tính có vẻ như đối lập này của dân tộc
Việt Nam:
“Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”
Mặc dầu bốn ngàn năm chưa hề ngơi tắt ngọn lửa chiến tranh, nhiệm vụ chiến đấu
luôn luôn sẵn sàng trong mọi thế hệ người Việt. Cái gì đã tạo cho nước Việt Nam tồn tại mà không xóa nhòa bản sắc của mình? Cái gì đã tạo cho con người Việt Nam có một truyền thống văn hiến rực rỡ? Chính là Nhân dân Việt Nam đã sống rất đôn hậu, đời thường, sống giàu tình nghĩa ngay cả những khi hoàn cảnh lịch sử phá vỡ đời sống bình thường đó. Dân Việt Nam phản ứng quyết liệt khi có kẻ thù nhưng họ không phải là kẻ hiếu chiến: “Trồng tre” là để tự vệ chứ không phải ưa đổ máu!
+ Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã có từ rất lâu. Đến những vần thơ của Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm… đã hình thành rất rõ. Nhưng đến thời kỳ chống Mĩ tư tưởng này được Nguyễn Khoa Điềm nhận thức sâu sắc hơn, thắm thía hơn bởi vai trò cũng như sự đóng góp hi sinh vô bờ bến của nhân dân trong cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt
này.

4/ Đất nước là bài thơ trữ tình – chính luận:
Nó có sự kết hợp hai yếu tố hữu cơ cho nên làm tập trung và nổi rõ tư tưởng của tác giả.
+ Tác giả thành công trong việc tạo ra không khí giọng điệu, không gian và thời gian thích hợp để đưa vào thế giới gần gũi, bay bỗng của ca dao dân ca, của truyền thuyết và đời sống văn hóa của dân tộc. Đồng thời cũng cảm nhận một tư duy mới mẻ và hiện đại trong những câu thơ phóng khoáng, tự do (điều đặc biệt là bài thơ rất ít vần, nó có “chất thơ” nhờ vào việc xây dựng hình ảnh, vào giọng điệu trầm bổng và chuyển đổi…).
+ Tuy nhiên nhiều chỗ chất trữ tình và chính luận không kéo dính với nhau khiến
cho khi bài thơ khá nặng nề, khi thì cảm xúc tràn lan dường như không kiểm soát được. Nhiều chỗ còn trùng lặp, dàn trải, nhiều hình ảnh và cách lí giải chưa thật sự mới mẻ và sâu sắc.
Ngày gửi: 08/11/2008 - 17:12
Trả lời