Hãy chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ lá phổi của con người

Mong các bạn giúp đỡ.Đề bài còn có thể là : Hãy chứng minh câu tục ngữ:"Rừng là lá phổi của con người" nhưng ở đây cụ thể hơn : Bảo vệ rừng như bảo vệ lá phổi của con người
 |  Xem: 23.465  |  Trả lời: 5
Ngày gửi: 25/02/2009 - 19:41  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (5)

Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây xanh, trong quá trình quang hợp, hấp thụ khí cacbonic và nhả ra khí ôxy cần thiết cho sự sống.

Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong không khí.

Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau. Ðây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.

Rừng bảo vệ và cải tạo đất. Nhờ có tán lá xoè rộng như chiếc ô, nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất, nắng không đốt cháy mặt đất, nên lớp đất trên mặt khó bị rửa trôi theo nước mưa. Rừng nuôi đất, bồi bổ cho đất.

Ðất rừng hầu như tự bón phân, vì cành lá rơi rụng từ cây sẽ bị phân huỷ, tạo thành các chất dinh dưỡng, làm tăng độ màu mỡ của đất. Ðất phì nhiêu, tơi xốp sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và hạn chế xói mòn. Vùng bãi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa chắn sóng, vừa giữ phù sa, làm cho bờ biển không những không bị xói, mà còn được bồi đắp và tiến ra phía trước.

Rừng có tác dụng điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và dưới đất. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó lượng dòng chảy do mưa trong mùa lũ giảm đi. Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt. Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà dòng chảy càng lớn hơn.

Rừng có giá trị lớn về du lịch. Vì rừng có nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều loại động thực vật hoang dã, lôi cuốn sự ham hiểu biết, trí tò mò của mọi người. Khí hậu trong rừng mát mẻ, điều hoà, không khí sạch sẽ còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Nói tóm lại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con người. Vì các nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu biết khai thác một cách hợp lý và có kế hoạch trồng rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả mãn được các nhu cầu của mình, vừa không làm tổn hại đến rừng. 

Chúc bạn làm tốt bài văn nhé.

Ngày gửi: 28/01/2011 - 10:54

Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra.

Trên phạm vi toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông - lương thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vỏn vẹn 1,5 triệu hecta. Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật.v.v...

Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng, trong khi mức bình quân của thế giới là 0,97 ha/ người. Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta.

Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp. Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng. Hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người 

Để bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên rừng - món quà của sự cấu thành chức năng tự nhiên của thiên nhiên ban tặng - rất cần thiết phải hoàn chỉnh và thực thi ngay một chiến lược đồng bộ, có tính khả thi về tài nguyên rừng. Song hành với việc nâng cao nhận thức thông qua công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục thiết thực, đòi hỏi phải có một khung khổ pháp lý cụ thể cho các khâu trong quy trình bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; đồng thời cần phải đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh, có tinh thần trách nhiệm và khả năng tác nghiệp cao, được đầu tư thoả đáng và trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên ngành hiện đại. Vấn đề có ý nghĩa mấu chốt trong việc thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đạt được mục tiêu đề ra là nâng độ che phủ của rừng ở nước ta lên 43%, bảo vệ tính đa dạng sinh học và tính ổn định, bền vững của quá trình phát triển tài nguyên rừng thì nhất thiết phải đặt sự nghiệp bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sống là bộ phận cấu thành hữu cơ không thể thiếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, của chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Trong đó, cần chú trọng hơn nữa đến đổi mới cơ chế chính sách nhằm chuyển mạnh một cách hiệu quả ngành lâm nghiệp theo hướng lâm nghiệp xã hội - lâm nghiệp cộng đồng, huy động được mọi nguồn lực và lực lượng xã hội tham gia quản lý, bảo vệ rừng vì lợi ích trực tiếp của cộng đồng. Đây là một trong những hướng đi thiết thực nhằm ngăn chặn và đẩy lùi những thảm họa như đã từng xảy ra với rừng.

Ngày gửi: 28/01/2011 - 10:54

Suốt chiều dài Tổ quốc, từ mục Nam Quan cho tới mũi Cà Mau đâu đâu cũng có rừng. Những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc, Việt Bắc, Trường Sơn,miền Đông Nam Bộ… Những khu rừng nguyên sinh Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã, Cần giờ, U Minh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá đã tồn tại từ bao đời nay. Tục ngữ có câu “ Rừng vàng, biển bạc”, quả là rừng đã đem lại cho con người những lợi ích lớn lao. Con người không thể sống thiếu rừng, cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.
Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, rừng gắn bó thân thiết với con người:
“ Núi giăng thành lũy thép dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
( Tố Hữu)
Núi rừng Việt Bắc đã trở thành thủ đô của cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp.Núi rừng Trường Sơn với con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đau thương và oanh liệt.
Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên liệu làm giấy, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối của đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của rừng…Cảnh quang đẹp đẽ của rừng cùng với không khí trong lành là cơ sở cho những tua du lịch xanh cho thỏa trí tò mò mà biết bao người muốn khám phá, đem lại cho ta những phút thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng.
Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Các loại cấy quý hiếm có thể trị được các bệnh nan y thường có trong rừng sâu.Ngoài ra,từ những cảnh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng của các loài vật quý phục vụ cho con người như hổ,báo, hươu,nai… và cả những động, thực vật nằm trong sách đỏ cũng chọn rừng làm nơi sinh sống.
Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường cho loài người, các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hút khí cacbonic và nhả ra khí Oxi, một thứ rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là “ nhà máy lọc bụi tối tân nhất”. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biến động thiên tai. Rừng cản lũ, lụt, rừng chống sa mạc hóa, rừng ngăn cát, rừng giữ đất giữ nước…
Rừng bị tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Diện tích rừng của nước ta ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại, một phần bởi nạn “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt. Cũng cách làm thô sơ, lạc hậu như đốt rừng, làm nương rẫy, đốt ong lấy mật… chỉ sơ ý một chút là gây ra tổn hại khôn lường, hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh bị cháy rụi, hàng ngàn động vật bị tiêu diệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ… thế mấy trăm năm nữa mới khôi phục lại được những cánh rừng như thế ?
Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng.Khai thác lâm sản rừng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với gió, với cát, với nước lũ … và lấy đâu ra “ rừng vàng” cho con cháu mai sau ?!
Rừng thực sự bị đe dọa. Cái chết của những cánh rừng đang báo động hiểm họa với nhân loại cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ chính môi trường sống của chính con người. Hi vọng màu xanh của rừng sẽ trở lại. Lồng ngực của chúng ta được trong lành và con tim chúng ta sẽ nghe được nhạc rừng từ những giọng chim ca …

Ngày gửi: 28/01/2011 - 10:54

Vấn đề bảo vệ rừng đã từng được nhắc đến rất nhiều lần trong sách vở, trường lớp và trên các phương tiện thông tin đại chúng cùng các cơ quan, các cấp các ngành có chức năng tuyên truyền và thực hiện vấn đề này cũng có TNV đã lên tiếng: " vai trò của Rừng đã được dạy từ lớp 5". Song thực trạng của rừng hiện này cùng nạn phá rừng vẫn đang tiếp diễn thậm chí đi nhanh hơn sự dự đoán của chúng ta. vấn đề ở đây là dấu chấm hỏi được đặt ra : Phải chăng tuyên truyền không hiệu quả? Chúng ta hãy cũng nhau tìm ra câu trả lời và những giải pháp để cùng khắc phục nó và thực hiện nó để cải tạo lại những gì mà vô tình hay cố ý mà con người - chính chúng ta đã gây ra cho rừng - lá phổi xanh của trái đất.

I. Hiện trạng rừng ngày nay và vấn nạn phá rừng.

Hiện trạng Rừng thế giới.

Đã gần 10 năm trôi qua kể từ Hội nghị Rio de Janeiro ở Brazin, một cam kết quốc tế được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) hướng tới quản lý bền vững, bảo tồn và phát triển tất cả các loại rừng trên thế giới. UNCED, cùng Hội nghị Rio đẩy mạnh cho cuộc chiến và hành động bảo vệ các khu rừng-xác định quản lý rừng gồm những công việc gì và ai thực hiện-đồng thời phát triển tầm nhìn về quản lý rừng bền vững, cũng như tăng cường cam kết thực hiện, tạo ra các khối liên minh để đạt được các mục tiêu chung đã đề ra.

Hiện trạng rừng 2001 nhấn mạnh các phát triển quan trọng liên quan đến rừng. Con đường tiến tới quản lý rừng bền vững là một tiến trình với những thách thức và không thể tiến nhanh được như nhiều người mong muốn, con đường này đã mở rộng và chúng ta thực sự đang tiến về phía trước.

Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 3.870 triệu ha rừng, trong đó 95% là rừng tự nhiên và 5% rừng trồng. Phá rừng nhiệt đới và suy thoái rừng ở nhiều vùng trên thế giới đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các loại hàng hoá và dịch vụ từ rừng. Diện tích rừng ở các nước phát triển đã ổn định và đang tăng nhẹ, còn ở các nước đang phát triển, phá rừng vẫn đang tiếp diễn. Mức thay đổi ước tính hàng năm diện tích rừng trên toàn thế giới (thập kỷ 90) là 9,4 triệu ha, là số liệu dựa trên mức phá rừng hàng năm là 14,6 triệu ha và diện tích rừng tăng ước tính là 5,2 triệu ha.

Nguyên nhân gây suy thoái rừng rất khác nhau. Trước tiên là do khai thác quá mức các sản phẩm từ rừng, và điều này có thể phòng tránh và giảm thiểu bằng quản lý và quy hoạch rừng hợp lý. Các nguyên nhân khác có thể là do các ảnh hưởng của các tai biến thiên nhiên, và có thể hạn chế bằng các kế hoạch đối phó trong trường hợp bất ngờ.

Hiện nay có hai nguyên nhân gây huỷ hoại rừng gồm: các vụ cháy rừng nghiêm trọng ở nhiều vùng trên thế giới và các trận bão. Khai thác thương mại thịt thú rừng cũng là mối đe dọa đời sống hoang dã sống trong rừng.

Các vụ cháy rừng trong thời gian 1999-2000 không lan rộng và có tính phá huỷ như các vụ cháy rừng diễn ra vào các năm 1997-1998, cháy rừng diễn ra trầm trọng nhất ở tây Mỹ, Ethiopia, đông Địa trung hải và Indonesia. Các trận cháy trong 4 năm qua đã làm khiến cộng đồng quan tâm hơn đến vấn đề này. Các đối phó về chính sách của quốc gia và các sáng kiến của khu vực và quốc tế thúc đẩy phòng ngừa, cảnh báo sớm, kiểm tra và giám sát phòng chống cháy rừng. Ngày nay, người ta đã hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa cháy rừng và các chính sách, thực tiễn sử dụng đất. Các dự án dựa trên cộng đồng về quản lý phòng chống cháy rừng đã được thực hiện ở nhiều nước và ở một số nước khác người ta đã đánh giá lại các chính sách về phòng cháy ở các hệ sinh thái nhạy cảm với lửa.

Cạn kiệt tài nguyên đời sống hoang dã là hậu quả của việc khai thác thương mại thịt các loài động vật hoang dã đang ngày càng thu hút sự quan tâm của mọi người. Thương mại không bền vững là vấn đề nghiêm trọng ở nhiều vùng trên thế giới, song đạt tới mức khủng hoảng ở các vùng nhiệt đới của châu Phi. Nhiều loài động vật linh trưởng, loài linh dương và nhiều loài khác nữa đang bị đe dọa. Vấn đề khó khăn này đang được giải quyết bằng các nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), cũng như các sáng kiến của chính phủ, ở cấp quốc tế, như Công ước về Buôn bán Quốc tế Các loài động vật và thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES).

Quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Các biện pháp kỹ thuật, chính sách và thể chế nhằm cải thiện quản lý và bảo tồn rừng phản ánh sự chuyển dịch nhằm cân bằng các mục tiêu xã hội, kinh tế và môi trường. Các biện pháp này bao gồm các nỗ lực nhằm giảm khai thác gỗ ở các khu rừng tự nhiên và phát triển các nguồn thay thế gỗ công nghiệp, cải tiến các thực tiễn khai thác, giảm các hoạt động khai thác phi pháp và tăng cường quản lý rừng dựa trên cộng đồng.

Hiện nay xu thế toàn cầu là hướng tới nhờ cậy nhiều hơn nữa vào các khu rừng trồng là nguồn cung cấp gỗ công nghiệp. Phát triển các di sản rừng toàn cầu đang được thực hiện, một nửa diện tích rừng trồng trên thế giới có tuổi thọ gần 15 năm. Châu á dẫn đầu về trồng rừng, năm 2000, khoảng 62% tất cả các khu rừng trồng là ở châu á. Các phát triển khác bao gồm: tăng đầu tư tư nhân vào trồng rừng ở các nước đang phát triển, tăng đầu tư nước ngoài, và mở rộng các chương trình trồng rừng nhanh, hoặc các cam kết của cộng đồng hay của các chủ đất nhỏ trồng và bán cây cho các công ty tư nhân.

Các công nghệ sinh học truyền thống được sử dụng từ rất lâu có hiệu quả nhằm làm tăng năng suất của các khu rừng trồng. Nhiều ứng dụng của công nghệ sinh học trong lâm nghiệp không có gì để bàn cãi, song việc sử dụng các sinh vật biến đổi gen hiện cũng đang kéo ngành lâm nghiệp vào cuộc chiến. Biến đổi gen các loại cây rừng về các đặc tính kháng virut và côn trùng, giảm làm lượng lignin và khả năng chịu được các loài thuốc diệt cỏ. Các loại cây rừng biến đổi gen đang được thử nghiệm ở một số nước. ứng dụng các công nghệ sinh học mới mang lại các cơ hội tiềm tàng, song cần thận trọng trong việc sử dụng các công nghệ đó trong bảo tồn dài hạn và các chương trình tạo giống và trồng rừng.

Hai cách tiếp cận hiện nay và rất khác biệt nhằm cải thiện quản lý rừng trong quá trình sản xuất gồm: thích ứng với các thực tiễn thu hoạch rừng bền vững về môi trường hoặc giảm thiểu tác động của quá trình khai thác, và hạn chế hoặc cấm khai thác. Hạn chế và cấm khai thác đã chứng minh được những ưu điểm về môi trường so với các phương pháp khai thác truyền thống, đã có bằng chứng cho thấy các chi phí vận hành cao hơn được bù lại bằng lợi nhuận thu được. Mặc dù có những ưu điểm trên, song cách tiếp cận này vẫn chưa được thực hiện rộng rãi. Việc thích ứng rộng rãi với cách tiếp cận này sẽ phụ thuộc vào khả năng tài chính trong nhiều điều kiện khác nhau và sự đảm bảo rằng chủ sở hữu/hay nhà quản lý rừng có thể nhận ra được các lợi ích do cách tiếp cận đó mang lại.

Nhiều nước gần đây đã ban hành các lệnh cấm nhập khẩu và hạn chế khai thác gỗ, nhằm cố gắng bảo tồn tài nguyên rừng của nước mình, hoặc ứng phó với các thiên tai (như lở đất và lũ lụt) ít nhiều bị quy là do khai thác thương mại quá mức. Tác động của các lệnh cấm và hạn chế này rất khác nhau. Tại một số nước, các lệnh cấm và hạn chế này góp phần vào bảo tồn các khu rừng tự nhiên. Nhưng ở một số nước khác lại gây ra các tác động tiêu cực đối với ngành lâm nghiệp và các cộng đồng địa phương hay chuyển vấn đề về khai thác quá mức sang một nước khác. Những gì trải qua cho đến nay chỉ ra rằng các điều kiện tiên quyết nhất định cần cho sự thành công đó là các mục tiêu rõ ràng, dựa trên sự hiểu biết về các nguyên nhân gây suy thoái rừng, các chính sách hợp lý, chính trị bền vững và đủ nguồn lực để thu hồi các chi phí.

Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý rừng là nét quan trọng của các chính sách và các chương trình quốc gia về rừng trên toàn thế giới. Nhiều cơ quan rừng quốc gia đang thực hiện quá trình phân quyền, tổ chức lại và thu hẹp phạm vi, với các kết quả nhất định. Đối mặt với vấn đề thiếu hụt tài chính và nhân lực, chính phủ đang chuyển hướng để cho các cộng đồng địa phương hỗ trợ cho bảo vệ và quản lý các khu rừng do nhà nước sở hữu.

Các hàng hoá và dịch vụ từ rừng.

Một trong các thách thức lớn nhất mà ngành lâm nghiệp gặp phải chính là sự cần thiết điều hòa các nhu cầu gây xung đột của các cơ quan có vai trò khác nhau với các loại hàng hoá và dịch vụ từ rừng. Gỗ công nghiệp-một sản phẩm từ rừng, và hai dịch vụ môi trường-giảm thiểu sự thay đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học.

Hai năm qua là thời gian đánh dấu sự hồi phục nhu cầu toàn cầu về gỗ công nghiệp kể từ sau sự giảm mạnh năm 1997-1998 do cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu á. Tuy nhiên, sản lượng các sản phẩm gỗ nhiệt đới vẫn còn duy trì ở các mức thấp hơn trước đây, và một số nước châu á vẫn tiếp tục gặp các khó khăn. Trung Quốc, nước tiêu thụ gỗ lớn nhất trong mấy năm gần đây đã tăng đáng kể trong nhập khẩu gỗ, vì đã áp dụng chính sách hạn chế khai thác các khu rừng tự nhiên. Tình hình này đã có những ảnh hưởng lớn đến sản xuất và thương mại trong và ngoài khu vực châu á.

Các ngành công nghiệp trong lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục thích ứng với các thay đổi về nguyên vật liệu, như tăng cung cấp gỗ từ rừng trồng và nhiều dạng gỗ khác. Xu thế này mang lại triển vọng cho các sản phẩm gỗ kỹ thuật (chủ yếu châu Âu và Mỹ), dành thị trường cho các sản phẩm gỗ dán sản xuất từ các nước nhiệt đới. Các nguyên vật liệu từ rừng giảm gây ảnh hưởng đến việc đưa ra các phương thức đổi mới mở rộng cung cấp gỗ và sử dụng nhiều hơn nữa các phế phẩm và chất thải.

Các cuộc đàm phán về Nghị định thư Kyoto của Công ước Khung về Thay đổi Khí hậu (FCCC) tập trung sự chú ý vào các khu rừng trong bối cảnh thay đổi khí hậu. Các khu rừng gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng do thay đổi khí hậu: rừng đóng một vai trò quan trọng trong chu trình cácbon, việc quản lý và phá huỷ các khu rừng có thể gây ra các ảnh hưởng đáng kể đến tiến trình của nóng lên toàn cầu trong thế kỷ 21. Nếu các dự báo về thay đổi thay đổi khí hậu trở thành hiện thực thì các tác động đối với rừng sẽ khắc nghiệt và kéo dài. Rừng có thể góp phần giảm thiểu các phát tán khí nhà kính, lưu giữ và hấp thụ cácbon. Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến lĩnh vực lâm nghiệp, mà từ đó các hoạt động lâm nghiệp sẽ là các biện pháp thích hợp để giảm thiểu thay đổi khí hậu, cũng như các quy định và các tiêu chuẩn sẽ áp dụng.

Trong hai thập kỷ qua, bảo tồn đa dạng sinh học trở thành một trong các trọng tâm của chính sách quốc gia về rừng và quá trình quy hoạch trên toàn thế giới. Các khu bảo tồn được xem là cơ sở cho bảo tồn đa dạng sinh học. Ước tính 12% các khu rừng trên thế giới là các khu bảo tồn. Các phát triển diễn ra chủ yếu trong quản lý các khu bảo tồn bao gồm các nỗ lực nhằm ***g ghép các nhu cầu về bảo tồn và phát triển, bảo tồn dựa vào cộng đồng, tập trung hơn nữa vào quản lý hệ sinh thái và thực hiện cách tiếp cận vùng sinh học (bioregional).

Các hệ thống quản lý rừng đang phát triển nhanh chóng, tương ứng với các vai trò và trách nhiệm của chính phủ, khu vực tư nhân và xã hội dân sự. Tiếng nói của các tổ chức NGO ngày càng quan trọng trong các cuộc thương lượng quốc tế về rừng. Chính phủ có trách nhiệm hơn trong các hoạt động thông qua tư nhân hoá các xí nghiệp do nhà nước sở hữu hoặc sửa đổi các cam kết về chuyển nhượng. Ngày càng có nhiều công ty thực hiện các thực tiễn tự nguyện và tiên phong được chấp nhận về mặt môi trường và xã hội. Các công ty tăng cường hợp tác với nhau, và với các cộng đồng và các nhóm môi trường liên quan đến quản lý rừng bền vững.

Tăng cường hợp tác quốc tế

Những cân nhắc liên chính phủ về vấn đề rừng ở cấp quốc tế cũng như hợp tác khu vực liên quan đến các vấn đề thương mại và kỹ thuật đã được tăng cường. Các sáng kiến khu vực và toàn cầu hỗ trợ cho các nỗ lực của các nước trong quản lý rừng bền vững. Phát triển các tiêu chuẩn và số chỉ thị cho quản lý rừng bền vững giúp xác định quản lý rừng tốt hơn, và giúp đánh giá tiến trình thực hiện. Các chương trình của các cơ quan viện trợ quốc tế trong thập kỷ qua hỗ trợ ngày càng nhiều cho các nỗ lực quy hoạch rừng và xây dựng năng lực quốc gia, khuyến khích các cách tiếp cận và quản lý có sự tham gia và nhờ vào cộng đồng.

N.N.H. (UNEP Release, 1/2002)

Với Châu Á

Theo tạp chí Courrier International, các giới nghiên cứu về rừng và bảo vệ sinh thái rừng cho rằng châu Á và rừng Xi-bia của Nga đang bị cạn kiệt một cách nhang chóng. Ông David Kaimowitz, tổng giám đốc Trung tâm quốc tế Nghiên cứu về rừng Kaimowitz, tổng giám đốc Trung tâm quốc tế nghiên cứu về rừng (CIFOR) có trụ sở đóng ở Bogor (Inđônêxia) cho biết: Người ta đã có những bằng chứng là những lượng gỗ lớn của Inđônêxia đã được đưa lậu vào Trung Quốc, Khoảng 2 triệu ha rừng được khai thác ở Inđônêxia trong năm 2001 để lấy gần 60 triệu mét khối gỗ thì trên 80% số gỗ này được nhập lậu vào Trung Quốc. Một tài liệu phân tích của Liên hợp quốc cho thấy năm 2002, con số nhập khẩu gỗ từ Inđônêxia do Trung Quốc công bố trong thực tế cao hơn gấp 2 lần con số do hải quan Inđônêxia công bố.

Nhiều nhóm bảo vệ sinh thái và môi trường thiên nhiên trên thế giới cho biết những khu rừng rộng mênh mông gồm các giống tùng bách ở Nga, đặc biệt ở Xibia và vùng Viễn Đông của Nga cũng đã dần dần trơ trụi trước nhu cầu nhập khẩu gỗ của Trung Quốc ngày càng nhiều. Theo các số liệu của Liên hợp quốc năm 2002, Trung Quốc nhập khẩu 17 triệu mét khối gỗ của Nga, tăng 70% so với năm trước đó.

Gỗ rừng của Myanma, Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Papua, Niu Ghinê cũng bị tác động nặng nề vì nhu cầu của Trung Quốc về gỗ.

Các cuộc điều tra được tiến hành dọc biên giới Myanma và Trung Quốc cho thấy có những dải rừng nguyên sinh tại bang Kachin (Đông Bắc Myanma giáp biên giới Trung Quốc) bị san bằng để lấy gỗ bán sang Trung Quốc.

Ai cũng biết rằng sau những trận lụt khủng khiếp xảy ra trên sông Dương Tử và nhiều con sông khác cướp đi nhiều sinh mạng và tàn phá nặng nề của cải của nhân dân và của nhà nước mùa hè năm 1998. Trung Quốc đã chính thức tuyên bố cấm đốn hạ cây rừng. Và thế là nền công nghiệp Trung Quốc bắt buộc phải nhập khẩu gỗ để đáp ứng các nhu cầu nhiều mặt của mình về phát triển kinh tế.

Trung Quốc hiện đứng thứ hai thế giới về nhập khẩu gỗ sau Mỹ nhưng với đà tăng trưởng mạnh mẽ của mình Trung Quốc sẽ nhanh chóng chiếm vị trí hàng đầu.

Về phía các nước châu Á, sau nhiều thập kỷ khai thác gỗ, trước hết để bán sang thị trường Mỹ và châu Âu và sau đó là thị trường các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, các khu rừng của họ đã trở nên xơ xác, và rồi thị trường Trung Quốc lại trở nên một thị trường lớn tiêu thụ gỗ. Thế là gỗ của họ lại được nhập vào Trung Quốc ngày càng nhiều. Rừng của họ lại giảm đi hơn nữa.

Để có gỗ đồng thời vẫn có rừng, theo các chuyên gia của Tổ chức bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ thiên nhiên (WWF), các nước cần thực hiện các biện pháp quản lý rừng chặt chẽ hơn, phát triển rừng chống buôn lậu, điều tiết nhu cầu về gỗ… Tổ chức WWF cũng đã gợi ý với Trung Quốc cải thiện và phát triển các khu vực trồng cây lấy gỗ của họ để bớt nhập khẩu gỗ. Và có tin Trung Quốc cũng đã hợp tác với các chính phủ nước ngoài cũng như với các phong trào bảo vệ thiên nhiên để tìm cách chấm dứt việc khai thác gỗ trái phép.

Châu Á đang mất hơn 28.000 km2 rừng mỗi năm. Tình trạng này cần được ngăn chặn kịp thời để chống lại sự biến đổi khí hậu.Các chuyên gia cho biết khí CO2 phát thải từ việc chặt phá rừng chiếm tới 20% khí nhà kính toàn cầu. Nếu cứ theo đà này, các nước Nam Á và Đông Nam Á sẽ là những quốc gia gánh nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu.

Chính phủ các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương đang phải đối mặt với dân tị nạn sinh thái từ trong nước cũng như từ các vùng khác tới để tìm nơi sinh sống sau những thảm họa môi trường. Người dân tị nạn chủ yếu kéo đến các vùng thành phố, thị trấn, nên chính phủ các nước này phải đưa ra nhiều kế hoạch đối phó với dòng người di cư ngắn hạn hay dài hạn này.

Một số ý kiến cho rằng sẽ là không công bằng khi yêu cầu các nước đang phát triển cắt giảm lượng khí thải mà họ thải ra, vì như thế mức tăng trưởng kinh tế của họ sẽ bị suy giảm, nhưng đó là cách tốt nhất để để giảm nhẹ tình trạng chặt phá rừng. Một trong những giải pháp được đưa ra là đầu tư vào công nghệ cắt giảm cácbon. Chi phí để chuyển đổi các khí nhà kính đến năm 2030 sẽ tốn khoảng 200 triệu đôla mỗi năm, thông qua các biện pháp như: đầu tư vào nguồn năng lượng hiệu quả và năng lượng tái tạo có hàm lượng cacbon thấp.

Các quốc gia phát thải ô nhiễm đứng đầu như Trung Quốc và Ấn Độ nên giúp các quốc gia đang phát triển khác với những công nghệ môi trường giá rẻ. Về phía các quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng cũng cần phát triển nhiều chính sách để giảm khí thải nhà kính.

Ngày 21/11/2007 , tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á ở Xingapo, các nhà lãnh đạo 16 nước châu Á-Thái Bình Dương đã thông qua một loạt mục tiêu khu vực về đối phó với tình trạng ấm dần lên trên toàn cầu và giải quyết các vấn đề năng lượng sạch, như mở rộng diện tích trồng rừng thêm ít nhất 15 triệu ha vào năm 2020 và đề ra các mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả (nhiên liệu sinh học và các năng lượng sạch khác) một cách tự nguyện vào năm 2009.


Ngày gửi: 28/01/2011 - 10:55

Rừng là “vệ sĩ” của giới tự nhiên, là trụ cột đảm bảo cân bằng sinh thái. Nó có thể duy trì sự cân bằng lượng oxy và cacbonnic trong không khí, giảm nhẹ ảnh hưởng của các chất thải, khí độc gây nên ô nhiễm, làm trong sạch môi trường, vì vậy nên nó được xem là “Lá phổi của Trái đất”.

Lượng oxy trong không khí có vai trò rất lớn đối với đời sống của mọi sinh vật trên Trái đất. Chúng ta có thể nhịn ăn, nhịn uống nhưng không thể ngừng hô hấp. Hầu hết lượng oxy trên Trái đất này được sinh ra nhờ vào thực vật xanh trong rừng. Trong quá trình quang hợp, những thực vật này đã hút khí cacbonic và thải ra khí oxy. Tuy nhiên, những thực vật cũng cần phải hô hấp, nhưng dưới sự chiếu xạ của ánh nắng, tác dụng quang hợp của chúng phải lớn gấp 20 lần so với tác dụng hô hấp. Vì vậy mọi người gọi thực vật xanh là “Nhà máy sản xuất thiên nhiên” của oxy.

 

Cây cối thông qua quá trình quang hợp đã hút lượng khí cacbonic và thải ra môi trường lượng khí oxy. Nhờ đó mà con người và sinh vật mới có thể duy trì được sự sống của mình, khí hậu mới được ổn định. Có người làm một phép tính, cây dẻ cao 33 mét có khoảng 110 nghìn lá. Diện tích là 340m2. Một khu rừng có khoảng hơn 10 triệu cây thì diện tích lá cây che phủ là rất lớn, khả năng quang hợp cao. Mỗi một năm, hệ thực vật trên Trái đất nhận 400 tỷ tấn cacbonic và thải ra 200 tỷ tấn oxy. Như vậy cho thấy nếu không có rừng, con người cũng như hệ sinh vật sẽ chẳng thể tồn tại được.

 

Rừng giữ vai trò lớn trong việc làm sạch hoá bầu không khí. Những thực vật rừng có khả năng loại trừ toàn bộ những khí thải độc hại như: SO2, HF, Cl… SO2 là loại khí rất độc, có mặt ở nhiều nơi. Khi nồng độ SO2 trong không khí lên tới 10 ppm sẽ dẫn đến một số chứng bệnh như tim đập mạnh, loạn nhịp khó thở… Rừng có thể hấp thụ khí SO2 đó và chuyển chúng thành những thành phần cấu tạo nên các axit gốc amin trong các thân cây v.v… F cũng là một loại khí có hại với cơ thể con người. Nếu chúng ta ăn phải hoa quả, thực phẩm, rau có hàm lượng F cao sẽ bị nhiễm độc, sinh bệnh. Trong rừng có rất nhiều loại cây có thể hấp thụ thể khí này. Trung bình cứ một 1 ha cây ngân hoa có thể hấp thụ 11,8 kg F, 1 ha cây dâu tây là 4,3 kg F và 1 ha cây liễu thì hấp thụ 3,9 kg F.

 

Rừng cũng là máy hút bụi khổng lồ của con người. Do trên mỗi phiến lá có một lớp lông dày nên nó có thể chặn lại những chất gây ô nhiễm, lọc và hấp thụ lại chúng làm trong sạch môi trường. Các nhà khoa học đưa ra số liệu: trung bình 1 năm, cứ 15 mẫu đất trồng cây tùng có thể loại trừ được 36 tấn khói bụi trong không khí, 1 m2 cây phù du có thể ngăn được 3,39 tấn bụi thải. Trong rừng cành và lá cây tương đối rậm rạp um tùm nên làm giảm sức gió. Do vậy nên số bụi thải công nghiệp trong không khí đã bị giữ lại gần hết, sau một trận mưa lớn, số bụi còn lại được trở về với đất, nhờ vậy mà không khí được trong lành và mát mẻ hơn. Lá cây sau khi được sạch bụi lại tiếp tục quá trình giữ bụi và chu trình làm sạch không khí mới được bắt đầu.

 

Rừng quả thật là “Lá phổi của Trái đất”, không có rừng, tất cả mọi sinh vật trên Trái đất này kể cả con người sẽ không thể hô hấp, khó có thể sinh tồn và phát triển.


Ngày gửi: 28/01/2011 - 10:56
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(9 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)