Tính năng hàng đầu của A900 chính là phần cảm biến full-frame. Điều này nhờ vào việc Sony đã sử dụng một loại con chíp mới(xuất hiện vào tháng 1 năm 2008). Phần cảm biến này đo kích thước hình ảnh giống với máy ảnh film 35mm cho phép bỏ qua các yếu tố không cần thiết ở các phần cảm biến
DSLR khác. Tiếp đến là việc nó sử dụng ống kính mới Carl Zeiss 16-35mm vớ tầm bao quát 24-53mm.
Giao diện lớn hơn của phần cảm biến full-frame cũng cho phép nó ghi lại những hình ảnh lớn hơn với phần cảm biến tốt hơn và phạm vi hoạt động được mở rộng. A900 tự hào với tổng số pixel gấp đối máy ảnh ra đời trước nó là
A700.
Tất nhiên để khai thác phần cảm biến full-frame này bạn sẽ cần đến một ống kính hợp lý cho phạm vi lớn hơn của nó. Sony đưa ra một số ống kính tương thích như 2 mẫu mới được công bố cùng A900 là Carl Zeiss 16-35mm f2.8 và 70-400mm f4-5.6 DT l G.Sony – 2 ống kính chỉ hợp với cấu trúc nhỏ hơn APS và các máy ảnh DSLR khác thì nay sẽ được ứng dụng trên A900 , tuy nhiên nó cũng giảm chế độ hoạt động xuống mức độ phân giải lớn nhất là 11 megapixel.
Phần cảm biến 24.6 Megapixels chụp mỗi hình ảnh với thông tin đầy đủ vì vậy để phù hợp với định dạng này, A900 được trang bị với bộ xử lý hình ảnh kép Bionz của Sony. Bộ xử lý này cho phép máy ảnh chụp hình ở tốc độ 5 hình ảnh trên giây, và trong khi tốc độ này chỉ thường thấy ở máy ảnh
1Ds Mark với giá khá đắt
Phần cảm biến mới này đưa ra phạm vi độ nhạy ISO từ 100 đến 3200 và mở rộng tới ISO 6400. Nó có thể thấp hơn các lựa chọn ISO 12,800 và 25,600 mà chúng ta từng thấy ở các máy ảnh DSLR cao cấp, tuy nhiên A900 lại chụp hình với độ phân giải cao hơn . Bạn cũng có thể thấy, mức ISO 6400 vẫn là mức cao hơn độ nhạy lớn nhất của
1Ds Mark III.
Giống như phần cảm biến A700 trước đây, mẫu mã mới này có tính năng giảm tạp nhiễu trước và sau việc chuyển đổi kĩ thuật số đều giống nhau. Giờ đây bạn còn có thể tắt các cài đặt High ISO Noise Reduction nếu muốn.
Cũng giống như tất cả các máy ảnh Alpha DSLR, Công nghệ ổn định hình ảnh cũng được Sony đưa vào máy ảnh A900 nhằm chống rung cho máy. Dù chiếc máy ảnh này vẫn chưa có thấy hiệu ứng ổn định qua tầm nhìn, nhưng ưu điểm lớn là nó hoạt động với bất kì ống kính nào bạn đưa vào. Một phần thật sự ấn tượng nữa là hệ thống Super SteadyShot của A900 thay đổi phần cảm biến lớn hơn một mức đáng kể so với các máy ảnh Alpha DSLR ra đời trước đó.
Một ưu điểm khác của phần cảm biến đầy đủ cấu trúc này là tầm nhìn quang lớn được đi kèm với máy. Sony đã thật xuất sắc trong việc đưa ra khả năng bao quát 100% so với khả năng 95% và 96% của các máy ảnh Nikon D700 và
Canon EOS 5D. Hai chiếc máy ảnh có khả năng bao quát 100% là Nikon D3 và Canon EOS 1Ds MarkIII thì giá cao hơn máy ảnh A900 rất nhiều.
Tầm nhìn của máy ảnh A900 này đưa ra 9 điểm lấy nét (ở A700 là 11 điểm). Sony cũng cho chiếc máy ảnh mới của mình 10 điểm hỗ trợ thêm để giúp đuổi theo hình ảnh di chuyển và 9 điểm lấy nét lại được tập trung vào một vùng nhỏ ở giữa nên dường như không đuổi theo hành động dọc theo toàn bộ khung hình được.
Một tính năng hữu dụng khác nữa giúp người sử dụng có thể thay đổi màn hình lấy nét với định dạng L và M trên màn hình một cách riêng biệt. Chức năng này thật tốt cho việc sở hữu một màn hình lấy nét hay thay đổi mặc dù nó có cách thức hơi cũ là sắp các đường kẻ ngang màn hình LCD.
Xét về mặt thiết kế, Alpha A900 có kiểu dáng gần giống với A700 từ cổ trở xuống, tuy nhiên phần đỉnh đầu máy với kiểu dáng retro hình lăng trụ lớn giúp cho máy có khả năng bao quát được 100% hình ảnh.
Sự khác biệt quan trọng thứ 2 là sự hiện diện của màn hình thông tin LCd trên đỉnh bên phải của giao diện máy nơi mà A700 không có. Những ai muốn chụp hình ở chế độ ánh sáng rất thấp hay rất chói sẽ thích việc áp dụng một màn hình nằm cao hơn trên Alpha DSLR. Tuy nhiên khi các hãng khác như Canon và Nikon chú trọng đến chi tiết thì Sony lại có một lượng thông tin khiêm tốn một cách đáng ngạc nhiên : Bạn sẽ nhận được ít thông tin về độ mở ống kính, màn trập, thời gian chạy pin và việc lưu giữ hình ảnh hơn.
Màn hình LCD này đưa ra chế độ phân giải VGA 640x480 pixel so với chế độ 320x240 pixels thường thấy trên các mẫu mã 230k điểm. Giống như A700, máy ảnh này đưa ra một lượng chi tiết rõ ràng trên hình ảnh xem lại, trong khi cũng cho phép các phông chữ hợp lý trên màn hình menu. Bên cạnh đó màn hình này cũng hiển thị một lượng lớn thông tin chụp hình để dễ dàng điều chỉnh và xoay ảnh cho đến khi bạn chuyển máy ảnh sang định hướng điển hình.
Mặc dù vậy bạn lại không sử dụng màn hình được với chế độ Live View. Cũng giống như A700 máy ảnh này có xu hướng của các máy DSLR hiện tại của hãng và không đưa ra chế độ này. Việc thiếu sót này tuy không làm ảnh hưởng tới việc chụp hình nhưng lại là một thiếu sót lớn cho một máy ảnh dẫn đầu cùng danh tiếng của công ty. Bởi có một lượng lớn các nhiếp ảnh gia rất ưa chuộng chế độ Live View, đặc biệt là khi nhắc tới việc lấy nét chính xác các hình ảnh tĩnh trong các điều kiện đòi hỏi độ kĩ xảo cao.
Máy ảnh này đưa ra một vài giải pháp với lựa chọn mới Intelligent Preview – chụp thực hiện các thước chụp không lưu lại và cho phép bạn điều chỉnh sau trên màn hình cho tới khi bạn hài lòng và có thể chụp một hình ảnh chuẩn nhất rồi lưu lại nó sau. Đây dường như là chế độ thay thế cho Live View, và việc không có khả năng lưu lại các hình ảnh chụp thử chẳng hạn như các thước chụp đó rất hòan hảo thật sự là một điểm yếu của chế độ này.
A900 hoạt động với pin Info Lithium giống như các mẫu mã Alpha hiện tại. Và cũng giống như các máy ảnh này, tỉ lệ sử dụng pin được hiện trên màn hình được coi là ưu điểm lớn của hệ thống máy ảnh Sony. Bởi nếu sử dụng một máy ảnh Nikon thì bạn sẽ phải vào phần menu để biết được mức sử dụng pin hiện tại. Bên cạnh đó còn có một lựa chọn pin quang với các điều khiển điển hình và khả năng cung cấp 2 rãnh pin.
Xét về bộ nhớ, máy ảnh này cũng có rãnh cho các card Compact Flash và Memory Stick Duo mặc dù bạn không thể sử dụng chúng cùng một lúc. Cuối cùng, cũng giống A700, A900 đưa ra một cổng đầu ra HDMI để kết nối với các tivi HD mặc dù nó cũng chỉ sử dụng được cho việc xem lại ảnh.
(Biên dịch:
Vatgia - Nguồn:
cameralabs)