Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ

Trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, nhân vật Trương Sinh là người đàn ông gia trưởng, vốn tính đa nghi và hoàn toàn có cái thế của người chồng trong xã hội phong kiến. Cuộc hôn nhân của Trương Sinh và Vũ Nương là cuộc hôn nhân không có tình yêu, Trương Sinh "mến vì dung hạnh" nên đem trăm lạng vàng cưới về. Và khi Trương Sinh đi lính về, tâm trạng lại nặng nề vì tin mẹ mất. Sự nặng nề đó, kết hợp với thói đa nghi và lời nói của đứa con nhỏ đã kích động thói ghen tuỏng của Trương Anh ta đinh ninh là vợ hư: "mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được". Trương Sinh đã xử sự hồ đồ, độc đoán, la mắng, đánh đuổi vợ, không bình tĩnh phán đoán, phân tích sự việc, cũng không tin hàng xóm bênh vực Vũ Nương và những lời phân trần của nàng. Đó là thái độ độc đoán, vũ phu, hồ đồ, đẩy người vợ đến cái chết.
Hãy phân tích và nói lên cảm nghĩ của em về giá trị tố cáo và tinh thần nhân đạo của Chuyện người con gái Nam Xương?
Em chao ca nha! Em trai em truot nv2 va dang nhan duoc giay goi nhap hoc cua truong Dai hoc cong nghiep Viet_Hung. em nho ca nha ai biet ve truong nay danh gia giup em voi a! em cam on moi nguoi

Lai Hoang Doanh

Ca dao là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng.Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru êm đềm của bà của mẹ. Nó rực rỡ, thơm ngát như bông sen trong đầm, gần gũi, quen thuộc như luỹ tre bao bọc xóm làng, như cánh cò bay lả trên ruộng đồng. Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru của bà của mẹ, giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp bình yên nơi thôn quê, nỗi nhọc nhằn cũng như vẻ đẹp khoẻ khoắn của người lao động, tình cảm gia đình thắm thiết, nghĩa vợ chồng tao khang của những con người quê chân chất, mộc mạc. Trong thế giới đó, lắng sâu hơn cả vẫn là hình ảnh của những người phụ nữ xưa – đau khổ, cay đắng đến cùng cực nhưng cũng đẹp đẽ, cao quý đến vô ngần. Có thể nói, ca dao đã làm tròn sứ mệnh của nó trong việc lưu giữ những nỗi lòng của người phụ nữ bình dân xưa và mang đến cho ta cái nhìn toàn diện về họ, trong khổ đau cũng như những vẻ đẹp tâm hồn ngời sáng. Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng nghìn năm với những quan niệm bất công, khe khắt “tại gia tong phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tong tử”, quan niệm trọng nam khinh nữ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, đã dành mọi ưu tiên, ưu đãi cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng như xã hội. Nỗi niềm ấy được họ gửi gắm vào những câu ca dao than thân: - “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” - “Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày” - “Thân em như chổi đầu hè Phòng khi mưa gió đi về chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân Gọi người hàng xóm có chân thì chùi” Có biết bao nhiêu nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng nỗi khổ lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thân phận mong manh, bị động, ít giá trị. Những người phụ nữ ở đây bị “đồ vật hoá”, được định giá theo giá trị sử dụng. Thân phận họ chỉ được ví với “hạy mưa sa”, “chổi đầu hè”...Ta có thể cảm nhận được bao nỗi xót xa của người phụ nữ khi cất lên những lời ca ấy. Không phải người phụ nữ không ý thức được vẻ đẹp và phẩm giá đáng quý của mình. Họ luôn ví mình với “tấm lụa đào”, “giếng nước trong”...nhưng những phẩm chất ấy đâu có được xã hội , người đời biết đến và coi trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ trong xã hội xưa là một hằng số chung, ở tất cả các vùng miền. Người phụ nữ dân tộc Thái cũng từng đau đớn thốt lên: “Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa, con chão chuộc thôi”. Có ai đó đã nói, nếu dùng một từ để nói về số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến thì đó là “tủi nhục”. Quãng thời gian họ sống trên đời được đong đếm bằng những nỗi đau khổ mà họ phải gánh chịu. Khi còn nhỏ, sống trong gia đình, người thiếu nữ đã phải chịu sự bất công của quan niệm “trọng nam khinh nữ”: - “Cô kia cắt cỏ đồng màu Chăn trâu cho béo làm giàu cho cha Giàu thì chia bày chia ba Phận cô là gái được là bao nhiêu” - “Em như quả bí trên cây Dang tay mẹ bứt những ngày còn non” Khi đi lấy chồng, họ còn chịu thêm trăm điều cay cực. Quan niệm “xuất giá tòng phu”, “lấy chồng làm ma nhà chồng” đã khiến bao người phụ nữ xa quê phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, thấm thía nỗi buồn, nhớ khi nghĩ về quê mẹ: - “Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về với mẹ mà không có đò” - “Chiều chiều ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” - “Chiều chiều xách giỏ hái rau Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần” Nhớ nhà nhớ mẹ mà không được về, những người đi làm dâu còn phải chịu sự đày đoạ của gia đình nhà chồng, đặc biệt là mẹ chồng. Trong chế độ cũ, những người mẹ chồng xưa kia thường là “nỗi kinh hoàng” của những nàng dâu vì xã hội phog kiến với quan niệm hôn nhân gả bán cho phép người ta “mua” vợ cho con khác nào mua người lànm không công, trả cái nợ đồng lần mà chính người mẹ chồng trước đây phải gánh chịu: - “Tiếng đồn cha mẹ anh hiền Cắn cơm không vỡ cắn tiền vỡ tan” - “Trách cha, trách mẹ nhà chàng Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau Thực vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng” Trong hoàn cảnh ấy đại đa số những người phụ nữ phải cam chịu, nín nhịn nhưng cũng có trường hợp, người con dâu tỏ thái độ phản kháng có phần quyết liệt, cô “đội nón về nhà mình” dẫu biết hành động ấy sẽ bị lên án, bị không ít tiếng thị phi, cay độc vì trong xã hội xưa còn gì đáng sợ hơn bằng tội “trốn chúa, lộn chồng”: “Cô kia đội nón đi đâu Tôi là phận gái làm dâu mới về Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi ở chẳng được, tôi về nhà tôi” Sở dĩ họ phải phản kháng là do không còn nơi để bấu víu, tựa nương. Mẹ chồng đã vậy, lại còn chịu thêm nỗi khổ của “cảnh chồng chung”. Xã hội phong kiến cho phép “trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” đã gây ra bao cảnh đau lòng. Nhân dân hướng về những người vợ lẽ - những người chịu nhiều thua thiệt hơn cả để cảm thông, để lắng nghe những tiếng giãi bày xót xa, cay đắng: - “Lấy chồng làm lẽ khổ thay Đi cấy đi cày chị chẳng kể công Tối tối chị giữ mất chồng Chị cho manh chiếu, nằm không chuồng bò Mong chồng chồng chẳng xuống cho Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn Để tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con” - “Thân em làm lẽ chẳng nề Có như chính thất, ngồi lê giữa đường” Khao khát của người phụ nữ ở đây không phải là cái khao khát mang tính chất bản năng thuần tuý mà là những khát khao hạnh phúc chính đáng nhất của một con người. Vì thế họ đã nhắn nhủ nhau: - “Đói lòng ăn nắm lá sung Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng” - “Chồng con là cái nợ nần Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm”. Nhưng dù sống trong bất hạnh, tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh ánh sáng của trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha. Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ nữ vẫn vươn lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi luỵ mà vẫn toả sáng, ấm áp tình đời, tình người. Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ - những con người thuỷ chung son sắt, giàu nghĩa tình. Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ bình dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu: - “Gió sao gió mát sau lưng Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này” - “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than” Có cô gái thì hồn nhiên, tinh nghịch. Họ không quá câu nệ như các cô gái khuê phòng: Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi” Cũng có khi thật tế nhị, ý ứ, nết na: “Sáng ngày tôi đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu Thưa rằng tôi đi hái dâu Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn Thưa rằng bác mẹ tôi răn Làm thân con gái chớ ăn trầungười” Họ biết đề cao tình yêu thương, lòng chung thuỷ: - “Trăng tròn chỉ một đêm rằm Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi” - “Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đạo cương thường chớ đổi đừng thay Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày ta cũng theo nhau” Người phụ nữ đảm đang, vị tha, chung thuỷ đã thể hiện cảm nghĩ của một cách giản dị mà vẫn có sức cuốn hút lạ thường. Cả khi khó khăn họ vẫn nhẫn nại: - “Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm , sông hương mặc người” - “Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon” Chỉ những lời ca ngắn ngủi mà chất chứa trong đó bao ý tình sâu xa. Đó là lời nhắn nhủ của những người phụ nữ trọn nghĩa vẹn tình. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn đồng cam cộng khổ cùng chồng, xây dựng một gia đình đầm ấm yên vui. Ở thời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ như một hằng số, bất biến ngàn đời. Đó là sự nhẫn nại, cam chịu, là sự thuỷ chung son sắt. Dù bao khổ đau, bất hạnh vẫn không thể vùi lấp được những vẻ đẹp đó. Nó như những viên ngọc thô mà thời gian, những bất hạnh khổ đau là chất xúc tác mài giũa, càng ngày càng toả sáng lấp lánh. Văn học, nghệ thuật ngày nay cũng rất chú ý đến việc lưu giữ những vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng những làn điệu dân ca từ thuở sơ khai vẫn chính là kho tàng vô giá lưu giữ trọn vẹn nhất về những con người kì lạ ấy: càng trong đau khổ lại càng ngời sáng, thanh cao. Sẽ còn mãi lắng đọng trong tâm hồn những người dân đất Việt hình ảnh những người phụ nữ sáng lấp lánh trong những câu ca dao tự ngàn xưa.
chao cac bac, em muon mua kai may k850i nhung thay ngai vi co nhieu y kien ve loi cua k850i qua. nen em mong moi nguoi giup em cho em y kien co nen mua hay khong, bac nao biet cac loi hay gap cua no va cack khac phuc luon thi tot qua. em cam on moi...
(Xem thêm)

Hoàng tử bé

Ưu: Màn hình cảm biến 2,2 inch, hiển thị màu sắc đẹp, rõ ràng 262K màu Nhược: Phím bấm vuông, dễ để lại dấu vấn tay trên điện thoại, loa âm thanh ko mạnh mẽ, điện thoại khá dày Ý kiến: Sau khi sử dụng k800i và k810i và đợi khá lâu trước khi SE cho ra đời chiếc K850i, tôi đã nghe mọi người nói nhiều về chiếc điện thoại này. Thực sự tôi thấy nó là chiếc điện thoại rất tốt cho những người đi du lịch để có thể chụp ảnh và nghe nhạc. Với camera 5 megapixel với đèn flash Xenon và flash LED, ống kính, quay video, phím shortcut, ko có phím joystick, tất cả các tính năng này đều được cải tiến từ những dòng trước đây. Trung thực mà nói, phím điều hướng của nó mất khá nhiều thời gian để quen sử dụng. Video call rõ ràng hơn, màn hình quay tự động mang lai cho chúng ta cái nhìn sinh động khi xem ảnh và nghe nhạc video và mp3. tiếng Mega-bass là ưu điểm của K850i.
Cả nhà giúp em với

Tran Van Phuoc Duc

[:-*][:-*][:-*][quote]Từ bài viết của [b]696179[/b] [quote]Từ bài viết của [b]candvn87[/b] [quote]Từ bài viết của [b]cafeden[/b] Từ Hải - người anh hùng có chí khí phi thường (đoạn trích Chí khí anh hùng) - Từ Hải là nhân vật được ND gửi gắm nhiều ước mơ, hoài bão,khát vọng nhân văn và cao đẹp. - Từ là một người anh hùng cái thế, có chí lớn muốn làm nên sự nghiệp để làm nên tiếng anh hùng "đâu đấy tỏ". + Trong toàn truyện Kiều, ND chỉ có một lần dùng từ "Trượng phu"(người đàn ông có chí khí lớn) và chính là được dùng để nói về Từ Hải ở đoạn trích này. + Tầm vóc vĩ đại cũng như khát vọng, chí khí lớn lao của người anh hùng được thể hiện qua những thủ pháp miêu tả ước lệ và mang tầm vũ trụ: "động lòng bốn phương", "trời bể mênh mang""bốn bể"... + Hình ảnh tư thế người anh hùng hiện lên gắn với hình ảnh "thanh gươm yên ngựa" và được so sánh với chim Bằng (loại chim huyền thoại được dùng để so sánh với chí lớn của nam nhi)... + Khao khát về một sự nghiệp lớn: được thể hiện qua hình ảnh mang tính chất ước lệ: "Bao giờ 10 vạn tinh binh - Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường" .Hình ảnh thơ có cả âm thanh, màu sắc, sức mạnh diễn tả khí thế và khát vọng, hoài bão lớn lao của Từ hải. + Một trang nam nhi tràn đầy lòng tự tin: tin vào tài năng, sức mạnh của bản thân, tin vào tương lai "Bằng nay bốn biển là nhà" nhưng sẽ có ngày nắm trong tay "mười vạn tinh binh", và ngày đó không phải là xa vời "Đành lòng chờ đó ít lâu - Chầy chăng là một năm sau vội gì". - Không chỉ ý thức rõ ràng về tài năng, nghĩa vụ, lí tưởng của mình mà còn quyết tâm thực hiện lí tưởng đó. + Từ đã biết vượt qua những níu kéo của tình cảm cá nhân riêng từ, vượt qua thói "nữ nhi thường tình" để sẵn lòng ra đi làm nên nghiệp lớn. Cả một hệ thống Từ ngữ thể hiện sự quyết tâm, dứt khoát đó: "thoắt" , "thẳng rong", "quyết lời", "dứt áo ra đi". + Cuộc chia tay Từ Hải - Thúy Kiều khác hẳn với cuộc chia tay giữa Kiều và Kim Trọng cũng như cuộc chia tay Kiều - Thúc Sinh về: tính chất, hoàn cảnh, tâm trạng, thái độ, hành động của người ra đi và người ở lại.[/quote][/quote][/quote]

cao duc manh

ba`j na`y tui cu~ng dang ra^'t ca^n co' ai bi't ko giu'p tui vo*'i nha? tui la "CAO DU*'C MA.NH LO*P :11A6 tru*o*`ng THPT CA^?M THU?Y 3

styles

Gợi ý làm bài Phân tích bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu bạn khai triển từ ý trong này ra nhé! Giá trị lớn nhất của bài phú này là : với lòng tự hào dân tộc,bằng một hơi văn liền mạch,bút pháp bi hùng,tác phẩm gợi lên trong lòng người đọc cảm hứng hào hùng về những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng,cảm hứng bi tráng thuộc hào khí Đông A. 1.Tác giả - Trương Hán Siêu ( ?-1354 ) tự là Thăng Phủ ,hiệu Đôn Tẩu , người xã phúc thành , huyện Yên Ninh ( nay thuộc thị xã Ninh Bình ). Ông có tài và học giỏi , từng là môn khách của Trần Hưng Đạo , sau làm quan từ triều Trần Anh Tông đến triều Trần Dụ Tông , lúc chết được thăng tước Thái Bảo , Thái phó và được thờ ở Văn Miếu ( Thăng Long ). - Tính tình cương trực , học vấn uyên thâm , sinh thời được các vua Trần tin cậy , nhân dân kính trọng. - Tác phẩm: còn 4 bài thơ và 3 bài văn , trong đó có Bặch Đằng giang phú nổi tiếng nhất. 2. Hoàn cảnh sáng tác: - Bạch Đằng là một nhánh sông Kinh Thầy , nơi ghi dấu những chiến công hào hùng và trở thành thi tứ cho nhiều tác phẩm văn học. - Ước mơ đoán viết vào khoảng 50 năm sau cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông thắng lợi. 3. Thể loại: - Viết theo thể phú , nguyên tác bằng chữ Hán. - Phú là thể hiện văn vần , dùng để tả cảnh vật , phong tục , tập quán , tính tình .Hai loại phú phổ biến là phú cổ thể và phú Đường Luật .Phú cổ thể vốn có từ trước đời nhà Đường , có vần , không đối , như bài ca dài , hoặc bài văn xuôi có vần , vì thế nên còn gọi là phú lưu thuỷ ( nước chẩy ).Còn Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường , có vần , đối , theo luật bằng trắc khá chặt chẽ .Bài phú của Trương Hán Siêu viết theo lối cổ thể .Bản dịch theo nguyên điệu , trừ hai bài ca cuối cùng chuyển sang thể lục bát . 4. Câu tứ: - Dùng hình thức đối đáp giữa khách và bô lão. Khách ở đây chính là tác giả. 5.Phân tích: 5.1 Giới thiệu người và hoàn cảnh: - Người: + Khách : là nhân vật do tác giả sáng tạo nên , nhưng ở đây cũng chính là tác giả .Trong thể phú , thường có nhân vật khách để kể chuyện cho hấp dẫn. + Khách đến những địa danh nổi tiếng Tính ước lệ -> người có lòng yêu thiên nhiên , thú du ngoạn , tâm hồn khoáng đạt , chí khí lớn lao , mang tráng chí bốn phương . Bặch Đằng ->tả thực .Không chỉ có thú tiêu dao mà còn là người yêu lịch sủ dân tộc ,học ltheo Tử Trường xưa. Giọng văn thanh thản , phơi phới. =>Hình tượng nhân vật khách : tự khẳng định mình là một hồn thơ,một khách hải hồ đồng thời là một kẻ sĩ thiết tha với đất nước và lịch sử dân tộc. - Cảnh: + Sông Bặch Đằng hùng vĩ , hoành tráng: Bát ngát sóng kinh muôn dặm, Thướt tha đuôi trĩ một mầu. Nước trời : một sắc. Phong cảch : ba thu. + Nhưng lại ảm đạm , hiu hắt: Bò lau san sát, Bến lách đìu hiu. Sông chìm giáo gãy, Gò đầy xương khô. + Qua cách nhìn cảnh vật , ta đọc tâm trạng của khách vừa vui , vừa buồn , vừa tự hào , vừa tiếc nhớ .Vui với cảnh sông nước mênh mồn , có thuyền bè xuôi ngược .Buồn đau,nuối tiếc vì thấy cảnh chiến trường xưa ,chiến thắng oanh liệt còn hừng hực là thế , mà nay sao trơ trọi , hoang vu , hiu quạnh là vậy .Dòng thời gian đang làm mờ bao dấu vết.Bởi thế: Buồn vì cảnh thảm, Đứng lặng giờ lâu. Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, Tiếc thay dấu vết luống còn lưu. + Giọng điệu trầm lặng .Một tâm hồn phóng túng , mạnh mẽ cũng trở nên sững sờ , buồn tiếc. =>Nhân vật khách , tuy có tính chất công thức của thể phú , đã được Trương Hán Siêu thổi vào , trở nên sinh động .Nhân vật khách chính là cái tôi của tác giả , một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước, với lịch sửdân tộc. 5.2 Lời các bô lão: - Bô lão: + Hình ảnh tập thể , người dân địa phương , có thể từng chứng kiến hoặc tham gia các trận chiến xưa. + Xuất hiện như một sự hô ứng có tính lịch đại,có thể nhằm tạo không khí đối đáp tự nhiên,kể cho khạch nghe về những trận thuỷ chiến. + Thái độ các bô lã nhiệt tình hiếu khách. - Trận Bặch Đằng qua lời kể các bô lão: +Lời kể được sắp xếp tho dòng hồi tưởng. +Giới thiệu hai trận đánh. +Tả lại cnảh chiến trận,chủ yếu là chiến tích năm 1288. Lúc đầu ra quân trong thế trận giằng co , ngang sức ngang tài , bất phân thắng bại .Cuộc chiến diễn ra ác liệt , đến nỗi : Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất sắp đổi. Câu văn sử dụng biện pháp đối lập báo hiệu một trận đánh kinh thiên động địa . So sánh trận chiến thắng Bạch Đằng với trận Xích Bích , Hợp Phì ( của Trung Hoa ) với niềm tự hào dân tộc. Nghệ thuật : lời kể súc tích , đầy cảm hứng , có hồi hộp nhưng sảng khoái của người trong cuộc .Lời kể , lúc dùng câu ngắn gợi không khí gấp gáp căng thẳng , lúc câu dài gợi không khí trnag nghiêm dõng dạc. Cách miêu tả ngắn gọn mà vẫn cụ thể , tỉ mỉ khiến người đọc tưởng như cuộc chiến đang diễn ra trong hiện tại. - Lời bình luận các bô lão: +Suy nghĩ về nỗi nhục của kẻ thù . +Suy ngẫm về nguyên nhân ta thắng , địch thua .Ta chiến thắng vì ta chiến đấu bảo vệ non sông , chiến đấu cho chính nghĩa .Trời lại cho nơi đất hiểm .Nhưng điều quyết định là ta có nhân tài. Từ khi có vũ trụ, Đã có giang san. Quả là : trời đất cho nơi hiểm trở, Cũng nhờ : nhân tài giữ cuộc điện an. Nhấn mạnh yếu tố con người là cảm hứng mang tính nhân văn , có tầm triết lý sâu sắc. Lời bình luận vừa hào hùng sâu lắng thiêng liêng. +Tâm trạng của các bô lão khi nhắc đến người xưa , cũng buồn thương , tiếc nuối : Đến chơi sông chừ ủ mặt, Nhớ người cưa chừ lệ chan. +Lời ca của bô lão là lời tuyên ngôn sảng khoái , dõng dạc về chân lý: nhưng kẻ nghĩa tiêu vong , người anh hùng sẽ bất tử như sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch sử. 5.3 Lời ca của khách: - Ca ngợi công đức hai vị vua Trần ( Trần Thánh Tông , Trần Nhân Tông) đem lại thái bình cho đất nước. - Bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở. - Ở câu cuối , khách vừa biện luận , vừa khẳng định chân lý : sức mạnh chính nghĩa , đạo đức dân tộc là yếu tố quyết định chiến thắng. - Lời ca của khách chỉ có bốn câu mà ý tưởng sâu xa.Giọng văn phơi phới , hân hoan. 6.Chủ đề: Qua việc tái hiện không khí chiến thắng hào hùng trên sông Bặch Đằng , tác phẩm toát lên niềm tự hào dân tộc - tự hào về truyền thống anh hùng bất khất , tinh thần chuộng đạo lý của dân tộc , vẻ đẹp tâm hồn con người Đại Việt Bài giải của bạn: tadieuanh 11:04:13 Ngày 11-01-2008 Sông Đằng một dải dài ghê Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông Những người bất nghĩa tiêu vong Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh. * 4 câu thơ tác giả đã khẳng định sự trường tồn vĩnh cửa của dòng sông Bạch Đằng và những chiến công lẫy lừng đã gắn kết trên dòng sông này. Qua đó khẳng định một triết lí : " bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thì lưu danh muôn thuở" Anh minh hai vị thánh quân Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh Giặc tan muôn thuở thanh bình Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao. * Người khách nuối tiếc ca ngợi về non sông hùng vĩ hoành tráng về vai trò của con người và đặc biệt là hai vị vua tài đức Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông trong công cuộc giữ nước

Nguyen Ha My

--->Nói về số phận của người con gái dưới chế độ phong kiến cần nhắc tới 1 số điều cơ bản sau: -Người con gái dưới chế độ pk phải chịu gò mình trong khuôn giáo,lễ tiết:họ bị gò bó trong khuôn phép của"tam tòng ,tứ đức". +Cha mẹ đặt đâu ,con ngồi đấy .Lấy chồng là phải theo chồng . Người chồng được coi là tru cột của gia đình ,và lời nói của họ có sức nặng trên hết . -->dù bà con làng xóm hết lời khuyên giải ,lên tiếng bảo vệ Vũ Nương thì chàng trương vẫn khăng khăng một mực cho rằng mình đúng. -Hôn nhân theo kiểu phong kiến :người phụ nữ phải thuận theo sự sắp đặt của đôi bên GDD :không được tìm hiểu đối tượng trước hôn nhân->vợ chồng có những hiểu lầm đáng tiếc ->cái chết oan uổng . "Cần thấy Vũ Nương là một hình tượng điển hình cho người phụ nữ phải gò mình ,bó buộc trong khuôn khổ lễ nghi giáo phép của XH phong kiến.Cuộc đời nàng không do nàng tự quyết định (Cha mẹ đặt đâu ,con ngồi đấy). Nàng và Trương Sinh tuy đã cưới nhau nhưng chưa hề qua giai đoạn "tìm hiểu trước khi cưới " như thế hệ ngày nay .Trương kia cũng chỉ là nghe tiếng về nàng mà đưa lễ sang dạm hỏi... Hai vợ chồng ăn ở với nhau chưa được bao lâu thì chồng lại phải đi xa... --->Chuyện hiểu lầm ,ghen tuông của Trương khi nghe chuyện con kể là lẽ thường. Vũ Nương tuy được bà con hàng xóm hết lời nói đỡ với chàng Trương nhưng tác động bên ngoài không đủ mạnh để đánh bại ĐỊNH KIẾN bấy giờ. Người con gái đã xuất giá là phải theo chồng ,cho nên bị chồng đuổi đi đồng nghĩa với việc không còn nời nào để tới ,nàng tất rơi vào cảnh cùng đường ->phải tìm đến cái chết để minh oan. Hành động tự vẫn của Vũ Nương tuy sau này dẫn đến những chuyện đáng tiếc ...nhưng nó thể hiện sự phản kháng của người phụ nữ bấy giờ ,thể hiện đức hạnh cao đẹp của người con gái trinh tiết." -->Đây là 1 đoạn có liên quan mà hôm nọ 1 bạn mới ? chị! Còn 1 điều nữa mà có thể dễ dàng nhận ra :Kiếp hồng nhan thì thường "bạc phận" -->Những người con gái tài đức xưa kia thường không tìm được hạnh phúc cho bản thân mà như người ta vẫn nói là "tài tình chi lắm cho trời đất ghen"... Bạn làm theo những gợi ý trên nhé!
Sản phẩm nổi bật

Thành viên tích cực

1

Dang Anhs

1 lượt cảm ơn
2

Nguyen Van Cuong

1 lượt cảm ơn
3

Nguyê n Thi Nga

1 lượt cảm ơn
4

Hương Trịnh

1 lượt cảm ơn
5

Pham Thi Hai Trang

1 lượt cảm ơn