Tìm kiếm theo danh mục
cam nhan cua anh chi ve ve dep thien nhien va tam hon cun nguyen trai qua bai tho canh ngay he! giup em nha cac pac

rtỵky

Thử tham khảo bài viết này xem thế nào em nhé Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới) là một trong những bài thơ đặc trưng nhất cho nội dung và nghệ thuật của Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Bài thơ là một bức tranh ngày hè với vẻ đẹp độc đáo, đặc sắc, là tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước. Bài thơ bình dị, tự nhiên, câu thơ lục ngôn xen thất ngôn, từ ngữ có sức miêu tả sinh động… Trong quá trình soạn giảng thi phẩm này từ khi thực hiện chương trình chỉnh lí hợp nhất đến chương trình thí điểm phân ban, rồi đến chương trình phân ban đại trà hiện hành, bản thân tôi có đôi điều trăn trở sau đây. 1. Về một chữ ở câu 4: “Hồng liên trì đã tịn mùi hương” hay “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”? Về chữ này, các nhà biên soạn sách giáo khoa Văn học 10 (chương trình chỉnh lí hợp nhất) chọn đưa vào bản phiên là “tịn” (từ cổ, biến âm của “tận”, nghĩa là “hết”) và nhiều tài liệu tham khảo dùng cho giáo viên và học sinh lâu nay cũng đều phân tích, giảng bình bài thơ theo bản này. Đến chương trình thí điểm phân ban, các nhà biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn 10, bộ 1, đã quyết định chọn bản phiên chữ này là “tiễn” với chú thích như sau: “Tiễn: từ Hán Việt có nghĩa đầy, có thừa, trong câu này có thể hiểu là ngát hoặc nức. Hai câu: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ - Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”, ý nói trong khi thạch lựu ở hiên còn đang tiếp tục phun thức đỏ, thì sen hồng trong ao đã ngát mùi hương”. ... Tóm lại, phiên chữ này ở câu 4 là tiễn và hiểu là “ngát” hoặc “nức” thì vừa có căn cứ, lại hợp với văn cảnh bài thơ hơn”. Các soạn giả còn chứng minh trong phần hướng dẫn Tiến trình tổ chức dạy học như sau: “Cây trước lầu, ngoài ao đều ở trạng thái tràn đầy sức sống, đua nhau trổ dáng, khoe sắc, toả hương. Cây hoè trước sân, lá lục đùn đùn, tán rợp giương ra. Cây lựu ở hiên trong khi còn liên tục phun những bông hoa đỏ thắm, thì sen hồng ngoài ao đã kịp nức mùi hương. Lưu ý: sen nở hoa vào mùa hè, đến mùa thu thì tàn (“Sen tàn, cúc lại nở hoa” - Truyện Kiều). Thạch lựu cũng nở hoa vào mùa hè, mùa thu quả chín. Các từ đùn đùn (= dồn dập tuôn ra), giương (= giương rộng ra), phun, tiễn (= ngát, nức) gợi tả sức sống căng đầy chất chứa từ bên trong tạo vật, tạo nên những hình ảnh mới lạ, gây ấn tượng”. Theo như sách giáo viên ở trên thì cả “thạch lựu”, cả “sen” đều cùng “nở hoa vào mùa hè”, cả hai đều đang cùng chung trạng thái “ngát, nức”, căng đầy sức sống trong bức tranh “cảnh ngày hè” mà một bên thì “còn”, một bên thì “đã”? Bởi vì như chúng ta biết, cặp phụ từ “còn” và “đã” thường được người ta dùng để diễn đạt hai trạng thái nghịch chiều, so le kiểu như: Còn nhỏ mà đã yêu với đương. Khách còn ăn, chủ đã đứng dậy. Tôi còn muốn nói chuyện mà bạn đã ngủ…chứ rất hiếm khi nghe người ta dùng để diễn đạt hai trạng thái thuận chiều, ăn nhịp kiểu như: “trong khi thạch lựu ở hiên còn đang tiếp tục phun màu đỏ, thì sen hồng trong ao đã ngát mùi hương”; “cây lựu ở hiên trong khi còn liên tục phun những bông hoa đỏ thắm, thì sen hồng ngoài ao đã kịp nức mùi hương” ở chú thích và gợi dẫn nói trên. Đọc đến đây, nếu ai đó vẫn băn khoăn rằng hiểu câu 4 là sen hồng ở ao đã hết mùi hương e không hợp lắm với văn cảnh bài thơ thì nên lưu ý rằng ở câu 6 của bài thơ còn nói đến “lầu tịch dương” - mặt trời sắp lặn đó thôi. Phải chăng tính nhất quán, lôgic của văn cảnh nằm ở chỗ: Cảnh vật đang ở vào khi cuối: cuối mùa, cuối ngày, nhưng sự sống thì không dừng lại, cảnh vật vẫn cứ ứa căng, tràn đầy sức sống: cây hoè trước sân đùn đùn tán rợp trương xanh mát một khoảng trời, thạch lựu hiên nhà phun thức đỏ rực rỡ, phiên chợ chiều làng ngư phủ lao xao vui tai vui mắt, ve lầu tây dắng dỏi như bản đàn tấu lên rộn rã… Một bức tranh toàn cảnh cuối hè nơi thôn dã được chủ thể cảm nhận không chỉ bằng thị giác, khứu giác, thính giác mà còn bằng cả tâm hồn của mình. Bức tranh đó đi vào trang thơ đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của thi nhân nhưng vẫn tươi nguyên tính hiện thực, sinh động, cụ thể như nó vốn có. 2. Về việc lựa chọn cách hiểu với hai câu cuối: Ca ngợi cảnh “Dân giàu đủ khắp đòi phương” đã có hay ước vọng cảnh “Dân giàu đủ khắp đòi phương” chưa có? Tác giả cuốn Tư liệu Văn 10, phần Văn học Việt Nam, viết: “Cảnh sống của nhân dân náo nhiệt tấp nập và giàu đủ nữa. Đó là cảnh làng cá bước vào buổi chợ với những mẻ bội thu, cảnh mua bán thật tấp nập yên vui. Không có một dấu hiệu gì của sự trì trệ, của sự mất an ninh, của sự thiếu đói. Đúng là cảnh đời thái bình thịnh trị, rất đáng gảy lên khúc đàn vua Thuấn. Tâm hồn Nguyễn Trãi thảnh thơi, sự thảnh thơi hiếm có giữa những trang thơ Nôm của ông. Nhà thơ vui với cái vui của người dân lao động, vui chân thật bình đẳng (…) Nhà thơ lạc quan với cuộc sống thiên nhiên đang lên, đang phát triển tràn ngập màu xanh và đầy ắp đời thường no đủ”. Cũng với cách hiểu, cách luận giải theo hướng này, tác giả cuốn Giảng văn Văn học Việt Nam viết: “Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với con người, với dân, với nước (…) Thật hiếm hoi khi thấy Nguyễn Trãi có được những phút giây thanh thản. Ở đây ông có cả một “ngày trường” thưởng thức thiên nhiên với một tâm trạng lâng lâng, sảng khoái. Ức Trai tự giành cho mình quyền “Rồi hóng mát thuở ngày trường” bởi niềm mơ ước, nỗi trăn trở dày vò, mục đích lớn nhất của đời ông đã được thực hiện: dân ấm no hạnh phúc. Nhìn cảnh sống của dân, đặc biệt là người lao động - những dân chài lam lũ - được yên vui, no đủ, Nguyễn Trãi ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gẩy khúc Nam phong ca ngợi cảnh: Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Chúng ta biết rằng, trong Quốc âm thi tập, bên cạnh phần thơ thiên nhiên và bao trùm lên cả đề tài thiên nhiên là một chủ đề khác quan trọng hơn: sự giãi bày những tâm sự thiết tha nhưng phải nén kín của nhà thơ. Đặc biệt xuyên suốt những nỗi niềm tâm sự ấy có một nét nổi bật, làm thành cảm hứng chủ đạo trong thơ Ức Trai, đó là tấm lòng yêu thương, gắn bó với con người, với cuộc đời không lúc nào nguội lạnh, ý muốn thiết tha giúp nước và chủ nghĩa trung quân tích cực… Quốc âm thi tập mở ra cho người đọc thấy một trái tim đau thương cao cả, một tâm hồn rất mực giàu có, một tình cảm biết nén nỗi buồn để lúc nào cũng có thể lạc quan yêu đời. Nguyễn Trãi suốt đời đau đáu một hoài bão lớn: làm gì để “yên dân”, người dân lầm than khổ cực được yên vui, an lành, no ấm, hạnh phúc trong “nền thái bình muôn thuở”. Đáng tiếc, quan lộ của Nguyễn Trãi không mấy yên ổn, nên ông không có đủ cơ hội đem tất cả chí hướng và tài năng của mình cống hiến cho nước, cho dân. Khi đã không còn được trọng dụng, đã lui về bầu bạn cùng thiên nhiên trong sạch và tràn đầy sức sống, lòng Nguyễn Trãi vẫn không nguôi hướng về cuộc đời sôi động còn bao nỗi cay đắng, bất công, vẫn thiết tha mong muốn lại được mang tài trí của mình ra giúp đời giúp nước: Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng. Diễn giải như thế để chúng ta có thể thấy cách hiểu của Nguyễn Thành Chương và Lã Nhâm Thìn trong các phần trích dẫn trên đây, đặc biệt là ở những chỗ đã được người viết bài này gạch chân, về hai câu cuối bài Cảnh ngày hè là không ổn. Các cách hiểu sau đây giàu sức thuyết phục hơn: Cách hiểu của Đoàn Đức Phương trong Học văn lớp 10, NXB Giáo dục, 1995: “Hai câu cuối kết đọng biết bao suy tư của nhà thơ. Ông vui với thiên nhiên, với con người, nhưng hơn thế ông còn khao khát hành động để giúp đời giúp nước. Niềm khao khát ấy thể hiện ở ước mơ có được cây đàn của vua Thuấn để ca ngợi cảnh thái bình, hay nói đúng hơn, đó là ước mơ: làm sao có được một triều đại thái bình thịnh trị như đời Nghiêu Thuấn để nhân dân muôn nơi được sống trong sung sướng, hạnh phúc, yên vui. Ước mơ xuất phát từ những gì chưa có. Thời Nguyễn Trãi chưa có cảnh: “Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Do đó hai câu thơ nặng trĩu đau đời và sâu lắng một tinh thần trách nhiệm cao cả”; Và cách hiểu của các soạn giả Sách giáo viên Ngữ văn 10 của chương trình thí điểm phân ban, bộ 1, cũng như của chương trình nâng cao, phân ban đại trà hiện hành: “Ông (tức Nguyễn Trãi – HĐK chú thích) lẽ ra lúc này phải có cây đàn của vua Thuấn, đàn một tiếng để nói lên niềm mong mỏi lớn nhất của mình là dân chúng khắp nơi đều được giàu có, no đủ”... Tóm lại, về bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới, bài số 43) của Nguyễn Trãi, các nhà biên soạn nên chọn đưa vào chương trình bản phiên chữ thứ 5 của câu 4 là “tịn” (tận, hết) để thể hiện được ý nghĩa của cặp phụ từ “còn” – “đã” trong câu này và câu 3 đứng trước, thể hiện được bức tranh trong bài thơ là bức tranh ngày hè độ cuối mùa còn căng tràn sức sống với tất cả tính chân thực, sinh động, cụ thể của nó. Người dạy, người học nên chọn cách hiểu đối với hai câu cuối là ước vọng của Nguyễn Trãi về viễn cảnh “Dân giàu đủ khắp đòi phương” để phù hợp hơn với cảm hứng chủ đạo trong Quốc âm thi tập, với thực tế lịch sử -xã hội thời đại Nguyễn Trãi, với tấm lòng đau đáu khát vọng “yên dân”, với những uẩn khúc của một nhà nho tinh thần trách nhiệm cao cả nhưng không còn cơ hội thực hiện trọn vẹn lý tưởng đời mình, với cái tình thế nhàn cư mà chẳng nhàn tâm trong những ngày dài “nhàn quan” của vĩ nhân Ức Trai Nguyễn Trãi.

nguyễn hoàn

Để biết được minh làm bài chính xác hay không, và cách tính điểm như thế nào. Ngay bây gì ban có thể biết chính xác. Có cách nay rất đơn giản Ban soan tin: DAPAN_VAN gửi tới 8785 Hoặc bạn có thể gọi tới: 1900 599 974 Đến với Sóng, ta bắt gặp một tâm hồn phụ nữ dạt dào và chủ động trong tình yêu. Không còn phải dè dặt, bóng gió như phần đông phụ nữ thời trước, không tự trói buộc lòng mình, người phụ nữ ở đây đã mạnh dạn, chủ động giãi bày một tình yêu đắm say, sáng trong và chung thuỷ. Nhân vật trữ tình - người phụ nữ đang yêu ở đây là sóng- sóng khao khát, sóng tìm đến và trở về với bờ "dù muôn vời cách trở" chứ không phải bờ lặng yên và đón nhận.
Cảm nhận về bài thơ " Cảm tưởng đọc thiên gia thi " của Hồ Chí Minh " Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong " Cho mình xin mấy gợi ý cũng được...
(Xem thêm)

djghjfdg

Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã bàn về quan điểm nghệ thuật mới mẻ, hiện đại và cách mạng đó của Hồ Chí Minh. Sau đây là ý kiến phê bình của nhà văn Hoài Thanh: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải tìm hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép”. Hoài Thanh đặt vấn đề tìm hiểu thế nào là “thép” trong thơ Bác là cần thiết vì đây là quan điểm văn nghệ cách mạng của Bác. Theo Bác thì thơ xưa thiên về miêu tả cảnh thiên nhiên, biểu hiện tình yêu đối với thiên nhiên: “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng , hoa, tuyết, núi , sông;” Người quan niệm thơ ngày nay trước hết phải có chất cách mạng, có tính chiến đấu thể hiện tinh thần của người chiến sĩ cách mạng. “Nay ở trong thơ nên có thép” “chữ “thép” chỉ xuất hiện một lần trong tập thơ nhưng trong “Nhật kí trong tù” bài nào cũng có “thép”, câu nào cũng có “thép””. Nhà thờ Quách Mạt Nhược (Trung Quốc) đã nhận định như vậy. Ông Trường Trinh cũng nói trong thơ Hồ Chủ Tịch đều mang chất thép, đều toát ra tư tưởng và tình cảm của một chiến sĩ vĩ đại. Trong “Nhật kí trong tù” một mặt ta thấy có những bài trực tiếp nói đến cách mạng và thể hiện tinh thần cách mạng: “Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần phải càng cao.” (Bài thơ đề từ tập Nhật kí). Hay là: “Thà chết chẳng cam nô lệ mãi Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền Xót mình giam hãm trong địa ngục Chưa được xông ra giữa trận tiền.” (Việt Nam có biến động) Có thể kể thêm một số bài nữa như “Nghe tiếng giã gạo”, “Tự khuyên mình”, “Học đánh cờ” đã trực tiếp nói nên tinh thần cách mạng, đã “lên giọng thép”. Mặt khác, có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện “ thép”, lên giọng “thép”, mới có tinh thần “thép”. Trong tập thơ có nhiều bài thơ không hề nói đến cách mạng, tinh thần chiến đấu. Có nhiều bài thơ chỉ ghi lại sinh hoạt trong tù như “Nhà lao Nam Ninh”, “Tiền đèn”, “Tù cờ bạc”, “Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”, “Linh ngục đánh mất chiếc gậy”, “Chiếc khăn giấy của người bạn tù”… Có nhiều bài thơ thể hiện xúc cảm của nhà thơ trước hiện thực trong và ngoài tù. Nhân vật trữ tình ở đây là một thi sĩ nhạy cảm với những cảnh ngộ trớ trêu trong tù, với vẻ đẹp thiên nhiên trên đường giải tù như “Đi đường”, “Chiều tối”, “Giải đi sớm”, “Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh”, “Hoàng hôn”, “Nắng sớm”… Có nhiều bài thể hiện tinh thần trào lộng, cười cợt với đau khổ của Bác như: “Pha trò”, “Đi Nam Ninh”, “Hụt chân ngã”, “Ghẻ”, “Báo động”, “Dây trói”, “Đáp xe lửa đi Lai Tân”. Những bài thơ trên rõ ràng là không “nói chuyện thép”, không “lên giọng thép” nhưng lại có “tinh thần thép”, tinh thần kiên cường bất khuất của một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Xin dẫn ra đây một bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù” của Bác không “nói chuyện thép” không “lên giọng thép” mà có “tinh thần thép”: “Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.” Bài thơ không nói gì đến thép, chỉ nói đến rượu và hoa, chỉ có hai nhân vật là nhà thơ (thi gia) và trăng (nguyệt). Giọng điệu lại trữ tình , tha thiết. Trước trăng sáng , Bác muốn có rượu và hoa để thưởng trăng. Đó là cái thú của các thi nhân xưa nay. Lí Bạch đã từng “nâng côc mời trăng sáng” (cử bôi yêu minh nguyệt). Nguyễn Khuyến đã từng say dưới trăng thu “mắt lao không vầy cũng đỏ hoe”. Bác cũng là thi gia , sao không được tự do mà thưởng nguyệt? Tất nhiên trong cái nhà tù “rệp bò lổm ngổm như xe cóc , muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay” ấy thì nói gì đến “rượu” và “hoa”. Vì thiếu những điều kiện thưởng trăng cho xứng với trăng nên Bác hơi bối rối. Vì vậy khó có thể dịch được cái tâm trạng bối rối thoảng qua trong mấy chữ “nại nhược hà”. Một chút băn khoăn bối rối rất thi sĩ. Nhưng rồi Người lại làm chủ được tình thế. Thôi thì thưởng trăng với tất cả tấm lòng yêu mến và ngưỡng mộ vậy: “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.” Tôi tưởng tượng thấy nhà tù bấy giờ tối mịt , vài tia trăng lọt vào khe cửa sắt , Bác hướng về phía khe cửa ngắm trăng , mà Bác đã tiều tuỵ đi rất nhiều. Cái cảnh một cụ giả răng rụng , tóc bạc ,chân bị cùm ngồi ngắm trăng qua khe cửa tù , chao ôi , thơ Bác có thể làm kinh động lòng người là ở cái sự thật này đây. Trong hoàn cảnh ấy mà vẫn có được cảm hưng thơ , vẫn giữ được tư thế ung dung thì người làm thơ phải có tinh thần “thép” để vượt lên mọi gian khổ khủng khiếp của nhà tù. Chất thơ ấy , trước hết phải là chất thép. Hình tượng thi sĩ ấy bản chất phải là một chiến sĩ “uy vũ bất năng khuất”. Bài thơ tứ tuyệt hai mươi tám chữ không có chữ nào là chữ “thép” nhưng chữ nào cũng có “thép”. Giọng điệu thơ trữ tình , mượt mà , uyển chuyển mà có “tinh thần thép” , chất thép ấy , “tinh thần thép” ấy đã toát ra từ nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh.
cảm nhận về quan niệm thời gian và quan niệm sống của Xuân Diệu qua bài thơ "Vội Vàng", quan niệm này có tích cực không? ai biết giúp em với em làm mấy ngày rồi mà không được chỉ với. HUHUHU===>HELP ME HELP ME
(Xem thêm)

Kim

Vội vàng không chỉ thể hiện một hồn thơ Xuân Diệu, một tấm lòng Xuân Diệu trước cuộc đời mà còn thể hiện một quan niệm nhân sinh mới " chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống của ông". Đó là thái độ sống tích cực, sống hết mình, sống " say sưa", sống cuồng nhiệt của Xuân Diệu. Vội vàng đúng là một bài thơ tiêu biểu của một thi sĩ lớn luôn khao khát giao cảm với đời. Mặc dù có thể còn không ít cách cảm nhận khác nhau, nhưng nhìn chung bài thơ này khiến người đọc biết yêu cuộc sống trần thế, biết tận hưởng niềm hạnh phúc được sống trên trái đất này và thêm quý trọng tuổi thanh xuân một đi không bao giờ trở lại, để về sau không bao giờ phải ân hận, xót xa, bởi những năm tháng sống hoài, sống phí. Xuân Diệu mãi mãi là nhà thơ của tình yêu, của tuổi trẻ, chính có phần bởi lẽ đó.

Kim

Đây là bài thơ tình của người đang yêu chứ không phải là thư tình của người nhìn người khác yêu, bởi chỉ có người đang yêu mới diễn tả những xúc cảm tình yêu đúng như vậy. Nỗi nhớ nhung, rồi nơi tình yêu đến ... có ai biết được yêu khi nào và có ai biết được sóng từ đâu đến ! Xuân Quỳnh nói hộ tâm trạng đang yêu của mọi người " Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không nhớ được Hình ảnh " sóng" tượng trưng rất độc đáo mà vô cùng sâu lắng. Chỉ có sóng mới đêm ngày trào dâng, trái tim yêu đang ngày trào dâng, trái tim yêu đêm ngày cũng vậy. Cái hồn hậu, cái đắm say, cái tình tha thiết nhất được biểu hiện bằng hình tượng thơ này. Lấy sóng để nói nỗi nhớ, nói tình yêu thì không hẳn chỉ có Xuân Quỳnh, nhưng quả nói đến Xuân Quỳnh thì hình tượng thơ này trở nên mới mẻ bao nhiêu. Con sóng ấy có tình yêu, có niềm nhớ nhung nhưng lại mang thêm sự nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ và đấy là bản sắc riêng của Xuân Quỳnh. Nỗi nhớ nhung của con sông cũng là nỗi nhớ nhung của bao người khác nhớ người mình yêu. Tâm trạng nhớ nhung của Xuân Quỳnh cũng là tâm trạng của bao người đang yêu.

pink8x

Bạn tham khảo bài viết dưới đấy nhé: Quang Dũng là một trong những nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu cuả thời kì kháng chiến chống Pháp.Ông đặc biệt thành công khi viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến. Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai cuả đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu cuả bài thơ " Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ..... mưa xa khơi" Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu cuả Quang Dũng. Nhắc đến nhà thơ, ko ai không thể ko nhớ đến Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ. Tây Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm 1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào, trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên giới Việt Lào. Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ đượ sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì nhà thơ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần đến từ "nhớ" Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi cuả tổ quốc, sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ. "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi" Câu thơ như tiếng gọi chân thành , tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo cuả bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. "Sông Mã" ko đơn thuần là 1 con sông mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui_buồn, được_mất. "Tây Tiến" ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn " tri âm tri kỉ" để nhà thơ giãi bày tâm sự "Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi" Câu thơ thứ 2 với điệp từ "nhớ" được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang uà vào tâm trí Quang Dũng. tính từ "chơi vơi" kết hợp với từ "nhớ" đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết cuả nhà thơ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí nhà thơ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cưả cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời" Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông... Đó là địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ, mệt nhọc. Nói đến Tây Bắc, là nói đến vùng đất có điạ hình hiểm trở, khí hậy khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” Có lẽ thiên nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng nhà thơ. Thiên nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc. Nhà thơ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch khi đưa hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” để cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh , sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giưã chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu cuả bài thơ Tây Tiến là nhỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến nhưng qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung. Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút cuả lãng mạn, trữ tình cuả Quang Dũng đã trở thành 1 kiệt tác cuả mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã miêu tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất hoạ và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc cuả tâm hồn, cuả cuộc sống. Bởi thế, Xuân Diện thật chính xác khi cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong miệng. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và cuả 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế “Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn , tài hoa, lãng mạn cuả người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là kiệt tác cuả Quang Dũng khi viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.

Thành viên tích cực

1

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
2

Dung Đặng

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn
5

Hoàng thị Thìn

1 lượt cảm ơn