Thiết kế ứng dụng điện thoại theo yêu cầu của  doanh  nghiệp
Có thể khái niệm thiết kế ứng dụng điện thoại cho doanh nghiệp còn khá mới mẻ đối với một số đơn vị kinh doanh hiện nay. Khi doanh nghiệp vẫn chưa thể hiểu vì sao đã mình đã có một thiết kế website chuyên nghiệp rồi vẫn còn cần một thiết kế ứng...
(Xem thêm)

Minzy

Mình bổ sung thêm nhé, các khái niệm đi kèm với CPA thường gặp như CPC (Cost Per Click) và CPM (Cost per million). Do mỗi loại có một ưu nhược điểm khác nhau nên bạn có thể kết hợp nó lại với nhau, bổ sung cho nhau giúp tối ưu hóa thu nhập. tuy nhiên bạn nên ưu tiên hơn cho một hình thức và tập trung phát triển cho hình thức đó. Trong kinh doanh gọi là tập trung phát triển lợi thế so sánh đó.

hao

Ngang giá sức mua là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá. Công thức tính ngang giá sức mua một cách tương đối như sau: Trong đó "S" là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2 "P1" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1 "P2" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2 Ngang giá sức mua thường được hiểu là ngang giá sức mua tuyệt đối để phân biệt với lý thuyết ngang giá sức mua tương đối_một lý thuyết dự đoán mối quan hệ về tỉ lệ lãi suất giữa hai quốc gia và những sự biến đổi của tỉ giá hối đoái của tiền tệ hai nước đó. Một tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức mua của hai loại tiền tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định. Loại tỉ giá hối đoái đặc biệt này thường được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống của người dân tại hai hay nhiều quốc gia khác nhau. Điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền sẽ cho kết quả khả quan hơn là chỉ đơn thuần so sánh tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia sử dụng các đồng tiền đó. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái cũng gây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốc gia là vô cùng khó khăn.
Xin chào mọi người, Em đang làm đề tài về văn hóa quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Khái niệm văn hóa công ty thì nhiều nhưng văn hóa quản trị rủi ro thì thấy còn rất mới nên tìm trên google hầu như không thấy bài viết tiếng Việt nào viết về nó....
(Xem thêm)

ThoThongMinh

Trước tiên, việc tìm tài liệu bạn cứ tìm, nhưng để chủ động, bạn cứ phát triển phần việc của mình. Hãy bắt đầu theo một hệ thống tiên đề-định nghĩa-định lý-bổ đề-hệ quả, một cách hết sức logic, bạn sẽ ít nhiều lần ra manh mối. Nếu nghiêm túc và có đầu tư, có thể bạn có một nghiên cứu bỏ túi khá hay. Bạn cần bắt đầu với việc hiểu thế nào về văn hóa, về hệ thống giá trị, những gì người ta tin, cách thức hình thành nên niềm tin ấy, những tác động của nó vào suy nghĩ, quan sát, nhận thức thế giới công việc. Cuối cùng là hệ thống hành vi. Xét về văn hóa, nó còn bao trùm cả hệ thống kỷ luật, cung cách và chuẩn mực đạo đức, hành vi trừng phạt các vi phạm, sự "cưỡng bức giáo dục" của các nhóm, v.v.. Làm rõ được vấn đề này, bạn chuyển qua kết nối nó với vấn đề Quản trị Rủi ro, tức là đối tượng hẹp. Phép ánh xạ này giúp thu hẹp tập hợp đối tượng bạn muốn quan sát lại, và mức độ quan sát hành vi văn hóa (tức là hệ thống kể trên) cũng sẽ thu hẹp đáng kể. Người ta nghĩ gì về rủi ro. Chia sẻ quan niệm rủi ro với nhau thế nào. Liệu có cách gì mang tính hệ thống để có thể đào tạo nhau, chính thức trên lớp hay bán chính thức bằng những chỉ bảo mang tính nghề nghiệp, trợ giúp. Việc cải thiện hiểu biết tác động tới đâu trong việc đưa ra các chỉ dẫn chính thức thành chuẩn mực và quy tắc cho hành vi của con người trong tổ chức, đứng trước vấn đề phải hạn chế rủi ro. Người ta có bỏ tiền để phát triển các phương pháp thống kê, đánh giá, báo động, điều chỉnh trước tình huống rủi ro chớm phát sinh, nhận rõ hình dạng, hay đang tiến tới mức báo động không? Các tầng lớp từ quản lý cao, tới quản lý bậc trung và người thừa hành chuyên môn xem xét các vấn đề quản trị rủi ro trong góc độ của mình thế nào. Có bằng cách cụ thể nào thống kê được quá trình tiếp nhận thông tin, cố gắng tìm ra sự thật và phản ứng ở các mức hiệu quả khác nhau hay không. Các kết cục có thể của các môi trường ứng xử khác nhau với cùng một loại vấn đề như quản trị rủi ro dẫn đến các khác biệt ở mức độ nào. Bạn khai thác những khía cạnh như vậy, cố gắng sắp xếp chúng vào một khuôn khổ nghiên cứu khoa học (cho dù là không lớn lắm) để tìm ra được một vài đặc điểm nổi bật, càng có ảnh hưởng tới nhận thức của người đọc càng tốt (như thế là bạn thành công). Tôi có thể sơ bộ lấy ví dụ với hệ thống ngân hàng. Nợ xấu từ lúc không ai quan tâm tới lúc tất cả cùng quan tâm, là một vấn đề rất lâu dài, nhiều hội thảo, chỉ thị, họp hành, huấn luyện, đào tạo, v.v.. mới hình thành nên. Tới giờ nhiều nơi đã thực sự nắm được vấn đề, thậm chí hướng giải quyết. Nhưng cấp cao, thấp nhìn nhận ra sao. Việc họ hiểu chúng có nhất thiết dẫn tới sẽ tìm cách chế ngự không. Cấp trên muốn cấp dưới có muốn không (hay ngược lại). Muốn giải quyết nó nhưng có bỏ tiền và công sức xây dựng dữ liệu để kiểm tra, báo động không. Có luật lệ và lề lối quản trị rủi ro nợ xấu ngân hàng hay không. Có rồi thì có ai thực hiện không. Thực hiện theo quy chuẩn rồi có thấy nó cải thiện không. Cải thiện rồi thì nó đã phải là tốt nhất và hiệu quả không. (Có cái cải thiện xong thì kém đi. Có cái làm cũng khá được, nhưng phát hiện ra cách khác rẻ hơn và hiệu quả hơn, v.v..) Và đặc biệt là cái khối con người liên quan tới hệ thống ấy nghĩ gì, chia sẻ gì, biến thành hành vi gì. Như thế, bạn đã có một đề tài thú vị, giúp nhiều người hiểu biết cùng bạn. Học cách tự tìm và tiến hành điều tra các survey nhỏ. Những nhận định mơ hồ sẽ trở nên sáng rõ dần. Chúc bạn thành công.
Thời gian gần đây trong giới CNTT và các doanh nghiệp xuất hiện một thuật ngữ khá phổ biến, đó là ERP. Có thể ai cũng có một số khái niệm căn bản về ERP là Enterprise Resource Planning: Quản lý nguồn lực doanh nghiệp , nhưng hầu như đó chỉ là...
(Xem thêm)

Nguyên Vũ

ERP được định nghĩa là một hệ thống ứng dụng đa phân hệ” (Multi Module Software Application) giúp tổ chức, doanh nghiệp quản lý các nguồn lực và điều hành tác nghiệp . Bản chất ERP là một hệ thống tích hợp các phần mềm ứng dụng đa phân hệ nhằm giúp tổ chức, doanh nghiệp quản lý các nguồn lực và tác nghiệp. Giải pháp ERP cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp khả năng quản lý và điều hành tài chính – kế toán, quản lý vật tư, quản lý sản xuất, quản lý kinh doanh và phân phối sản phẩm, quản lý dự án, quản lý dịch vụ, quản lý khách hàng, quản lý nhân sự, các công cụ dự báo và lập kế hoạch, báo cáo, .v.v. Thêm vào đó, như một đặc điểm rất quan trọng mà các giải pháp ERP cung cấp cho các doanh nghiệp, là một hệ thống quản lý với quy trình hiện đại theo chuẩn quốc tế, nhằm nâng cao khả năng quản lý điều hành doanh nghiệp cho lãnh đạo cũng như tác nghiệp của các nhân viên. Một giải pháp ERP hiệu quả cho doanh nghiệp:
Bạn nào có thể cho mình biết rõ về khái niệm về công ty THHH một thành viên là công ty như thế nào không ?

max1102

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.

Lê Xuân Cường

ODA là viết tắt của từ Official Development Assistant nghĩa là: Viện trợ phát triển chính thức. ODA là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển từ bên ngoài bao gồm tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các quốc gia khác. Vốn ODA là các khoảng viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi nhất định. Nó có 3 loại: Viện trợ không hoàn lại. Viện trợ hoàn lại. Viện trợ hỗn hợp (bao gồm 2 loại trên.
Mọi người ơi giúp em trả lời câu hỏi này với. Câu hỏi trong đề cương môn Kinh Tế Học của em đấy ạ .

fghgfshh

Thị trường chứng khoán: là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch. TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận. Chức năng của TTCK 1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. 2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. 3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao. 4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. 5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Cơ cấu Thị trường Chứng khoán: Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại: 1. Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. 2. Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK: 1. Nguyên tắc cạnh tranh: Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá. 2. Nguyên tắc công bằng: Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó. 3. Nguyên tắc công khai: Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan. 4. Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình. 5. Nguyên tắc tập trung: Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản. Các thành phần tham gia TTCK: 1. Nhà phát hành: Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán. 2. Nhà đầu tư: Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: - Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời. - Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán. 3. Các công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh. 4. Các tổ chức có liên quan đến TTCK: - Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam. - Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK. - Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán. - Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.

fghgfshh

Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó. Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi. Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước. Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)... Một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trước khi chiến tranh thế giới nổ ra, một USD có giá trị tương đương với 4 mark Đức, nhưng chỉ 10 năm sau, một USD đổi được tới 4 tỉ mark. Vào thời đó, báo chí đã đăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này: người ta vẽ cảnh một người đẩy một xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đó đồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu. Lạm phát được tính như thế nào? Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này. Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế..., được mua bởi "người tiêu dùng thông thường". Nguyên nhân lạm phát Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính. Cân đối thu chi là điều không thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát - Lạm phát do cầu kéo Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là”quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hoá”. - Lạm phát do chi phí đẩy Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế... Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng. - Lạm phát do cơ cấu Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó. - Lạm phát do cầu thay đổi Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát. - Lạm phát do xuất khẩu Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng. - Lạm phát do nhập khẩu Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên. Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền sụt giảm - Lạm phát tiền tệ Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát. Ai là nạn nhân của lạm phát? Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là: - Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã tăng lên gấp nhiều lần. - Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm đánh mất của cải nhanh nhất. - Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn. Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn. - Những người thuộc diện nghèo trong xã hội (thu nhập dưới 1USD/ngày): đây là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của lạm phát khi số tiền ít ỏi của họ giờ đây không đủ cho 1 bữa ăn gia đình. Tuy nhiên lạm phát ở mức độ vừa phải cũng có cái lợi, đó là nó góp phần phân phối lại thu nhập trong xã hội, giữa những người thừa tiền và những người có hàng hoá cần thanh lý. Sau khi lạm phát kết thúc thì tiền sẽ phân phối đều hơn, ít trường hợp người này wá nhiều tiền còn người kia wá nhiều hàng nhưng lại thiếu vốn. Chú ý: Có người học xong ĐH mà còn chưa biết cơ chế của lạm phát đấy nhé! Thật đáng báo động!
Nhiều người đã nói chuyện với tôi về các khái niệm này nhưng dường như mỗi người lại có một quan điểm khác nhau về chúng. Hai khái niệm này giống hay khác nhau?

Đỗ Thị Trinh

Đây là một câu hỏi rất hay. Đa số các chuyên gia đều công nhận rằng Kinh doanh theo mạng, hay còn được gọi là Kinh doanh đa cấp, là một phần của của khái niệm bán hàng trực tiếp trong đó các sản phẩm hoặc dịch vụ được phân phối trên cơ sở trực tiếp giữa người và người và được người bán bán hàng bán cho người tiêu dùng.Tuy nhiên, hai khái niệm này trên thực tế lại tạo ra kiểu hành vi rất khác nhau đối với những người bán hàng. Những công ty bán hàng trực tiếp được biết đến với đặc trưng dựa trên“ người bán”, có nghĩa rằng họ chiết khấu phần trăm hoa hồng sẵn có cho nhà phân phối hàng hoá trong việc bán lẻ cao hơn người quản lý công việc của họ. Những công ty bán hàng trực tiếp thường quảng bá các loại hàng hoá có giá cao hơn, mục đích sử dụng lâu dài, bền như những bộ lọc nước và không khí, nồi nấu ăn, các vật dụng trang trí nhà cửa hoặc vật dụng gia đình, vân vân hơn là sản phẩm tiêu dùng thường xuyên Các loại sản phẩm do các công ty bán hàng trực tiếp phân phối thường giới hạn tiềm năng thu nhập thặng dư. Rõ ràng điều này cũng có những ngoại lệ như thu nhập thặng dư từ bán bảo hiểm, nhưng thường thì với các mặt hàng là hàng tiêu dùng thường xuyên, người bán hàng phải dựa vào người bán hàng kế tiếp lẫn doanh số tiềm năng. Các ngân phiếu hoa hồng trực tiếp thường cao hơn so với trong KDTM, vì thế bạn muốn nhanh chóng kiếm được tiền , thì bán hàng trực tiếp đúng là chiếc vé lựa chọn cho bạn. Còn nếu bạn muốn xây dựng một thu nhập thặng dư dài hạn, bạn cần phải xem xét KDTM. Những nhà phân phối KDTM vẫn phải bán sản phẩm của họ, nhưng quá trình bán hàng thường bắt đầu với “thị trường ấm” từ những người họ hàng hoặc bạn bè của họ. Những mức hoa hồng bán lẻ do các công ty KDTM đưa ra thường thấp hơn rất nhiều so với bán hàng trực tiếp vì phần nhiều khoản hoa hồng đó đã được chi trả thưởng cho các quản trị viên bán hàng phía trên mạng lưới trong hệ thống đỡ đầu. Đổi lại, bạn có thể cũng đỡ đầu một mạng lưới những nhà phân phối downline để không chỉ bán hàng cho họ mà còn trở thành những người tiêu thụ sản phẩm cho bạn nữa. Nếu những sản phẩm công ty có giá phải chăng, chất lượng cao và mang đến những lợi ích rõ ràng, nhà phân phối có cơ hội thực sự để xây dựng được một khách hàng vĩnh viễn. Khách hàng liên tục sử dụng sản phẩm sẽ tạo ra thu nhập thặng dư . Thu nhập thặng dư là tiền mà bạn kiếm được từ những đơn tái đặt hàng và sản phẩm của những tân binh do bạn tuyển mộ và những người khác mà tiếp đó bản thân các tân binh này lại tuyển mộ. Quá trình này tiếp tục sẽ tạo ra thu nhập cho bạn một thời gian sau khi hết ngày này đến ngày khác tập trung vào doanh số hoặc kết quả của công việc bảo trợ. Chẳng hạn, tiền bản quyền mà một nhà văn hoặc một nghệ sĩ kiếm được từ những tác phẩm của họ là một dạng của thu nhập thặng dư. Tương tự là những lợi tức kiếm được trong đầu tư chứng khoán. Những sản phẩm tiêu dùng như các loại vitamin, sản phẩm chăm sóc cá nhân, mỹ phẩm, vân vân thường thích hợp với mô hình KDTM vì việc đặt hàng liên tục tạo ra thu nhập thặng dư điều khiển dạng doanh nghiệp này Từng có thâm niên làm việc trong bán hàng trực tiếp và KDTM, tôi đã thấy rằng dễ thu hút người ta tham gia vào những cơ hội KDTM hơn vì nhiều lý do sau: * Chi phí để tham gia không quá đắt Ngoài các sản phẩm mẫu và tài liệu hướng dẫn kinh doanh có giá khá hợp lý thì không còn phải tốn thêm khoản đầu tư nào khác. Đơn đặt hàng có thể được công ty gửi đến đều đặn và người tiêu dùng có thể thường xuyên tái đặt hàng trực tiếp cho công ty qua fax,email, điện thoại hay website của công ty với các khoản tiền thưởng được định rõ kể từ người bán hàng cấp 1 trong hệ thống phân phối trở đi. Vì thế,việc lưu trữ hàng là không cần thiết * Ngày càng nhiều người có thể tham gia vào KDTM vì khái niệm này cho phép làm việc bán thời gian bên cạnh công việc chính toàn thời gian của họ * Mô hình doanh nghiệp KDTM hỗ trợ chuyển đổi doanh số của sản phẩm hoặc dịch vụ ban đầu vào trong thu nhập thặng dư suốt đời. * Khái niệm KDTM tạo ra sự tăng trưởng hình học. Các nhà phân phối tạo sức bật thời gian và công sức của họ bằng cách tuyển mộ một số lượng người nhỏ, huấn luyện và hỗ trợ họ cho đến khi chính những tân binh này có thể lại tuyển mộ, huấn luyện và hỗ trợ người của họ để sao chép và nhân đôi trình tự này. Theo cách này, tổ chức mạng lưới tuyến dưới tạo ra doanh số để từ đó tạo ra những khoản hoa hồng và tiền thưởng cho mọi người bao gồm người đỡ đầu cá nhân của họ và tuyến trên bên trên của người đỡ đầu tuỳ theo quy định của kế hoạch trả thưởng. Như thế bạn có thể nhìn thấy, những công ty bán hàng trực tiếp mang đến cho bạn thu nhập tức thời trong khi những công ty MLM tạo cho bạn một cơ hội đòn bẩy tạo sức bật từ thời gian để xây dựng lợi tức thặng dư dài hạn hơn. Nếu bạn thích con người, là một người giao thiệp tốt và sẵn sàng làm việc, thì cả bán hàng trực tiếp truyền thống hoặc KDTM đều có thể mang đến mức thu nhập tiềm năng tuyệt vời.
Thời gian gần đây, khi mua bán hoặc trao đổi thông tin thương mại, chúng ta thường thấy khái niệm "xem trên intnernet" và "kinh doanh trên mạng"... Mọi người mua bán gì cũng lên tìm trên internet , tìm cách đăng tải, hoặc mò...
(Xem thêm)

Gafield

mình xin đưa vài thông tin bổ trợ như sau: [gallery]/5/gdm1261545520.png[/gallery] [gallery]/5/glm1261545636.jpg[/gallery] Mình sẽ tiếp tục đưa tiếp thông tin cho mọi người tham khảo
MÌnh đang cần tìm hiểu cơ sở lý luận của hoạt động thu mua sản phẩm, nhưng không thể nào kiếm dc. Các bạn có ai biết thì làm ơn giúp mình với nhé. Cảm ơn nhiều !!!!

Gà con

Theo mình hiểu thì thu mua có nghĩa là mua về có sửa lại hoặc chỉnh lại để tạo ra sản phẩm hoàn thiện hơn và bán ra thị trường còn cơ sở lý luận cho cái này thì mình không rõ có không nữa [:(]
Em muốn hỏi Doanh thu với Thu; Chi phí với Chi của doanh nghiệp khác nhau như thế nào ạ. Và giữa doanh thu và thu nhập có giống nhau không. Sự khác biệt giữa doanh thu chi phí với chi và thu của doanh nghiệp là gì.
(Xem thêm)

nguyen van minh

Mình cũng đồng ý với ý kiến bạn trả lời trên đó.Doanh thu là khoản thu từ hoạt động bán hàng thuần tuý.Còn Thu ngoài Doanh thu còn bao gồm những khoản thu mang lại ngoài hoạt độg bán hàng:nhận góp vốn liên doanh,nhận ủng hộ...
Câu chuyện thế này. Ban đầu chúng ta sẽ chỉ cần làm quen với một khái niệm rất hẹp của vốn là tiền. Tiền ấy dùng để làm gì vậy? Một đời sống kinh doanh thực sự cần tiền, và trong đa phần trường hợp cần rất nhiều tiền. Tiền được sử dụng để: 1....
(Xem thêm)

ThoThongMinh

Múa rìu qua mắt thợ một chút: 1. Vốn tự có là lượng tiền/tài sản mà bản thân người sở hữu/đồng sở hữu doanh nghiệp bỏ ra từ tiền/tài sản riêng của mình để cho vào thành tiền/tài sản công ty. Cái này khác với vốn vay - là vốn có được nhờ chiếm dụng (hay chính xác là đi vay) tiền/tài sản của cá nhân/tổ chức khác và có nghĩa vụ thanh toán gốc, thường là cả lãi định kỳ cho lượng tiền/tài sản chiếm dụng này 2. Vốn lưu động là lượng vốn dưới dạng tiền mặt hoặc tương đương tiền mặt có tính thanh khoản cao mà doanh nghiệp có thể sử dụng, đặc biệt cho các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. Vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng với mọi loại hình doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại (merchandise) và sản xuất do trong năm kinh doanh họ luôn cần một lượng tiền linh hoạt để nhập hàng, nhập nguyên vật liệu, chi tiêu mua sắm phục vụ các chương trình bán hàng, kế hoạch sản xuất đã có từ đầu năm. Quản lý vốn lưu động là công việc khó, người quản lý vốn lưu động cần tính toán để lượng vốn không quá thừa, bởi thừa thì không dùng đến, mà tiền rỗi quá ngồi chơi, không sinh để tiền con tiền cháu thì tức là thiếu hiệu quả. Còn ngược lại nếu ít tiền quá, đến lúc cần tiền mặt để nhập hàng lại không có thì phải xoay ra nhiều hướng để có tiền. Nói nôm na là đang trên đường đến kho thóc nhưng chết giữa đường vì hết gạo ăn. Đã có nhiều doanh nghiệp có tài sản rất lớn, nhưng ứ vào trong công trình, dự án, và vào thế chấp vay ngân hàng. Đến lúc chỉ cần một lượng vốn lưu động không quá lớn để nhập hàng cũng không biết làm sao để có, chủ nợ, chủ hàng thấy vậy tưởng doanh nghiệp có vấn đề, quay ra siết nợ, thế là công ty đang ngon trở thành chuẩn bị phá sản. 3. Vốn điều lệ là lượng vốn chủ doanh nghiệp đăng ký với cơ quan quản lý thành lập doanh nghiệp. Vốn lưu động thì khó so sánh với vốn tự có và vốn điều lệ vì chúng cũng là vốn nhưng phân loại nhằm mục đích khác nhau, không nên gán với nhau làm gì, khổ thân. Vốn tự có và vốn điều lệ thì có liên quan tí chút. Chẳng hạn khi VP Bank bán cổ phần cho NH OCBC của Singapore thì lượng tiền OCBC chuyển vào để mua cổ phần gọi là vốn tự có. Khi mà VP Bank dùng một phần số tiền này để tăng vốn điều lệ thì lượng vốn tự có được sử dụng đó ở trong lượng vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Em chưa học qua khoá kinh tế kinh doanh nào cả, nay đi du học nhảy bụp vào học MBA, nên đang học ngày học đêm cho bằng bạn bằng bè. Ngay tiết đầu, em đã bốc thăm phải số 1 lên phát biểu giải thích khái niệm về options. Em rất muốn nhờ các anh chị...
(Xem thêm)

ThoThongMinh

Options là một trong nhữg chứng khoán phái sinh (Derivative). Các loại chứng khoán phái sinh như: Options, Swaps, Warrants, Futures sử dụng chủ yếu để phòng ngừa rủi ro lãi suất, tỷ giá, ... theo mình học là vậy.
Hhehe bí quá hỏi mọi người khái niệm cụ thể của đặt cọc trong kinh tế là giè?

Nguyen Thi Huyen Trang

Tức là ứng trước 1 khoản tiền thấp hơn giá trị của mặt hàng . Cam kết sau 1 thời gian sẽ hoàn trả. Để nhận được ưu đãi giữ mặt hàng đó đến thời điểm đủ tài chính để thanh toán!

Thành viên tích cực

1

Gia Hung In

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Dung Đặng

1 lượt cảm ơn
4

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn