Thắm Thủy

Làm giúp e bài này với " viết một bài văn nghị luận xã hội bày tỏ ý kiến về nét đẹp học đường "

Nguyen Ha My

Bạn làm theo dàn ý dưới đây nhé! Chúc bạn thành cống Trong một xã hội ngày càng phát triển thì tâm lý con người ta ngày càng phức tạp.Đáng quan tâm là nạn bạo hành diễn ra phổ biến ở nhiều nơi và nạn nhân của nó thì không chừa bất kì độ tuổi nào. Có một câu chuyện nói về tình yêu thương dành cho cha mẹ của con cái: Một làng có tục hễ người nào đã quá già ,không còn đỡ đần được gia đình sẽ được đưa bỏ vào núi .Và núi đó được gọi là" núi người già "... Không biết em có biết câu chuyện này không? Nhưng nhìn vào hành động vứt bỏ cha mẹ của con cái ta có thể thấy nạn bạo hành không phải trong xã hội hiện đại mới có. Bạo hành là thái độ bạo lực đáng phê phán trong xã hội.Có một bộ phim Việt Nam nói về lối cư xử bất hiếu của con cái đối với cha mẹ :3 người con phân công nhau thay phiên nuôi mẹ .Họ thống nhất mỗi tháng phải nuôi mẹ tăng thêm bao nhiêu .Và cứ mỗi tháng ,những người con bỏ thêm đá vào túi áo mẹ để đem bà đi cân... ---<Rõ ràng nạn bạo hành không chỉ diễn ra trong xã hội mà ngay cả cấp độ tế bào của xã hội. Có những nhà trẻ trá hình được xây dựng nên và không may cho nhiều em bé bị gửi vào đấy :bị ăn đòn thường xuyên -->những tổn thương mà các em phải chịu đựng vào lứa tuổi ấy là hết sức nghiêm trọng về lâu dài. Có thể để ý thấy trên báo chí ,các phương tiện truyền thông,...không ngày nào lại không có những "nạn bạo hành " kể trên. (Chồng đánh vợ,mẹ kế hành hạ con riêng,bóc lột sức lao động của trẻ em ,nạn mua bán phụ nữ và trẻ em ,...) Có những em gái tuổi đời chưa qua mười năm mà đã bị bán cho nhà chứa ."Nạn bạo hành " dường như càng ngày càng đe dọa Xh ,đạo đức ,văn hóa con người một cách tinh vi ,xảo quyệt. Cách trá hình của nó cũng vô cùng phong phú ,đa dạng... Phát biểu ý kiến của em về nạn "bạo hành" :VD:làm suy đồi đạo đức Xã hội ,đe dọa cuộc sống ,nhân quyền . Theo pháp luật ,"Nhân quyền "của mỗi con người là "bất khả xâm phạm" -->những kẻ đi trái cần bị trừng trị đích đáng ...vv...
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời… (Đất Nước, trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm). Từ ý thơ trên,...
(Xem thêm)

Sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn của GS Ngô Bảo Châu tôi thấy GS Châu nói đúng tuy nhiên GS nói như vậy chưa đủ, nên bị dư luận phản đối nhiều.Chúng ta cần phân biệt khái niệm thế nào là trí thức với khái niệm trách nhiệm công dân của trí thức. Trong phát biểu của GS Ngô Bảo Châu nhấn mạnh đến định nghĩa trí thức mà không nói trách nhiệm công dân của trí thức (hoặc nói một cách mờ nhạt). Trong khi đó những người bình luận hoặc phản đối lại nói đến trách nhiệm công dân của trí thức, trong số đó có người nhầm lẫn cho rằng một trong các điều kiện cần có để được gọi là trí thức là phải phản biện (trách nhiệm công dân). Tôi cho mấu chốt thứ nhất của vấn đề là ở điểm này, khi đã phân biệt được hai khái niệm này thì ta thấy cả hai phe đều có lý cả mà không hề mâu thuẫn.Như mọi người đều biết, mọi công dân phải có trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc, cộng đồng (trách nhiệm công dân). Chúng ta lại có câu: “Nắm người có tóc chứ không ai năm kẻ trọc đầu”. Tầng lớp trí thức là tầng lớp hiểu biết nhất mà không phản biện thì ai phản biện? Vì vậy chúng ta (xã hội) đòi hỏi người trí thức phải phản biện là đòi hỏi chính đáng chứ không thể nói phản biện thì tốt còn không thì cũng chẳng sao. Trong một chừng mực nào đó, vấn đề cụ thể nào đó, nếu anh thấy những vấn đề nóng bỏng của đất nước, những việc làm nguy hại đến an ninh quốc gia, cộng đồng… mà làm ngơ tức là anh đã gián tiếp tiếp tay cho cái ác nên không thể nói anh là người lương thiện. Trong trường hợp này không thể gọi anh là trí thức chân chính mà là trí thức lưu manh. Một người có hiểu biết nói riêng và trí thức nói chung nếu thấy điều không phải, không đúng mà làm ngơ thì khó có thể coi là người chân chính. Tôi không đồng ý với GS Ngô Bảo Châu khi ông cho rằng “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.” Giả sử ta so sánh hai trí thức ngang ngửa nhau về chuyên môn, trong đó trí thức A có tham gia phản biện xã hội, còn trí thức B thì không. Trong mắt mọi người chắc chắn công dân A có giá trị cao hơn công dân B vì công dân A có trách nhiệm với xã hội hơn, có đóng góp nhiều hơn công dân B. GS Châu chỉ đúng nếu tách biệt con người trí thức ra khỏi con người công dân, nhưng rỏ ràng con người công dân bao trùm, lớn hơn con người trí thức. Hay nói một cách khác một con người (công dân) có nhiều thuộc tính thì “trí thức” là một trong các thuộc tính đó, nếu anh phản biện hay không phản biện thì thuộc tính “trí thức”không thay đổi nhưng thuộc tính khác (tinh thần trách nhiệm, đạo đức…) sẽ thay đổi nên giá trị con người anh cũng khác đi. Lấy ví dụ GS Ngô Bảo Châu là trí thức lớn được mọi người yêu mến, nhưng ông lại còn lớn hơn, mọi người quý trọng hơn khi ông tham gia phản biện vụ khai thác boxit ở Tây Nguyên hay khi ông bình luận về vụ án Cù Huy Hà Vũ. Mặc dù là nhà khoa học nổi tiếng nhưng nhiều người quý ông ở tính cách, trách nhiệm của ông qua việc ông phản biện hơn danh hiệu khoa học của ông (dĩ nhiên là phản biện đó được gia tăng giá trị rất nhiều là vì nó gắn liền với sự nổi tiếng trong khoa học của ông) vì họ cho rằng ở Việt Nam trí thức có chính kiến và thể hiện chính kiến còn quá hiếm trong lúc nhu cầu lại rất lớn.
Các bạn chỉ giúp mình cách làm bài văn nghị luận đạt điểm cao nhất với...

Vũ Thị Hằng

Bí kíp để làm bài văn nghị luận đạt điểm cao nhất! Cần nắm được dạng bài nghị luận xã hội Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn ra đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn theo hướng mở nhằm đánh giá được năng lực và phân loại trình độ của học sinh, nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội. Điều này cũng giúp học sinh có khả năng vận dụng được những hiểu biết thực tế vào bài viết của mình. Tuy nhiên, nhiều năm qua, vẫn có hiện tượng thí sinh làm xa đề, lạc đề, lan man,… Vì vậy, việc xác định kiểu dạng đề thi nghị luận là rất cần thiết, tránh cho thí sinh đi lạc hướng và làm sai đề. Muốn vậy, mỗi thí sinh phải đọc kỹ đề bài, chú ý những từ ngữ để nhận kiểu, dạng bài văn. Thông thường, ta dễ bắt gặp 2 kiểu, dạng đề đó là: nghị luận về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội. Lập dàn ý theo bố cục của từng dạng đề nghị luận Sau khi xác định được kiểu, dạng đề nghị luận, chúng ta cần bắt tay nhanh vào việc lập dàn ý. Tuy nhiên, muốn lập dàn ý đầy đủ thì ta phải nắm được bố cục chung của từng kiểu bài văn nghị luận xã hội. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường đề cập tới những vấn đề về đạo đức, lối sống, quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay các danh nhân nổi tiếng. Dấu hiệu để nhận biết kiểu đề này thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, các danh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, một ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học, … Về bố cục, trước hết phần mở bài, ta phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. Phần thân bài cần giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm. Sau đó, ta phân tích và chứng minh mặt đúng - sai của tư tưởng, đạo lý đó. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội. Cuối cùng, ta cần phải bình luận mở rộng vấn đề: có thể là bác bỏ những biểu hiện sai lệch, khẳng định tính đúng đắn. Tất cả những bước trên ta phải có dẫn chứng đi kèm nhằm tăng tính thuyết phục cho người nghe, người đọc. Phần kết bài cần đánh giá khái quát ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận và rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lý đó. Đối với dạng đề nghị l uận về một hiện tượng đời sống xã hội thường đề cập tới nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày và mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người như: gian lận trong thi cử, vấn đề tai nạn giao thông, bạo lực học đường, quan điểm về sống thử, văn hóa thần tượng,… Có thể nói, đây là dạng chung mà nhiều năm gần đây Bộ Giáo dục đã hướng đến để học sinh tiếp cận. Để làm dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi thí sinh phải có vốn hiểu biết nhất định về đời sống xã hội để vận dụng vào bài làm. Phần mở bài, cần giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận. Phần thân bài, cần triển khai các điểm sau: nêu thực trạng của hiện tượng đời sống: hệ quả tác động (tích cực, tiêu cực) của hiện tượng, thái độ của con người và xã hội đối với hiện tượng, lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó (nguyên nhân chủ quan, khách quan), đưa ra giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống. Phần kết bài cần khái quát lại vấn đề đang nghị luận đồng thời bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống cần nghị luận. Tích lũy kiến thức xã hội và nắm bắt thông tin Nhiều giáo viên khi chấm bài làm của thí sinh đều cho rằng số rất ít thí sinh làm bài tốt ở câu nghị luận xã hội. Bởi lẽ, ở trường học, các em còn quá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy, sáng tạo. Do vậy để đạt điểm cao, ngoài kiến thức được học tại trường, các em phải có lượng hiểu biết về xã hội. Thí sinh có thể ủng hộ hay phản đối một quan niệm nào đó song phải có khả năng lập luận sắc bén và cách hành văn trôi chảy, có sức thuyết phục. Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức được tích lũy và lấy ra từ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, bạn cần sự tìm kiếm, học hỏi và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Muốn vậy, cần khai thác thông tin trên đài, báo, truyền hình hàng ngày; ghi chép lại những nhân chứng, bài học, tình huống hay và có ý nghĩa trong cuộc sốngđể làm tư liệu, dẫn chứng cho bài làm. Chú ý về thời gian Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên thí sinh cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết. Trên cơ sở dàn ý, chúng ta cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao.
Chỉ em cách làm bài văn nghị luận xã hội với mọi người ơi!

Vũ Thị Hằng

Hiểu đơn giản về bài làm văn nghị luận xã hội. 1.1.Về nội dung cần đạt tới : Bài làm văn về nghị luận xã hội là một bài tập làm văn mà ở đó yêu cầu học sinh nêu được: + Quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề xã hội nào đó (được nêu trong yêu cầu của đề bài) bàng hình thức Bình và bàn luận mở rộng. +Xác định được bài học cho bản thân trên các khía cạnh: Nhận thức được gì sau khi bàn luận và tự nêu được hành động / hoặc đề xuất những biện pháp góp phần làm cho vấn đề vừa bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống. 1.2. Về hình thức cần đạt tới. + Bài NLXH theo mức độ yêu cầu của đề thi TNTHPT có dung lượng khoảng 500-700 chữ, hoặc có thể ít hơn. + Bố cục 3 phần (ĐVĐ- GQVĐ- KTVĐ) như các bài văn khác. Phần Giải quyết vấn đề được tổ chức bằng một số đoạn văn. +Yêu cầu lập luận (Lý lẽ) chặt chẽ kết hợp minh chứng, diễn đạt logic mạch lạc và trình bày sáng sủa. 2-Phân biệt các dạng của Nghị luận xã hội Nghị luận XH có 2 dạng cơ bản dành cho học sinh bậc THPT đó là: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và Nghị luận về một hiện tượng đời sống 2.1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: Là một dạng đề của nghị luận xã hội. Đề tài được đưa ra trong đề là những vấn đề về tư tưởng, đạo lí vô cùng phong phú. Các vấn đề tiêu biểu thường gặp là : - Nhận thức :Lí tưởng, mục đích sống. - Tâm hồn, tích cách : Lòng yêu nước, nhân ái, tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn, thói ba hoa, ích kỉ, vụ lợi… - Quan hệ gia đình :Tình mẫu tử, tình anh em. - Quan hệ xã hội :Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn. - Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống. 2. 2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống. Nghị luận về một hiện tượng đời sống : Là một dạng đề của nghị luận xã hội. Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về một hiện tượng thường xảy ra, thường gặp trong đời sống và lấy hiện tượng đó để bàn bạc. Các đề tài để bàn bạc gần gũi với đời sống và sát hợp trình độ nhận biết xã hội của học sinh như: -Tai nạn giao thông - Hiện tượng ô nhiễm môi trường. -Những tiêu cực trong thi cử - Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn… Ghi chú: - Hiện tượng được nêu trong đề có thể là: Hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực. Nếu đề bài ra vấn đề tích cực, thì phải bộc lộ quan điểm ca ngợi, công nhận, biểu dương. Ngược lại đề ra về hiện tượng tiêu cực thì bộc lộ quan điểm phê phán, lên án. - Trường hợp đề ra thông qua một thông điệp, một nhận định chung thì phải thực hiện đồng thời quan điểm ca ngợi cái tốt, và phê phán cái xấu từ đó xác định được hành động hướng theo cái tốt. 3- Sự giống nhau và khác nhau của 2 dạng bài. Sự giống nhau : -Về yêu cầu hình thức tương tự như nhau. - Về nội dung vẫn là trình bày những quan điểm cá nhân trước Hiện tượng đời sống hoặc Tư tưởng đạo lý . Nhận diện sự khác nhau 2 dạng bài trong đề thi: - Dạng NL tư tưởng đạo lý + Trong đề thường nêu các, nhận định, danh ngôn nằm trong một văn bản nào đó hoặc có tác giả phát ngôn. + Các câu nói/nhận định/ danh ngôn được trích dẫn trong dấu ngoặc kép, hoặc có những ẩn ý nào đó mà phải giải thích mới rõ dụng ý là gì. + Các câu nói, trích dẫn… thường mang mục đích giáo huẩn, răn dạy. - Dạng NL hiện tượng đời sống: + Những hiện tượng nêu trong đề rất gần gũi thường gặp. + Những câu nói nhận định nếu có không cần phải giải thích đã rất rõ ràng. 4-Mô hình cấu tạo một bài nghị luận xã hội 4.1. Mô hình khái quát các nội dung chính Ø ĐỐI VỚI BÀI VĂN VỀ HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI A. MỞ BÀI - Phần mở bài cần nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận. B. THÂN BÀI Ý 1. Thực trạng của vấn đề cần nghị luận (Biểu hiện ra trong thực tế như thế nào?). Ý 2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Khách quan và chủ quan). Ý 3. Hậu quả (Xấu) hoặc kết quả (Tốt). Ý 4. Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. C. KẾT BÀI - Tóm lược nội dung đã trình bày - Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. - Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người. Ø ĐỐI VỚI BÀI VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ A. MỞ BÀI - Phần mở bài cần nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận. B. THÂN BÀI Ý 1. Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận là gì. Ý 2. Bình luận (Nêu quan điểm của mình về vấn đề) - Bình: khẳng vấn đề vừa xác định (ở phần giải thích là đúng hay sai hoặc có ý đúng, đồng thời cũng có ý sai theo quan điểm của mình. - Nêu những biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh. Ý 3. Luận: bàn bạc và bày tò ý kiến của người viết đối với vấn đề ( Phê phán cái xấu/ tiêu cực và bênh vực ca ngợi cái tốt /tích cực) Ý 4. Phương hướng của bản thân người viết Sau khi bình luận (Làm gì để đạt mục tiêu như bình luận) C. KẾT BÀI - Tóm lược nội dung đã trình bày - Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. - Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người. 4.1. Mô hình thực hiện bài viết qua trả lời câu hỏi Ø ĐỐI VỚI BÀI VĂN VỀ HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI A. MỞ BÀI - Yêu cầu: Nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận. - Định hướng thực hiện thông qua trả lời các câu hỏi. + Hiện tượng này xuất hiện từ bao giờ ở đâu? Hỗ trợ trả lời: Những năm gần đây, những tháng gần đây, hiện nay/ Tại Việt nam, thế giới, Đông nam á…. + Hiện tượng này tạo nên ảnh hưởng gì cho xã hội con người? Hỗ trợ trả lời: Làm cho xã hội rối loạn, nhức nhối/ làm cho con người đau khổ/ …) + Tính cấp thiết của vấn đề ở chỗ nào? Hỗ trợ trả lời: Vấn đề đã thành mối quan tâm của mọi người/ thành bức xúc của con người/ tất cả đang tìm mọi biện pháp để khắc phuc, loại trừ nó xây dựng một xã hội lành mạnh) B. THÂN BÀI Ý 1. Thực trạng của vấn đề cần nghị luận - Yêu cầu : Trình bày được biểu hiện của hiện tượng trong thực tế. - Định hướng thực hiện thông qua trả lời các câu hỏi. + Nhờ đâu em biết những biểu hiện này? Hỗ trợ trả lời: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng/ qua bài giảng của cô giáo/ qua chứng kiến thực tế…( có thể nêu rõ em biết qua đài nào, báo nào ) + Hiện tượng diễn ra trên quy mô nào? Hỗ trợ trả lời: Diễn ra quy mô rộng (Hay hẹp) trên địa bàn toàn quốc/ Các tỉnh thành phố/ thôn xóm/ hay nhà trường. ( có thể nêu rõ các số liệu về người, thiệt hại… em biết ) + Mức độ diễn ra? Hỗ trợ trả lời: Diễn ra thường xuyên từng ngày từng giờ Hay hạn chế trong thời gian ngắn? + Đối tượng tham gia thực hiện các hành vi này? Hỗ trợ trả lời: Mọi người/ thanh thiếu niên/ ( có thể nêu rõ số liệu về người, vụ việc… em biết ) + Hãy kể hoặc miêu tả một vài thực tế về con người vi phạm những hành vi bị cấm em chứng kiến hoặc biết? Hỗ trợ trả lời: Kể 1 chuyện em biết/chứng kiến, theo mẫu : Thời gian địa điểm chứng kiến? nhân vật làm gì? Hậu quả/ kết quả xảy ra. Ý 2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Khách quan và chủ quan). - Những nguyên nhân khách quan nào dẫn đến hiện tượng? Hỗ trợ trả lời: Đất nước hội nhập nhiều phong cách sống xa lạ, văn hóa tiêu cực tràn vào chưa kịp xóa bỏ/ Đất nước còn nghèo, đời sống khó khăn/ Pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện còn những khuyếm khuyết/ khả năng quản lý nhà nước còn những bất cập… - Những nguyên nhân chủ quan nào dẫn đến tình trạng trên? Hỗ trợ trả lời: Nhận thức của con người về vấn đề còn hạn chế không có ý thức học tập cập nhật/ Suy nghĩ nông cạn tham lợi trước mắt/Thói quen sống buông thả, tùy tiện dễ bị lôi kéo/ Ý thức công dân mình vì mọi người, cống hiến cho XH….kém. Ý 3. Hậu quả (Xấu) hoặc kết quả (Tốt). + Hiện tượng làm ảnh hưởng đến đời sống Xh? Hỗ trợ trả lời: Làm cho hình ảnh đất nước xấu đi trong con mắt bạn bè thế giới/ Nền kinh tế, chậm phát triển vì những chi phí vô nghĩa/ an ninh đất nước trở nên phức tạp, gây khó khăn cho quản lý/ Để lại hàng loạt những vấn đề khác cho Xh phải giải quyết : bảo hiểm thất nghiệp, y tế, trợ giúp nhân đạo phải hỗ trợ cho hậu quả gây ra… +Hiện tượng làm ảnh hưởng đến con người (đặc biệt học sinh) như thế nào? Hỗ trợ trả lời: Ảnh hưởng dến học tập tu dưỡng? Đến kinh tế gia đình? Đến đời sống tình cảm quan hệ với mọi người? Đến sức khỏe? uy tín và tương lai bản thân?... Ý 4. Biện pháp khắc phục hậu quả (Vấn đề phê phán) hoặc phát huy kết quả (Vấn đề tốt). Hỗ trợ trả lời: - Biện pháp Chung : tuyên truyền cho mọi người có nhận thức về tác dung,tác hại/ Giáo dục cho mọi người hiểu sâu sắc và tự tuyên truyền cho nhau/ Xây dựng hành động và hành động thực tế ứng xử trong cuộc sống ntn cho đúng. - Biện pháp cá nhân : tự học tập nâng cao nhận thức về cuộc sống/ tìm hiểu sâu sắc về vấn đề và kêu gọi bè bạn và cộng đồng tham gia/ xây dựng những hành động đúng trước (vấn đề đó) trong cuộc sống/ phê phán hành vi xấu, học tập tấm gương tốt. - Đề nghị : Nhà nước hỗ trợ những biện pháp và điều kiện tốt về luật, về môi trường, về cơ sở vật chất và con người có năng lực nhiệt tình tham gia các chương trình hoạt động… C. KẾT BÀI - Tóm lược nội dung đã trình bày Hỗ trợ trả lời: Những lý giải, phân tích và chứng minh trên đây đã làm rõ vấn đề…….đồng thời cũng chỉ rõ những nguyên nhân, hậu quả/kết quả của nó…. Mặt khác bài viết cũng đã đưa ra những giải pháp khắc phục…. - Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. Hỗ trợ trả lời: Vấn đề đặt ra ở đây luôn là vấn đề thời sự, nóng bỏng/ nó tác dộng mạnh mẽ tới xã hội cuộc sống và mỗi con người / nếu loại trừ (tiêu cực)/ phát huy tích cực thì Xh, CS, Con người ntn? - Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người. Hỗ trợ trả lời: Từ đó, mỗi con người hãy nhận thức và hành động đúng (về Hiện tượng ) chúng ta sẽ có cuộc sống hạnh phúc hơn, XH tốt đẹp hơn. Ø ĐỐI VỚI BÀI VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ A. MỞ BÀI - Phần mở bài cần nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận. B. THÂN BÀI Ý 1. Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận là gì. Hỗ trợ trả lời: Những từ ngữ nào quan trọng trong đề, chúng có ý nghĩa gì? Tổng hợp ý của các từ ngữ vừa giải thích thì đề muốn đề cập đến nội dung gì? (Đây là nội dung cần bình luận). Ý 2. Bình (Nêu quan điểm của mình về vấn đề), khẳng vấn đề vừa xác định (ở phần giải thích) là đúng hay sai hoặc có ý đúng, đồng thời cũng có ý sai theo quan điểm của mình. Hỗ trợ trả lời: Vấn đề vừa nêu đúng hoặc sai vì sao? - Nếu vấn đề dúng thường có biểu hiện sau đây: Nó phù hợp với văn hóa truyền thống Việt Nam/ Mang lại giá trị cho con người về cuộc sống tốt đẹp/ Nó giáo dục những điều tốt để con người vươn lên chinh phục cuộc sống. Nó được mọi người thừa nhận yêu mến và làm theo. - Nếu vấn đề là sai thì dùng lý luận phê phán ngược lại những ý trên. - Nếu vấn đề có chỗ đúng có chỗ sai thì dùng 2 loại ý kiến khẳng định hoặc phê phán theo gợi ý. - Nêu những biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh. Hỗ trợ trả lời: Dẫn chứng từ cụ thể cuộc sống, hoặc sách vở báo chí thông tin về việc con người đã làm theo nó như thế nào?đã có ai răn dạy điều tương tự? Có tấm gương tiêu biểu nào? Có số liệu cụ thể gì? Ý 3. Luận: bàn bạc và bày tò ý kiến của người viết đối với vấn đề ( Phê phán cái xấu/ tiêu cực và bênh vực ca ngợi cái tốt /tích cực) + Vấn đề làm ảnh hưởng đến đời sống Xh (Bài phê phán)? Hỗ trợ trả lời: Làm cho hình ảnh đất nước xấu đi trong con mắt bạn bè thế giới/ Nền kinh tế, chậm phát triển vì những chi phí vô nghĩa/ an ninh đất nước trở nên phức tạp, gây khó khăn cho quản lý/ Để lại hàng loạt những vấn đề khác cho Xh phải giải quyết : bảo hiểm thất nghiệp, y tế, trợ giúp nhân đạo phải hỗ trợ cho hậu quả gây ra… +Hiện tượng làm ảnh hưởng đến con người (đặc biệt học sinh) như thế nào? Hỗ trợ trả lời: Ảnh hưởng dến học tập tu dưỡng? Đến kinh tế gia đình? Đến đời sống tình cảm quan hệ với mọi người? Đến sức khỏe? uy tín và tương lai bản thân?... Ghi chú: Nếu là bài ca ngợi bênh vực thì làm ngược lại theo hướng dẫn trên. Ý 4. Phương hướng của bản thân người viết Sau khi bình luận (Làm gì để đạt mục tiêu như bình luận) Hỗ trợ trả lời: - Biện pháp Chung : tuyên truyền cho mọi người có nhận thức về tác dung,tác hại/ Giáo dục cho mọi người hiểu sâu sắc và tự tuyên truyền cho nhau/ Xây dựng hành động và hành động thực tế ứng xử trong cuộc sống ntn cho đúng. - Biện pháp cá nhân : tự học tập nâng cao nhận thức về cuộc sống/ tìm hiểu sâu sắc về vấn đề và kêu gọi bè bạn và cộng đồng tham gia/ xây dựng những hành động đúng trước (vấn đề đó) trong cuộc sống/ phê phán hành vi xấu, học tập tấm gương tốt. C. KẾT BÀI - Tóm lược nội dung đã trình bày Hỗ trợ trả lời: Những lý giải, phân tích và chứng minh trên đây đã làm rõ vấn đề…….đồng thời cũng chỉ rõ những nguyên nhân, hậu quả/kết quả của nó…. Mặt khác bài viết cũng đã đưa ra những giải pháp khắc phục…. - Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. Hỗ trợ trả lời: Vấn đề đặt ra ở đây luôn là vấn đề thời sự, nóng bỏng/ nó tác dộng mạnh mẽ tới xã hội cuộc sống và mỗi con người / nếu loại trừ (tiêu cực)/ phát huy tích cực thì Xh, CS, Con người ntn? - Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người. Hỗ trợ trả lời: Từ đó, mỗi con người hãy nhận thức và hành động đúng (về vấn đề ) chúng ta sẽ có cuộc sống hạnh phúc hơn, XH tốt đẹp hơn.
Các bước làm bài văn nghị luận xã hội như thế nào mấy bạn ơi?

Dao Haiyen

1, NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI B1: Cắt nghĩa từ khóa, nêu hiện tượng đó trong cuộc sống + Hiện tượng ấy có phổ biến hay không? B2: Phân tích hiện tượng đó trong đời sống thực tế ( diễn ra như thế nào? ) B3: Chỉ ra nguyên nhân và hệ quả của hiện tượng B4: Lấy ví dụ để chứng minh hiện tượng ấy có lợi hay có hại B5: Liên hệ với bản thân B6: Rút ra bài học cho mình và mọi người ( liên hệ thực tế đến giới trẻ ) B7: Phê phán ( đối với hiện tượng xấu ) ca ngợi ( đối với hiện tượng tốt ) đưa ra lời khuyên hợp lý 2, NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ B1: Cắt nghĩa từ khóa, giải nghĩa từ then chốt B2: Khẳng định câu nói đó là đúng hay sai? Tại sao đúng? tại sao sai? B3: Phân tích để làm rõ nhận định của mình, dùng các luận chứng để lật lại vấn đề B4: Lấy ví dụ, phân tích ví dụ để chứng minh ý nghĩa của câu nói đó đối với cuộc sống B5: Liên hệ với bản thân, với thực tế ( Chủ yếu là tầng lớp học sinh, thanh niên ) B6: Rút ra bài học cho cả bản thân và mọi người ( Chủ yếu là giới trẻ ) B7: Phê phán những người đi ngược lại chân lý, tư tưởng đó đồng thời ngợi ca những tấm gương đang có lý tưởng sống đúng
Cách làm bài văn nghị luận như thế nào nhỉ mấy bạn? Có mấy bước, là những bước nào, rồi cách triển khai các bước thế nào? Chỉ mình với, mình ngu văn lắm. Cần lắm một cái form chuẩn và chỉ việc làm theo. :(
(Xem thêm)

Đỗ Xuân Trường

Cách làm bài văn nghị luận đạt điểm cao nhất đây: Các công thức cần nhớ khi làm bài văn nghị luận bắt nguồn từ những luận điểm, luận cứ cơ bản trong bài văn nghị luận. Từ những công thức dễ nhớ này mà người viết có thể tìm ý, xây dựng khung ý tưởng dồi dào cho bài viết. Mỗi bài văn nghị luận đều bao gồm 3 phần: mở bài, thân bài và kết bài. Sau đây là các công thức để học sinh có thể viết tốt ba phần cơ bản này. 1. Mở bài Phần mở bài là chìa khóa cho toàn bộ bài văn. Phần mở bài gây ấn tượng đầu tiên cho người đọc về phong cách nghị luận, phong cách ngôn ngữ riêng của người viết. Phần mở bài gồm có 3 phần, theo 3 công thức: gợi - đưa - báo, trong đó: - Gợi: Gợi ý ra vấn đề cần làm. - Sau khi Gợi thì đưa ra vấn đề. - Cuối cùng là Báo- tức là phải thể hiện cho người viết biết mình sẽ làm gì. Trong đó, khó nhất là phần gợi ý dẫn dắt vấn đề, có 3 cặp/6 lối để giải quyết như sau: Cặp 1: Tương đồng/tương phản - đưa ra một vấn đề tương tự/hoặc trái ngược để liên tưởng đến vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để ĐƯA vấn đề ra, cách này thường dùng khi cần chứng minh, giải thích, bình luận về câu nói, tục ngữ, suy nghĩ. Cặp 2: Xuất xứ/đại ý - dựa vào thông tin xuất xứ/ đại ý để dưa vấn đề ra, cách này thường dùng cho tác phẩm/tác giả nổi tiếng. Cặp 3: Diễn dịch/ quy nạp - cách này thì cũng khá rõ về ý nghĩa rồi. 2. Thân bài Thân bài thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề chung. Để tìm ý cho phần thân bài thì có thể dùng các công thức sau đây để đặt câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều và dồi dào càng tốt, sau đó có thể sử dụng toàn bộ hoặc một phần ý tưởng để hình thành khung ý cho bài văn: Đối với Giải thích: Gì - Nào - Sao - Do - Nguyên - Hậu Trong đó, Gì: Cái gì, là gì? Nào: thế nào? Sao: tại sao? Do: do đâu? Nguyên: nguyên nhân nào? Hậu: hậu quả gì? Hãy tưởng tượng vấn đề của mình vào khung câu hỏi trên, tìm cách giải đáp câu hỏi trên với vấn đề cần giải quyết thì bạn sẽ có một lô một lốc các ý tưởng. Đối với Chứng minh : Mặt - Không - Giai - Thời - Lứa Mặt: các mặt của vấn đề? Không: không gian xảy ra vấn đề (thành thị, nông thôn, việt nam hay nước ngoài...). Giai: giai đoạn (vd giai đoạn trước 1945, sau 1945..). Thời: thời gian - nghĩa hẹp hơn so với giai đoạn (có thể là, mùa thu mùa đông, mùa mưa mùa nắng, buổi sáng buổi chiều..). Lứa: lứa tuổi (thiếu niên hay người già, thanh niên hay thiếu nữ...). Hình thành đoạn văn từ khung ý tưởng Sau khi dựa vào công thức bạn hình thành được khung ý tưởng, điều tiếp theo là từ từng ý tưởng đó ta triển khai ra các đoạn văn hoàn chỉnh. Cách triển khai đoạn văn dùng công thức. Nào - Sao - Cảm Nào: thế nào? Sao: tại sao? Cảm: cảm xúc, cảm giác, cảm tưởng của bản thân? Cứ như vậy bạn sẽ có nhiều đoạn văn, các đoạn văn này hợp lại là thân bài. 3. Kết bài Có công thức Tóm - Rút - Phấn để thực hiện phần này: Tóm: tóm tắt vấn đề Rút: rút ra kết luận gì Phấn: hướng phấn đấu, suy nghĩ riêng của bản thân Như vậy trên đây là những kinh nghiệm cô đọng nhất về cách tìm ý cho bài văn dựa vào công thức, phương pháp này do thầy giáo dạy tôi năm cấp 2 hướng dẫn, ông đã áp dụng để giảng dạy học sinh từ những năm 60 của thế kỷ trước, tới nay vẫn còn hiệu quả.
Mấy bạn ơi, mình có con em chuẩn bị đi thi Đại học, muốn tham khảo những bài văn nghị luận xã hội lớp 12 hay nhất trong các kì thi tuyển sinh để học hỏi thêm kinh nghiệm làm bài, với có thêm nhiều kiến thức. Bạn nào biết không chia sẻ mình với? Năm...
(Xem thêm)

thanh hoa

Chị thấy bài này khá hay này em ơi. Em tham khảo xem nhé. Cách làm với cả bố cục khá hợp lí. Đề : Một triết học nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lònng thì chẳng là gì cả. Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” Các bạn đã từng nghe câu “Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” chưa?. Có lẽ câu nói thật lạ kì phải không các bạn, đây là câu nói của một nhà triết học, tuy thật khó hiểu nhưng nó lại hàm chứa một ý nghĩa vô cùng sâu sắc, nhà triết học có ý nhắc nhở chúng ta điều gì đây? Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu rõ ý nghĩa câu nói này nha các bạn. Không chỉ đơn giản bằng một câu ngắn gọn như vậy, nhà triết học còn nói :“Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả.Nó làm thế nào thì sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra’’.Đến đây một phần cánh cửa như được mở rộng. Tại sao lại nói “mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có”?.Mỗi con vật khi sinh ra đều biết ăn, biết đi lại , biết bắt mồi,……, tất cả đều là do bản năng sinh tồn của nó, giống như con mèo con, khi mới sinh ra là đã biết bò lại gần mẹ để bú , để hưởng chút hơi ấm ngọt ngào mà mẹ nó dành cho những đứa con yêu thương, rồi dần tự mở đôi mắt nhỏ xinh mèo con bắt đầu tập được những bước đi chập chững, rồi chạy nhảy, đến nô đùa, đến bắt chuột , tất cả đều là do tự nhiên mà có , không ai dạy bảo, mèo con trưởg thành và cả vòng đời mèo con vẫn như vậy, không thay đổi. Thật hay, tạo hoá đã ban tặng cho loài vật một bản năng đặc biệt để có thể thích nghi với cuộc sống thế nhưng “Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả’’.Đúng vậy, con người không hề có một chút bản năng đặc biệt nào ,tất cả mọi thứ hoàn toàn phụ thuộc vào người khác,phải trải qua sự rèn luyện, tập tành mới có được khả năng.Con người khi sinh ra vốn chẳng biết gì ,chỉ nhắm nghiền đôi mắt bé xiu và oa oa oà lên những tiếng khóc đòi bú mẹ, thật sự chẳng thể nào chạm được tới mẹ. Tất cả là nhờ mẹ nâng niu ,ôm ấp vào lòng hoà tan dòng sữa ngọt chạm vào môi hồng bé xinh thì mới tiếp tục sự sống được. Không chỉ vậy, làm sao con người có thể tự đi đứng, bò trườn được,tất cả phải qua quá trình rèn luyện ngay từ thuở ban đầu.Hai tháng biết lật, ba tháng biết bò, sáu tháng chập chững biết đi , mười tháng bắt đầu hoàn thiện bước đi của mình,……….Đâu phải tự nhiên! Đều do bàn tay nồng ấm của mẹ dìu dắt từng bước, từng bước một ,tạo nên khả năng sinh tồn, hoà nhập với cuộc sống cho một sinh linh bé nhỏ dần bước vào đời. Con người khác với con vật là có tri thức, có phẩm chất đạo đức nhưng đây cũng đâu phải là điều vốn sẵn có trong từng người mà nó được phát huy, phát triển qua những ngày học tập, những ngày được dạy dỗ. Cũng như chúng ta ngay từ nhỏ đã được dạy rằng phải biết hiếu thảo với cha mẹ, bên ngoài xã hội cần tôn trọng người khác, phải chân thành , công bằng, …….và nhiều điều khác nữa, những lời dạy đó ăn sâu vào tâm trí, nó lớn theo thời gian khi ta càng lớn, và được áp dụng ngay trong đời sống. Thử hỏi không có sự chui rèn , không có sự luyện tập thì làm sao ta có thể hoà nhập với cuộc sống hiện tại đựơc , bởi vậy “nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó”. Đó chính là lí do ta cần phải biết sống , biết hành động, biết nỗ lực .Cũng như khi muốn đánh được một bản nhạc hay thì ta phải tập đánh đàn, điều đó xuất phát từ lòng yêu thích , bắt nguồn từ sự tự nguyện , không hề bị cưỡng ép, ràng buột. Con người là một tờ giấy trắng, chỉ từng nét, từng nét bút mới vẽ lên bức tranh hoàn thiện, nên cần phải luyện tập từ thấp đến cao , từ dễ đến khó, mới có thể hấp thu kiến thức từ cuộc sống được. Giống như trong học tập đâu phải ai mới đầu cũng được ngồi trên chiếc ghế đại học, mà phải bắt đầu từ lớp một, trải qua mười hai năm rèn luyện gian khổ mới được ngồi vững trên chiếc ghế ấy. Tóm lại để đạt được thành công , ước muốn, nguyện vọng thì chính bản thân phải có sự nổ lực thực sự, cố gắng toàn vẹn thì thành công sẽ đến trong tầm tay thôi. Tuy nhiên đâu phải ai cũng đi được đến cùng của sự thành công. Có nhiều người đang học rất tốt nhưng vì mê chơi bỏ ngang việc học thế là mất tất cả qua một lúc nông nỗi, quả đúng thật họ làm thế nào thì sẽ nhận lại được kết quả như thế ấy thôi!.Chính vì vậy hãy luôn nhớ rằng “tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”, chỉ có ta mới quyết định được số phận của ta, con người ta thế nào thì do chính ta làm nên. Một người nếu biết gắng công học tập, biết chú trọng đến phẩm chất đạo đức, …. Thì sau này sẽ làm nên danh tiếng góp phần đưa đất nước đến một góc trời vinh quang, xây dựng đất nước ta thành toà lâu đài đẹp nhất mà không cường quốc nào có thể sánh bằng.Nhưng thật dáng tiếc xã hội ta ngày nay vẫn không thiếu những kẻ tự huỷ diệt mình ,những con người thân tàn ma dại do ăn chơi sa đoạ, dẫn đến bị AIDS,bị nghiện ngập là cũng do chính họ tự tạo ra, tự tạo cho họ một cuôc sống khổ sở , bị mọi người xa lánh.Bên cạnh là những kẻ chỉ biết trông chờ vào người khác , không biết tự nỗ lực bản thân trong hoc hành cũng như trong công việc .Thật đáng phê phán! Qua câu nói vô cùng đáng giá của nhà triết học, có lẽ đã làm thức tỉnh chúng ta , cho nên ngay từ bây giờ phải biết rèn luyện bản thân, học tập thật tốt, khắc phục chỗ hạn chế còn phải trông chờ vào người khác,để bản thân ta phát triển hơn, và hơn hết phải làm nên một con người hợp thời đại thì xã hội mới phát triển, đất nước mới giàu mạnh.Nhưng các bạn cũng hãy nhớ rằng chúng ta không hề cô độc chiến đấu với số phận mà bên cạnh đó còn có gia đình, xã hội nữa.Chính những tác động đócũng có thể tạo nên tôi của ngày mai. Câu nói của nhà triết học thật thú vị phải không các bạn? Biết bao điều ý nghĩa, vô giá được ẩn chứa trong câu nói này. Hãy tự khẳng định cái tôi của chính mình và làm nên cái tôi thật sự, thật giá trị cho xã hội này nha các bạn!!!! “Tôi chỉ có thể là kẻ do chính tôi làm ra”
Mọi người chỉ giúp mình cách làm bài văn nghị luận văn học để đạt điểm cao với, mình dốt văn quá, không biết có qua nổi kỳ thi này không nữa

Đỗ Xuân Trường

Mình sẽ chỉ giúp bạn cách làm bài văn nghị luận văn học để đạt điểm cao nhé A. KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN - Văn nghị luận là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục được ý kiến phải đúng và thái độ phải đúng. Có thể gọi ý kiến là lý còn thái độ là tình. Có khi ý kiến đúng mà thái độ không đúng thì cũng kém giá trị và tác dụng. Có ý kiến đúng và thái độ đúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lý nữa. - Yêu cầu bài văn nghị luận: Phải đúng hướng, phải trật tự, phải mạch lạc, phải trong sáng, phải sinh động, hấp dẫn, sáng tạo. - Những thao tác chính của văn nghị luận: giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ, so sánh,… - Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học,… - Khi hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận văn học cần chú ý các yêu cầu sau đây: + Củng cố cho học sinh nắm chắc các thao tác nghị luận về đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích, tác phẩm văn xuôi. + Củng cố kiến thức cơ bản ở mỗi tác phẩm văn học như: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, giá trị tư tưởng,… + Đối với thơ, cần chú ý đến hình thức thể hiện (hình ảnh, nhịp điệu, cấu trúc, biện pháp tu từ,..). + Đối với tác phẩm văn xuôi: cú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, các dẫn chứng chính xác, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tình huống truyện,… B. CÁCH LÀM MỘT BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC I. Tìm hiểu đề - Cần khắc sâu cho học sinh tầm quan trọng của việc tìm hiểu đề, cần trả lời cho được 4 câu hỏi sau đây: 1. Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết? Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy. Có 2 dạng đề: - Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. - Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận đề. 2. Đề yêu cầu nghị luận theo kiểu bài nào? Dưới đây là dạng đề thường gặp: - Bình giảng một đoạn thơ - Phân tích một bài thơ. - Phân tích một đoạn thơ. - Phân tích một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi. - Phân tích nhân vật. - Phân tích một hình tượng - Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật,… 3. Cần sử dụng những thao tác nghị luận nào, thao tác nào chính? 4. Để giải quyết vấn đề cần sử dụng những dẫn chứng nào? Ở đâu? II. Tìm ý và lập dàn ý 1. Tìm ý: - Tự tái hiện lại kiến thức đã học về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đang bàn đến. - Tự suy nghĩ và trả lời các câu hỏi: + Xác định giá trị nội dung, tư tưởng: tác phẩm ấy chứa đựng bao nhiêu nội dung. Đó là những nội dung nào?; Qua mỗi nội dung, tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì? Nhà văn muốn gởi gắm thông điệp gì đến người đọc? + Xác định giá trị nghệ thuật: để làm bật lên giá trị nội dung, nhà văn đã sử dụng những hình thức nghệ thuật nào?; Thủ pháp nghệ thuật quan trọng nhất mà tác giả sử dụng để gây ấn tượng cho người đọc là thủ pháp gì?; Chi tiết nào, hình ảnh nào,…làm em thích thú nhất? Vì sao? Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật gì ở đó? (Cần lưu ý, việc phân chia hai vấn đề nội dung, hình thức để dễ tìm ý, nhưng khi phân tích thì không nên tác rời giá trị nội dung và nghệ thuật.) 2. Lập dàn ý: Dựa trên các ý đã tìm được, học sinh cần phát họa ra 2 dàn ý sơ lược. Cần chú ý học sinh: khi lập dàn ý và triển khai ý phải đảm bảo bốc cục 3 phần của bài văn, nếu thiếu một phần, bài văn sẽ không hoàn chỉnh và bị đánh giá thấp. Dưới đây là dàn ý cơ bản của một bài văn phân tích tác phẩm. * Mở bài: - Giới thiệu vài nét lớn về tác giả. - Giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm, xuất xứ tác phẩm. - Giới thiệu luận đề cần giải quyết. (cần bám sát đề bài để giới thiệu lau65n đề cho rõ ràng, chính xác. Luận đề cần dẫn lại nguyên văn yêu cầu của đề). * Thân bài: - Nêu luận điểm 1 – luận cứ 1 – luận cứ 2,…(Các luận điểm, luận cứ này chính là các ý 1,2,3…ý a, ýb,..mà các thầy cô đã giảng dạy trong bài học về tác phẩm ấy). Học sinh cần chỉ ra giá trị nội dung thứ nhất là gì, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì?, giá trị tư tưởng tình cảm gì?,… - Nêu luận điểm 2 – luận cứ 1 – luận cứ 2,…Cần chỉ ra giá trị nội dung thứ 2, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì, giá trị tư tưởng tình cảm gì?,… ------------- - Nhận định chung: khắc sâu giá trị tư tưởng – chỉ ra thành công về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm (so sánh với các tác phẩm khác cùng thời) và nêu hạn chế của nó (nếu có). * Kết bài: Khẳng định giá trị văn học của tác phẩm ở 2 mặt nội dung và nghệ thuật. Sau khi đã có dàn ý, học sinh cần phải biết dựng đoạn dựa theo các luận điểm vừa tìm ra. 3. Cách dựng đoạn và liên kết đoạn: * Dựng đoạn: Cần nhận thức rõ mỗi luận điểm phải được tách ra thành một đoạn văn nghị luận (Phải xuống dòng và lùi đầu dòng, chữ đầu tiên phải viết hoa) Một đoạn văn nghị luận thông thường cần chứa đựng một số loại câu sau đây: - Câu chủ đoạn: nêu lên luận điểm của cả đoạn, câu chủ đoạn cần ngắn gọn rõ ràng. - Câu phát triển đoạn: gồm một số câu liên kết nhau: câu giải thích, câu dẫn chứng, câu phân tích dẫn chứng, câu so sánh, câu bình luận,… - Câu kết đoạn: là câu nhận xét, đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả đoạn. * Liên kết đoạn: Các đoạn văn trong bài văn đều cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Có 2 mối liên kết: liên kết nội dung và liên kết hình thức. - Liên kết nội dung: + Tất cả đoạn văn trong bài văn bắt buộc phải có liên kết nội dung, nghĩa là mỗi đoạn văn đều phải hướng vào luận đề, làm rõ luận đề. Nếu không thì bài văn sẽ trở nên lan man, xa đề, lạc đề. + Có thể thấy sự liên kết nội dung qua những từ ngữ xuất hiện trong mỗi đoạn văn. Các từ ngữ quan trọng trong luận đề (hoặc những từ ngữ trong cùng một trường từ vựng ấy) thường xuất hiện nhiều lần, lặp đi lặp lại nhiều lần trong các đoạn văn. - Liên kết hình thức: + Bên cạnh sự liên kết nội dung ở các đoạn văn, giáo viên cần chỉ ra cho các em cách liên kết hình thức để giúp cho việc triển khai ý thêm dễ dàng, làm cho bài văn trở nên dễ đọc, dễ hiểu, có tính mạch lạc, rõ ràng. + Liên kết hình thức có thể thấy rõ qua các câu nối hoặc từ ngữ liên kết đoạn nằm đầu mỗi đoạn văn. + Tùy theo mối quan hệ giữa các đoạn văn mà ta có thể dùng các từ ngữ liên kết đoạn khác nhau, dưới đây là một số từ ngữ mà tần số xuất hiện rất nhiều trong các bài làm văn. (Trước tiên, tiếp theo đó, ở khổ thơ thứ nhất, sang khổ thơ thứ hai,…; Bên cạnh đó, song song đó, không những thế, song, nhưng,…; Về cơ bản, về phương diện, có thể nói, cũng có khi, rõ ràng, chính vì, tất nhiên,…; Nếu như, nếu chỉ có thể, thế là, dĩ nhiên, thực tế là, vẫn là, có lẽ,…; Cũng cần nói thêm, trở lại vấn đề,…; Cho dù, mặc dù vậy, nếu như ở trên,…; Nhìn chung, nói tóm lại,…) C. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC I. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Thường có các nội dung sau: - Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ. - Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật cảu bài thơ, đoạn thơ. - Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ. 1. Yêu cầu. - Đọc kĩ một đoạn thơ, bài thơ nắm: hoàn cảnh, nội dung, vị trí,… - Đoạn thơ bài thơ có những hình ảnh, ngôn ngữ gì đặc biệt. - Đoạn thơ, bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của tác giả như thế nào? 2. Các bước tiến hành a. Tìm hiểu đề: - Đọc kĩ đề, xác định nội dung nghị luận trong bài thơ, đoạn thơ? - Thao tác lập luận. - Phạm vi dẫn chứng. b. Tìm ý: có nhiều cách tìm ý: * Tìm ý bằng cách lập câu hỏi: tác phẩm hay ở chỗ nào? Nó xúc động ở tình cảm, tư tưởng gì? Cái hay thể hiện ở hình thức nghệ thuật nào? Hình thức đó được xây dựng bằng những thủ pháp nào? * Tìm ý bằng cách đi sâu vào những hình ảnh, từ ngữ, tầng nghĩa của tác phẩm,… c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (hoàn cảnh sáng tác, vị trí,…) - Dẫn bài thơ, đoạn thơ. * Thân bài: - Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ (dựa theo các ý tìm được ở phần tìm ý). - Bình luận về vị trí đoạn thơ, đoạn thơ. * Kết bài: Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. II. Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. 1. Yêu cầu. - Nắm rõ nhận định, nội dung của nhận định đề cập đến. - Nghị luận cần phải có những hiểu biết về văn học. - Nắm rõ tính hiện thực, tính nhân đạo, ngôn ngữ văn học. - Thành thạo các thao tác nghị luận. 2. Các bước tiến hành: a. Tìm hiểu đề: - Xác định luận đề: nội dung ý kiến, nhận định. - Xác định thao tác. - Phạm vi tư liệu. b. Tìm ý. c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu khái quát ý kiến, nhận định… - Dẫn ra nguyên văn ý kiến đó. * Thân bài: triển khai các ý, vận dụng các thao tác để làm rõ nhận định. * Kết bài: khẳng định lại vấn đề, nêu ý nghĩa, liên hệ bản thân. III. Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi 1. Yêu cầu: - Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận. - Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm đoạn trích. - Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích. 2. Các bước tiến hành a. Tìm hiểu đề: - Đọc kĩ đề, xác định vấn đề cần làm rõ. - Các thao tác nghị luận. - Phạm vi dẫn chứng. b. Tìm ý: c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác,…) - Dẫn nội dung nghị luận. * Thân bài: - Ý khái quát : tóm tắt tác phẩm - Làm rõ nội dung nghệ thuật theo định hướng của đề - Nêu cảm nhận, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích. * Kết bài: Nhận xét, đánh giá khái quát tác phẩm, đoạn trích (cái hay, độc đáo) 1. Nghị luận về một tình huống trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách). - Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm). - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác Tình huống truyện: Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại. Nó là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ đậm nét nhất. - Phân tích các phương diện cụ thể của tình huống và ý nghĩa của tình huống đó. + Tình huống 1....ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm. + Tình huống 2...ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm. ...... - Bình luận về giá trị của tình huống c. Kết bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về tình huống đó. 2. Nghị luận về một nhân vật, nhóm nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách). - Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật. - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Phân tích các biểu hiện tính cách, phẩm chất nhân vật. (chú ý các sự kiện chính, các biến cố, tâm trạng thái độ nhân vật...) - Đánh giá về nhân vật đối với tác phẩm c. Kết bài: - Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc. - Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó 3. Nghị luận về giá trị của tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. 3.1. Dàn bài giá trị nhân đạo. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu về giá trị nhân đạo. - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Giải thích khái niệm nhân đạo: Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ. - Phân tích các biểu hiện của giá trị nhân đạo: + Tố cáo chế độ thống trị đối với con người. + Bênh vực và cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh con người. + Trân trọng khát vọng tư do, hạnh phúc và nhân phẩm tốt đẹp con người. + Đồng tình với khát vọng và ước mơ con người. - Đánh giá về giá trị nhân đạo. c. Kêt bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó 3.2. Dàn bài giá trị hiện thực. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu về giá trị hiện thực - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Giải thích khái niệm hiện thực: + Khả năng phản ánh trung thành đời sống xã hội một cách khách quan trung thực. + Xem trọng yếu tố hiện thực và lí giải nó bằng cơ sở xã hội lịch sử. - Phân tích các biểu hiện của giá trị hiện thực: + Phản ánh đời sống xã hội lịch sử trung thực. + Khắc họa đời sống, nội tâm trung thực của con người. + Giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo (hay ca ngợi) xã hội, chế độ. - Đánh giá về giá trị hiện thực. c. Kết bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó
Giúp em làm đề văn này với ạ: "Trên thế giới này, thất bại duy nhất là bỏ cuộc và không chịu tiếp tục nỗ lực. Người thành công mãi không bỏ cuộc, người bỏ cuộc thì mãi không thành công". ( Hạt giống tâm hồn,...
(Xem thêm)

Đỗ Xuân Trường

Trong cuộc sống của mỗi người chúng ta, không ai muốn mình sẽ là người thất bại. Thế nhưng, thành công và thất bại luôn hoán đổi cho nhau vì không thể có tình trạng mọi người cùng thành công một lúc. Chính vì vậy, nhà văn nữ sĩ người Pháp có câu nói: “Thành công của người này là thất bại của người khác”. Chúng ta hãy cùng bình luận câu nói trên. Câu nói của nhà văn người Pháp đã đề cập đến hai khái niệm thành công và thất bại trong đời sống.. tuy nhiên, hai khái niệm này chỉ đúng trong một phạm vi nào đó, không phải lúc nào cũng chính xác “Thành công” là những thành quả mà ta đạt được sau những cố gắng. Không có vinh quang nào tự đến với mỗi con người, mà muốn gặt hái được vinh quang, con người phải đổ mồ hôi, phải làm việc cật lực với một ý chí kiên định và quyết tâm mạnh mẽ để đạt được mục đích đã đề ra. “Thất bại” chỉ xảy ra đối với những người không thật sự cố gắng, cũng có thể một phấn do sự chủ quan của họ. Nhưng đôi khi, “thất bại” có thể là do sự kém may mắn. Như vậy câu nói “Thành công của người này là thất bại của người khác” của nhà văn người Pháp có ý nói rằng thành công và thất bại của mọi người thường hoán đổi cho nhau và không thể có tình trạng tất cả mọi người đều thành công cùng một lúc. Câu nói của nữ sĩ người Pháp này là đúng. Một khi người này thành công thì luôn phải có người thất bại, không thể cả hai cùng thành công một lúc được. Sau khi kết thúc một cuộc thi, chúng ta sẽ có được một người thắng cuộc và người thua cuộc. Người thắng cuộc là người đã vượt lên những thí sinh khác trong cuộc thi, họ đã nỗ lực hết sức mình trong suốt cuộc thi và họ xứng đáng nhận được chiến thắng. Người thua cuộc không hẳn là người không biết cố gắng, nỗ lực trong cuộc thi, có thể do họ không may. Trong học tập cũng vậy, nếu chúng ta biết phấn đấu vươn lên thì đến cuốn năm, chúng ta sẽ có được kết quả tốt. Còn những bạn không biết nỗ lực, cố gắng trong học tập thì họ sẽ có những kết quả xấu. Trong công việc, câu nói “Thành công của người này là thất bại của người khác” càng được thể hiện rõ hơn. Nếu có một đề án, người nào cố gắng hoàn thành đề án ấy tốt hơn sẽ là người thành công, còn người thất bại không hẳn là họ thiếu sự nỗ lực, cố gắng, có thể do trình độ của họ không thể bằng với người kia được. Chính vì vậy, họ cần phải nỗ lực hơn nữa cho lần sau. Để đạt thành công, chúng ta cần phải cố gắng vươn lên, vượt qua người khác Thế nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta phải dùng mọi thủ đoạn . Có những người vì muốn đạt được thành công mà họ đã dùng mọi cách, thủ đoạn xấu, thậm chí còn làm ảnh hưởng đến tính mạng đến người khác, tạo nên mối nguy hiểm cho xã hội. Những người này đáng bị xã hội phê phán và lên án. Như vậy, để đạt được thành công trong cuộc sống, không muốn mình trở thành người thất bại, mỗi người chúng ta cần phải nỗ lực,cố gắng. Thành công không phải tự nhiên đến mà đó là do sự nỗ lực, quá trình rèn luyện của mỗi cá nhân. Thế nhưng, chúng ta cũng không nên quá chú trọng đến thành công mà quên đi sự thất bại. Chính sự thất bại này sẽ làm cho chúng ta có thêm nhiều kinh nghiệm và là con đường dẫn đến thành công sau này Nếu chúng ta thất bại thì cũng không nên buông xuôi mà hãy lấy sự thất bại ấy không chỉ một lần mà nhiều lần để hiễu rõ câu “Thất bại là mẹ thành công”. Có như vậy, chúng ta sẽ tiến bộ hơn trong cuộc sống. Trong cuộc sống , chúng ta cần phải cố gắng vươn lên mọi khó khăn. Chính vì vậy,câu nói “Thành công của người này là thất bại của người khác” của nhà nữ sĩ người Pháp là lời động viên mọi người, nhất là những thanh niên trong thời đại hiện nay, phải biết cố gắng hết sức mình để xây dựng đất nước.
Đề bài văn nghị luận: suy nghĩ của anh chị về nói và làm trong cuộc sống. Giúp mình với, huhu... Cảm ơn trước ạ !!

Đỗ Xuân Trường

Có một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi thời: nói đi đôi với làm". Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác khó mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu, dễ trở thành "nói suông", tức là số không. "Nói đi đôi với làm" là một giá trị hằng hữu của minh triết Hồ Chí Minh. Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo.... Ngay trong bản thân minh triết lưu hành ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều vết tích vang vọng của minh triết những nền ván hoá, văn minh khác. Người Việt không thể không tìm hiểu minh triết của những nền văn hoá khác. Công việc này giúp chúng ta thấy được rõ hơn, tinh tế hơn bản sắc riêng của mình. Đồng thời thấy được tính phổ quát của minh triết, thấy dược cái chung giữa ta và người, Cũng có thể xem đây là một sự chuẩn bị tinh thần đi vào con đường hội nhập. Nghiên cứu minh triết ở Việt Nam bắt đầu bằng sự tổng kiểm kê và sưu tầm bổ sung những viên ngọc quý của Minh triết hiện đương rải rác khắp nơi. Chỉ có những viên ngọc quý trong ca dao tục ngữ là được sưu tầm tương đối đầy đủ, tuy vậy chưa được nghiên cứu sâu sắc ở "mặt cắt" minh triết, vả chăng vẫn còn sót ca dao tục ngữ của những dân tộc anh em. Minh triết của Đạo giáo đã được những học giả nghiên cứu khá sâu nhưng chưa được phổ cập. Có một vốn minh triết nữa rất quan trọng: đó là những suy nghĩ, những bài học minh triết được rút ra từ hoạt động của những người hoạt động chính trị và xã hội, những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, những doanh nhân, những người hoạt động tôn giáo- họ là những người trực tiếp và thường xuyên vật lộn với thực tiễn Việt Nam. Minh triết văn hóa Việt trước hết là 3 nguồn Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trong "tam giáo đồng nguyên" thời cổ. Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo. Ảnh: phoquang.org Trong thời đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ chí Minh với sức thấm sâu, lan tỏa rộng trong lòng dân là một nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt. Có lần kể 'lục giáo'của Nguyễn Khắc Viện cho họa sĩ Lê Bá Đảng, tôi hỏi 'giáo' nào là quan trọng hơn cả. Ông cười và trả lời: 'Việt giáo là quan trọng nhất'. Không khỏi liên tưởng đến một câu nói của Hồ Chí Minh: 'Đảng của tôi là Đảng Việt Nam'. Câu nói này góp phần làm sáng tỏ gốc nguồn của minh triết Hồ Chí Minh. Minh triết bao giờ cũng gắn với những giá trị. Có một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi thời: nói đi đôi với làm". Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác khó mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu, dễ trở thành "nói suông", tức là số không. "Nói đi đôi với làm" là một giá trị hằng hữu của minh triết Hồ Chí Minh. Từ năm 1927, trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, trong 23 điều phải có về tư cách của người cách mệnh thì điều thứ 10 là "Nói thì phải làm". Điều thứ 10 này đã được nhấn mạnh bằng mệnh lệnh thức. Trong cuốn "Sửa đổi lối làm việc" (1947) quan hệ phải có giữa "nói và làm" được khẳng định thông qua quan hệ phải có giữa " lý luận và thực hành".: - "Lý luận phài đem ra thực hành..." - "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên" - "Lý luận cốt áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích." Giữa nói và làm Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào "làm": - ..."miệng nói, tay làm"... "Phải thật thà nhúng tay vào việc" - "Nói ít, làm nhiều" - "Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được." - "Nói miệng, ai cũng làm được. Ta cần phải thực hành..." - "Trong Đảng ta, có một số người... chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế..." Bác đã nói thì làm. Và làm thực sự... Ngay sau Cách mạng tháng tám 1945, nạn đói vẫn đe dọa. " Với cương vị Chủ tịch nước, Bác kêu gọi: "... Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo... "Chuyện kể rằng có một lần Tiêu Văn - trung tướng trong quân đội Tưởng Giới Thạch - mời chiêu đãi Bác đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn để cứu đói. Khi Bác dự tiệc về , anh em báo cáo với Bác rằng phần gạo của Bác đã cho vào hũ gạo cứu đói rồi. Vậy mà Bác vẫn quyết định "nhịn bù" một bữa vào ngày hôm sau"[1] Hồ Chí Minh đăt cao yêu cầu làm gương mẫu cho mọi người noi theo: "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tr.253). Chúng ta đều biết chỉ qua hành động, qua "nhúng tay vào việc", qua lăn lưng ra làm mới trở thành gương mẫu. Xưa nay chưa có ai chỉ bằng "lời nói" mà trở thành gương mẫu. Có một mối liên hệ sâu sắc giữa tư tưởng phát huy sức cảm hóa của những "tấm gương sống" và tư tưởng biểu dương "người tốt, việc tốt"của Hồ Chí Minh. Những "tấm gương sống", những "người tốt" có sức thuyết phục hồn nhiên và sâu sắc vì họ là hiện thân của công việc, của lao động, của thực hành, của "miệng nói tay làm", của " nói ít làm nhiều", họ là sự hiện thân của minh triết Hồ Chí Minh. Mục "Chân dung Người đương thời" trên VTV1 có sức hấp dẫn mạnh mẽ vì qua đây, khán giả tiếp xúc với những con người sống động, mỗi người một vẻ, một cảnh ngộ nhưng tất cả đều bị cuốn hút bởi công việc mình làm, đều mải mê tìm tòi, sáng tạo, đều kiên trì chí hướng, "có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được". Minh triết Hồ Chí Minh được sáng tỏ trong mục Truyền hình này hơn đâu hết: "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Để học tập tư tưởng, đạo đức của Bác trước hết cần tìm hiểu con người, cuộc đời và những câu nói của Bác. Nhưng không thể quên minh triết Hồ Chí Minh đương biểu hiện ngời sáng ở ngàn vạn "tấm gương sống"và "người tốt, việc tốt" đương xuất hiện khắp nơi trên đất nước,không kể trước đây họ từng ở phía nào của chiến tuyến. Số đông trưởng thành và được tôi luyện trong thực tiễn của cuộc Cách mạng mà Hồ Chí Minh là người thiết kế và người đôn đốc gây dựng, họ phải giải quyết những nhiệm vụ mà lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chưa từng đặt ra, những hậu quả của những tai họa mà Lịch sử (hay là Số phận?), những nhiệm vụ mà họ phải chèo chống giữa phong ba bão táp của lịch sử trong khi Người thuyền trưởng lão luyện không còn nữa... Họ giống như những Sisyphus phải vần lên đỉnh núi những tảng đá nặng gấp ngàn lần sức lực của họ. Hòn đá to. Hòn đá nặng. Một người không vần nổi thì 3 người..., 3 trăm người..., 3 vạn người..., 3 triệu người... Cuối cùng, khác với nhân vật huyền thoại, họ đã hoàn thành nhiệm vụ. Có khi chính họ là Hồ Chí Minh mà không tự biết.
làm on chi tui cach lam bai van nghi luan xa hoi ve viec truong hoc than thien hoc sinh tich cuc dum cai[:(][:(]

Sakura Kinomoto

Thầy cô, mái trường, bạn bè và nhưũng kỉ niệm trong 2 năm qua, nó tồn tại và được cất giữ trong tim, nhẹ nhàng và đem nó ra ngồi nhìn lại, thực sự là những điều đpẹ đẽ. Một thời em nhớ về thầy cô, một thời em nhớ về mái trường và nơi ấy, em biết rằng cũng có những người bạn mà em yêu quý nhất. Mọi kỉ niệm đều là dĩ vãng, nhưng dĩ vãng đó sẽ luôn đọng lại trong lòng em như chính ngày hôm qua em đã làm được 1 điều gì đó cho cuộc sống này. Mái trường nơi đó, ngày đầu tiên em bước chân vào, đứng trước cánh cổng xanh một màu xanh mát mẻ, ươm một màu nắng nhẹ của buổi sớm mai em đến. Cái cảm giác bỡ ngỡ, em cứ tưởng mình sẽ ko có, bởi nó đã đến khi em bước chân vào lớp 1, còn bây giờ là lớp 6, đã 5 năm rồi, nghĩ rằng nó sẽ chẳng đến nữa đâu, nhưng vẫn là cảm giác ấy, sự bỡ ngỡ như những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, cũng bửoi cái mới, cái lạ. Rồi khi đã quen dần, bước vào cánh cổng ấy, sự bữo ngỡ ngày nào đó mãi là kỉ niệm đẹp. Rồi lớp 7, nhìn trường bằng ánh mắt thân thương quen thuộc, 2 năm nó ko phải là thời gian dài gắn bó, 2 năm ko phải là quá dài nếu như đem so sánh với những anh chị lớp 8, lớp 9, nhưng nó đủ để em cảm nhận được sự thân thương từ ngôi trường này đây, cảm nhận được sự yêu mếm của thầy cô, bạn bè, và cũng đủ để tìm kiếm được mọi ngóc ngách trong trường 1 cách dễ dàng. Khi đi xa ta nhớ, khi ở gần ta thương, những con người ngày đêm tận tụy, em quên sao được nụ cừoi của cô khi đứng trên bục giảng, em quên sao được ánh mắt của thầy khi chỉ dạy từng đứa cách làm bài. Cái lớp 7, nó chưa đủ để biến yêu thương thành hành động, nhưng đó là thời gian yêu thương được cất giấu và nung nấu. Rồi ve gọi hè, rồi phượng nở, rồi mùa chia tay,... nó đến khẽ khàng, nhẹ nhàng như tuổi già đến với con người. Đem đến bao nhiêu kỉ niệm và cũng đem đến bao sự nuối tiếc về những ngày cùng tung tăng với bạn đến trường, những giờ cùng bạn ôn bài, những giờ chơi vui vẻ huyên náo, những lầm em và bạn giận nhau,.... Hai năm, cũng đã đủ để viết nó vào trang kỉ niệm. Kỉ niệm đẹp - thầy cô, bạn bè, mái trường - nơi em đuợc sinh ra lần thứ hai.

hao

Nhớ là xúc cảm mạnh mẽ của lí trí, là những khúc đoạn vô hình rung lên trong phút vặn mình của những nơ-ron thần kinh đang băng qua bụi thời gian để níu kéo kỉ niệm ngày nào. Nếu thương là sự dao động của tình cảm mang tính hướng nội thì nhớ lại là phút lắc lư ngây ngất giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Một tiếng lá rơi giữa thinh không, một tà áo chập chờn trong nắng quái đủ để khiến nỗi nhớ cồn cào cả da thịt. Dường như mỗi chuyển động của ngoại giới đều thổn thức nỗi đồng vọng một thời. Ghế đá, hàng cây, phấn trắng, bảng đen... và cả tiếng nói cười làm ấm một chiều thu đang trước mắt tôi mà như lùi thật sâu , thật sâu vào quá vãng. Tất cả nhạt nhoè trong đáy mắt, ẩn cư trong nỗi nhớ xa xôi. Hàn Mặc Tử chẳng đã từng viết "chửa gặp nhau mà đã biệt ly", cái cảm giác của " nước đượm màu li biệt-trời vương hương biệt li" sao lúc này lại rõ thành hình trong tôi đến thế. Hôm nay đây, mai tất cả đã xa rồi. Mỗi đứa về một góc trời- Sẽ có lúc trên đường đời tấp nập, ta vô tình đi lướt qua nhau. Bạn thân hỡi xin hãy để NHỚ làm dây nối hai bờ xa cách như câu chuyện "Tương tư bất tương kiến-Đồng ẩm tương giang thuỷ"
Bạn thử tham khảo cái này rồi tổng hợp thành bài viết nhé Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của những người anh hùng dân tộc vĩ đại . Tài năng kiệt xuất và đức độ cao cả của họ đã có ảnh hướng...
(Xem thêm)

loi anh muon noi

hay qua
Các bạn giúp tớ làm bài văn nghị luận: chứng minh bài " Chiếu dời đô" của Lý Công uẩn có sức thuyết phục do có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý và tình. cám ơn các bạn trước[:)]

Nguyễn Gia Phong

tui ko bit

hao

Từ xưa đến nay, ông cha ta luôn truyền dạy cho con cháu những bài học quý báu về cuộc sống được đút kết từ kho tàng tục ngữ vô cùng phong phú và đa dạng. Một trong những bài học đó được thể hiện qua câu tục ngữ đó là “ Trăm hay không bằng tay quen”. Và cho tới ngày hôm nay bài học này càng thể hiện rõ giá trị của nó đối với cuộc sống mỗi con người. Câu tục ngữ “Trăm hay không bằng tay quen” được ông cha ta đút kết từ thời xa xưa. Cho nên từ “trăm” trong câu tục ngữ được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, “trăm” là một từ cổ, được hiểu là nói. Nếu chúng ta hiểu từ “trăm” theo nghĩa thứ nhất thì câu tục ngữ sẽ có nghĩa: “ Nói hay không bằng làm giỏi”. Còn với nghĩa thứ hai thì từ “trăm” được hiểu là nhiều, nếu ta kết hợp nghĩa thứ hai thì câu tục ngữ sẽ có nghĩa: “ biết nhiều không bằng làm tốt”. Tuy rẳng mỗi người có mỗi cách hiểu khác nhau, nhưng mỗi nghĩa đều có giá trị riêng của nó. Nếu chúng ta chọn theo cách hiểu thứ hai thì chúng ta có thể hiểu được trọn vẹn ý nghĩa câu tục ngữ trên là: lý thuyết không bằng thực hành. Đó cũng là ý nghĩa khái quát của bài học mà ông cha ta muốn truyền đạt cho con cháu chúng ta. Để xem xét sự đúng, sai trong câu tục ngữ trên, ta cần phải căn cứ vào cuộc sống thực tế , hoàn cảnh của mỗi con người vì mỗi câu tục ngữ, mỗi bài học đều nghĩa tương đối. Có khi ý nghĩa của câu tục ngữ đúng với người này nhưng lại không đúng với người khác. Có đôi lúc trong cuộc sống thì việc thực hành lại có giá trị hơn lý thuyết. Trong đời sống hằng ngày, ta hay bắt gặp những anh thợ sửa xe, họ phải sửa đi sửa lại nhiều lần thì họ mới trở thành một anh thợ giỏi. Cụ thể nhất là trong việc học văn rèn chữ, nếu chúng ta không vận dụng sáng tạo, chăm chỉ siêng năng thì việc học văn sẽ chẳng còn lợi ích. Ngược lại, có đôi lúc thì lý thuyết lại có giá trị chỉ đạo thực hiện. Anh thở kỹ sư, muốn xây được những tòa nhà cao chọc trời, những cây cầu rộng lớn thì anh phải vận dụng lý thuyết đã học để vận dụng vào thực tiễn nhằm đảm bảo không gây trở ngại ảnh hưởng đến công trình. Nếu anh kỹ sư không vận dụng lý thuyết thì hậu quả khó mà lường trước được. Cũng như việc một người bác sĩ giỏi nếu anh ta không học tập tốt ở trưởng thì làm sao có thể chữa bệnh cho người khác. Vì vậy mà xét theo mỗi trường hợp thì tùy vào từng trường hợp mà câu tục ngữ biểu hiện được giá trị và ý nghĩa của nó. Trong xã hội chúng ta ngày nay có một số ngưởi không xem trọng cả lý thuyết lẫn thực tế. Họ chỉ biết nói cho có rồi không làm. Ví như một số quan chức chính phủ chỉ biết hứa hẹn nhiều điều nhằm lấy lòng tin nhân dân rồi lại làm nhân dân thất vọng về việc họ làm, có đôi lúc họ cũng chẳng làm để người dân cứ phải khổ sở gây thiệt hại cho chính quốc gia đó. Một số nhà máy dù biết rõ rằng việc thải chất thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm nhưng họ vẫn cứ thải, diển hình như vụ nhà máy Vedan cách đây không lâu. Tất cả những hành dộng trên đều gây ra những hậu quả lớn cho cả loài người cả trong hiện tại lẫn tương lai. Vì thế mà việc cân bằng giữa thực hành và lý thuyết nhằm phát huy và kế thừa bài học quý báu đó của ông cha ta là điều quan trọng, nhất là với mỗi học sinh chúng ta, để đạt dược kết quả tốt trong việc học tập hiện tại cũng như là trong tương lai. Đói với nhà trường và mỗi gia đình, việc giáo dục con cái cũng như học sinh cũng cần phải điều hòa giữa thực hành lẫn lý thuyết, có khi thực hành nhiều sẽ giúp các học sinh phát huy hết năng lực vốn có thông qua lý thuyết được học. Xả hội cũng vậy, “nói đi đôi với làm” sẽ giúp ổn định xã hội, tạo lòng tin cho nhân dân, giúp nước nhà càng phát triển. Tóm lại, qua câu tục ngữ “Trăm hay không bằng tay quen”, ta rút ra được bài học quý báu mà ông cha ta mốn truyền đạt lại cho con cháu từ xưa tới nay. Đó là lý thuyết phải đi đôi với thực hành. Do vậy, mỗi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải siêng năng học tập, vận dụng những bài học vào thực tế một cách sang tạo nhằm tạo ra những giá trị tốt cho cuộc sống hiện tại và tương lai
Xin các bạn yêu thích văn học giúp mình với:viết đoạn văn ngắn khoảng 20-25 dòng phát biểu suy nghĩ của anh(chị)về đôi bàn tay Tnú hãy giúp mình viết bài văn nhanh nhất nghị luận văn học về đôi bàn tay Tnu nhanh lên bạn nhé
(Xem thêm)

Huỳnh Như

k hỉu ý của đề cho lém, rõ hơn
Em hãy viết một bài văn nghị luận để chứng tỏ ý nghĩa của câu nói này" -Dàn ý chung -Cách làm chi tiết cho bài văn này Mình đang rất gấp. Giúp mình nha! Thanks trước!

thu

Văn học lại chính là chiếc chìa khoá vàng mở rộng lòng nhân ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Một tác phẩm ra đời không chỉ phản ánh cuộc sống phong phú, muôn vẻ quanh ta mà còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với vạn vật. Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên xây đắp tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. “Thương người như thể thương thân”, đạo lý ấy từ lâu đã trở thành nền tảng đạo đức của người dân Việt Nam . Ta vẫn luôn thấy được rất rõ tình thương yêu, sự cảm thông to lớn ẩn hiện trong văn chương, dù được truyền miệng như văn học dân gian hay thông qua các thể loại văn học viết với những văn bản truyền lại đến mai sau. Trong các truyện cổ dân gian, ta bắt gặp không ít những số phận nghiệt ngã, đau đớn. Những con người ấy hoàn toàn bị các thế lực xấu xa chi phối. Có những lúc, ta tưởng chừng như cuộc sống của họ đã lịm tắt trước sự bất công của xã hội phong kiến, trước cái tàn nhẫn, hiểm độc của không ít người đời. Không! Không thật sự mất hết hi vọng đâu! Vì nếu kết cục chỉ dừng lại như thế thì còn đâu là cái hay và sự đặc trưng muôn đời của văn chương? Từng tình tiết trong câu chuyện là một nốt nhạc nhỏ nhiệm mầu, đánh lên bài ca vĩ đại của tình yêu thương.Ngược lại, những kẻ gian manh, độc ác, xấu xa phải gánh chịu hậu quả thích đáng với hành vi tội lỗi của mình. Chẳng phải tên Lí Thông gian ngoa, xảo trá đã bị Trời đánh chế, giáng làm bọ hung, suốt đời suốt kiếp phải chui rúc trong phân trong đất và mẹ con Cám cũng đã phải đền tội bằng cái chết tức tưởi đó sao? Trước nhất là tình cảm gia đình. Vì gia đình là cái nôi quan trọng của xã hội, có thật sự hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, đùm bọc anh chị em, ta mới có được những hành vi đúng đắn, chuẩn mực về đạo đức. Qua đó, tình yêu thương càng được nhân rộng. Ông bà tổ tiên ta ngày xưa thường mượn những hình ảnh ví von, bóng bẩy để lồng vào đấy những lời răn dạy về kinh nghiệm sống, về bài học rèn luyện nhân cách ở đời. Trong đó, bài học “lá lành đùm lá rách” luôn được người xưa đề cao ca ngợi Ý nghĩa duy nhất cần đạt được là chúng ta phải biết yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn. Dù không cùng chung huyết thống nhưng chúng ta đều mang trong tim sự sục sôi nhiệt huyết của dòng giống Lạc Hồng. Nhờ các bài học về tình thương, lòng nhân ái mà dân tộc Việt đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách của thời đại để tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay.Tính nhân đạo của văn học còn được thể hiện khá sâu sắc qua các tác phẩm viết. Khi người đọc đã thật sự hoà mình vào tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, thì cũng là lúc thông điệp của tình yêu thương đã được chuyển đến mọi người. Giá trị nhân văn của tác phẩm đã lên cao đến tận cùng. Trước những biến động lớn của xã hội Việt Nam những năm 1930 tới năm 1945, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… - các ngòi bút hiện thực tiêu biểu của dân tộc ta - đã cho ra đời một số tác phẩm có giá trị như: “Lão Hạc”, “Tắt đèn” và “Những ngày thơ ấu”. Với mục đích chính là truyền thụ tình yêu thương, sự cảm thông và phê phán sâu sắc những hủ tục cùng sự giả dối của bọn cường hào ác bá và quan lại thực dân. Các nhà văn đã khéo léo lồng ghép nhiều chi tiết gợi lên cuộc sống đầy gian lao, nghiệt ngã của nhân vật. Qua đó thể hiện nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của những người cùng khổ trong xã hội đương thời. Đấy là sự đùm bọc, che chở để chung tay giúp nhau vượt qua hoàn cảnh khó khăn hiện tại.Nhờ các tác phẩm văn chương từ cổ chí kim, chúng ta ngày càng thấu hiểu sâu sắc bao khổ cực mà nhiều người bất hạnh quanh ta phải gánh chịu. Ta thêm yêu thương, quý trọng họ và thực sự căm ghét mọi điều xấu xa, cám dỗ. Đấu tranh, phê phán những kẻ thờ ơ, máu lạnh, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn là cách duy nhất mà ta có thể hiểu rõ các tác phẩm đượm tình người. Nói cho cùng, văn học và tình thương luôn gắn kết mật thiết với nhau. Đây là tấm gương soi diệu kỳ giúp ta ngẫm lại mình, lọc bỏ hết những tật xấu đồng thời hướng ta tìm thấy chân lí đích thực của cuộc sống. Không tình yêu thương, nghĩa là chết!
Văn Nghị Luận Đề: nêy suy nghĩ về Hưng Đạo Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Anh chị làm ơn giúp em dàn ý cũng được , 1 bài tham khảo thì càng tốt. Thanks

thu

Trong số những tác giả viết sách sử hiện nay mà tôi từng đọc, người để lại ấn tượng mạnh nhất là bác Tạ Chí Đại Trường. Lịch sử trong sách của bác không bị ảnh hưởng, ràng buộc, che đậy,…bởi bất cứ thứ gì thuộc về hiện tại. Bằng sự khách quan hết mức có thể kèm theo tư duy nhạy bén và logic, bác Tạ Chí đã bóc tách tất tần tật những thứ dây dưa chủ quan, những vinh quang thần thánh, những mưu đồ chính trị,…mà người ta thường thấy ở những nhân vật kiệt xuất, những sự kiện chấn động,…đưa tất cả về lại điểm số 0 thực tại, nơi con người vẫn là con người, sự kiện chỉ là sự kiện, nơi quá khứ chính là quá khứ chứ không phải thứ quá khứ khoác lên mình lớp áo của hiện tại. Do đó, lịch sử qua cách nhìn của bác Tạ Chí Đại Trường, trong cảm nhận của tôi, là thứ lịch sử thật nhất, đời nhất, người nhất, sát với bản chất của nó nhất, và hiển nhiên, cũng dung dị và dễ chấp nhận nhất. Nhưng điều đó chỉ sẽ xảy ra với bạn trong trường hợp bạn muốn tiếp cận lịch sử bằng con đường chân chất và thuần khiết, xem nó như một bộ môn khoa học, hay nói cách khác, không bị ảnh hưởng bởi những thứ yêu ghét ở đời, không bị ràng buộc bởi định kiến hay ý đồ chính trị, hoàn toàn tự do suy luận bằng đầu óc của chính mình. Bởi vì, lịch sử qua cái nhìn của bác Tạ Chí là một lịch sử vô cùng trong sáng (trong sáng ở đây phải hiểu là sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể với những thứ mà bản chất không có liên quan), là nơi gặp gỡ những lời giải thích rằng tại sao quá khứ đã xảy ra như vậy, chứ không phải để nghe những lời phê phán khen chê sáo rỗng hoặc có mục đích (không trong sáng) về quá khứ. Hôm nay, để “đổi gió” nhân lúc Sài Gòn chuyển mình từ hạ sang thu, tôi cũng muốn thử một lần bóc trần hết mọi vinh quang để đưa con người về với điểm số 0 của thời đại họ. Nhân vật của bài cảm nhận lần này là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Hãy tạm gác hết những chiến công đi vào huyền thoại sang một bên trước khi tiếp cận góc khuất nội tâm nơi con người này, đặc biệt là theo cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường. Cũng hãy tạm xem như “Đức thánh Trần” chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, tức là, tạm thời gạt bỏ lớp áo tín ngưỡng đi. Và điều còn lại bây giờ là: một con người tên Trần Quốc Tuấn_quý tộc thuộc dòng họ Trần lẫy lừng (dòng họ vốn gắn liền với vụ bê bối mang tên “chế độ nội hôn”). Trước hết, cần trích dẫn sơ lược sự kiện đã diễn ra theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư: “Tân Hợi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 20 [1251] (Từ tháng 2 về sau là Nguyên Phong năm thứ 1, Tống Thuần Hựu năm thứ 11, Nguyên Hiến Tông Mông Kha năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 1, đổi nguyên hiệu là Nguyên Phong (năm thứ 1). … Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai Yên Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn. Ngày 15 tháng ấy, vua mở hội lớn 7 ngày đêm, bày các tranh về lễ kết tóc và nhiều trò chơi cho người trong triều ngoài nội đến xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước đó, vua cho công chúa Thiên Thành đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng. Công chúa Thụy Bà (chị ruột của Thái Tông, cô của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cáo cấp. Người coi cửa vội vào tâu. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời: “Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu” Vua vội sai nội nhân đến dinh Nhân Đạo Vương. Đến nơi, thấy yên lặng, bèn vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Quốc Tuấn đã ở đấy. Nhân Đạo bấy giờ mới biết chuyện. Hôm sau, Thụy Bà dâng 10 mâm vàng sống, tâu rằng: ” Vì vội vàng nên không sắm được đủ lễ vật”. Vua bắt đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành Vương.” Sự kiện “tưng bừng” này được tường thuật khá chi tiết và sinh động trong sử sách, lại không vì công lao sau này của Quốc Tuấn mà lược bỏ đi, kèm theo lời phê rất khắc nghiệt của Ngô Sĩ Liên, chứng tỏ tiền nhân không vì vinh quang về sau mà gạt bỏ thực tại, một thái độ rất chuyên nghiệp khi chép sử. Tuy nhiên, chuyên nghiệp khi chép sử là một chuyện, còn có khách quan và logic hay không lại là chuyện khác. Dễ thấy, Ngô Sĩ Liên đã bị ảnh hưởng bởi Nho giáo, ảnh hưởng bởi văn hóa đạo đức, nên đã có lời phê rất khắc nghiệt về sự kiện này, nhưng, nếu để ý kĩ lưỡng hơn, ta sẽ thấy Ngô Sĩ Liên còn bị ảnh hưởng bởi “những vinh quang sau này” của Đức Thánh Trần khi đã đổ toàn bộ tội trạng cho đời trước, ngược lại, nhân vật chính trong vụ náo loạn là Trần Quốc Tuấn lại không bị phê bình gì nghiêm trọng (Ngô Sĩ Liên là một sử quan đời sau, không phải sử quan của thời nhà Trần): “ Con gái vua lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn, theo lễ phải thế. Thái Tông đem Thiên Thành công chúa gả xuống cho Trung Thành Vương, nhưng công chúa lại về với Hưng Đạo Vương, việc hôn nhân rất là bất chính. Thế thì lễ cưới này không ai đứng chủ ư? Vì vua đã bất chính trong đạo vợ chồng, cho người làm tôi con cũng bắt chước. Vả lại, hôn nhân không lấy người khác họ mà lấy người cùng họ, thì chỉ có nhà Trần làm thế. Trong việc trái lễ, lại trái lễ nữa.” Ở đây, Ngô Sĩ Liên có nhắc thoáng qua vụ việc hoán vợ đổi chồng giữa Trần Thái Tông Trần Cảnh (có thể là cha của Thiên Thành công chúa) và anh ruột là An Sinh Vương Trần Liễu (bố đẻ của Trần Quốc Tuấn), vụ việc vốn để lại nhiều áy náy cho Thái Tông cũng như nhiều bức xúc oán hận cho người bị mất vợ là Trần Liễu. Lấy hành vi của người đời trước để xóa tội cho người đời sau là một việc làm (theo cá nhân tôi) là không hợp lý. Nhưng lấy hành vi của người đời trước để lý giải cho hành vi của người đời sau là một việc làm hết sức khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu lịch sử, nơi những sự kiện xảy ra đều ít nhiều có liên hệ với nhau. Đa số những tài liệu ca ngợi công lao của Trần hưng Đạo (kể cả sách giáo khoa sử, văn, và các sách tham khảo) đều cố tình bỏ qua những đoạn lộn xộn về hôn nhân và gia đình như vừa trích dẫn ở trên, ngược lại, lại viết kĩ lưỡng đến từng chi tiết sự kiện sau đây: “… Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Ngày sau có thể giúp nước cứu đời”. Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn trối trăn rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.” Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải. Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.” Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”. Hưng Vũ Vương trả lời: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”. Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”…” Đã khen thì khen cho trót, ai lại lôi chuyện xấu vào bao giờ. Họa hoằn lắm mới có sách vẫn cứ trích dẫn những chuyện lục đục, nhưng lấy cái xảy ra sau (tức là vinh quang và chiến công) để bào chữa cho cái xảy ra trước (vụ cướp công chúa Thiên Thành), đồng thời, cho trích dẫn luôn cả đoạn sử chép ngay phía trên để càng làm cho con người Trần Hưng Đạo cứ sau mỗi thời lại càng “thần thánh” xa rời hiện thực con người hơn. Thêm vào đó, quan điểm về chế độ nội hôn của họ Trần, sau vài trăm năm cách biệt, đã trở thành một điều hoàn toàn không thể chấp nhận ở thời hiện đại (mà thực ra ngay trong quá khứ, tại chính thời đại đó, đã là khó chấp nhận lắm rồi), nên mới sinh ra “vấn nạn” đào tung sử liệu để khẳng định công chúa Thiên Thành là chị em họ với Quốc Tuấn chứ hoàn toàn không phải là cô ruột (theo quan điểm của một vài nhà nghiên cứu khác), mục đích của đa số các tác giả trên suy cho cùng (lại) là muốn bào chữa cho những cái không phù hợp với vị trí của Đức Thánh Trần. Thực chất, hành động tưởng chừng rất “khoa học lịch sử” đó lại vô tình chứng tỏ nhận thức của một vài nhà nghiên cứu về lịch sử vẫn còn “chưa được trong sáng”. Ngược lại, trong cuốn sách “Những bài dã sử Việt”, mục “Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần”, bác Tạ Chí Đại Trường bằng tinh thần trong sáng với lịch sử rất đặc trưng của mình, đã kết hợp tất cả các sự kiện xảy ra trong khuôn khổ gia tộc của Trần Quốc Tuấn để lý giải những mắc mứu khó hiểu có liên quan. Và ta thấy, có chăng, sự khó hiểu chẳng qua chỉ vì đôi khi ta cứ cố xoay chuyển sự thật theo một hướng nào đó để bản thân luôn luôn nghĩ tốt về một đối tượng nào đó mà quên mất rằng ai cũng chỉ là con người, có quá khứ và có lầm lỗi, có dao động và có lựa chọn: “… Trần Quốc Tuấn bị hấp dẫn bởi công chúa Thiên Thành hẳn cũng nằm trong sinh hoạt bình thường đó (ý ám chỉ tục kết hôn cùng họ) . Có điều đáng chú ý là đối tượng của Quốc Tuấn lại là con gái Thái Tông nên có thể ngờ rằng ý thức trả thù theo lời dặn của cha chắc có chen vào hành động đó: vụ cướp vợ chỉ xảy ra trước khi Trần Liễu chết có hai tháng, nghĩa là giai đoạn tột đỉnh căm thù khi Liễu biết mình sắp chết. Sử quan đã thuật lại khá nhiều về sự gay gắt xảy ra giữa Quốc Tuấn một bên, Thái Tông và các con một bên. Nhưng ngay chính trong những giai đoạn khen Quốc Tuấn, ta thấy ảnh hưởng những lời dặn dò của Trần Liễu không phải không có ở người con đặc biệt này: trong lời dọ ý của gia nô (Yết Kiêu, Dã Tượng) và một người con trai (Hưng Vũ Vương) ông đều gặp phản đối và chỉ thấy một người con tán đồng (Quốc Tảng). Điều đó chứng tỏ ý định thầm kín nghe theo lời cha vẫn còn trong tâm trí ông, nhưng một mặt vì đã có mối liên hệ với Thái Tông (qua Thiên Thành), có thể với Nhân Tông (rể) lúc câu chuyện xảy ra, mặt khác phe phản đối ngay trong vây cánh lại là đa số, nên ông mới dứt khoát từ bỏ ý định cướp ngôi, và vì đã lộ ý hỏi dò thì phải tỏ ra phản đối mạnh mẽ nên có chuyện đòi giết Quốc Tảng, tuyệt tình đến khi chết. … ” Từ đoạn trích dẫn trên, ta thấy Tạ Chí Đại Trường đã giải quyết rất gọn gàng, khách quan và có hệ thống những điểm bất ổn trong cuộc đời Trần Quốc Tuấn, điều mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng làm được, để đưa Trần Quốc Tuấn về với những bản tính rất con người và rất chân thực của mình. Và hiển nhiên, một khi đã được giải thích rõ ràng, thì việc che cái này giấu cái kia khi nói hoặc viết về cuộc đời một con người hoặc về một sự kiện lịch sử là hoàn toàn không cần thiết, và cũng không nên xảy ra. Đến đây, tôi mạo muội đưa ra kết luận này: chỉ khi loại bỏ hẳn những điều thần thánh, những ý đồ không trong sáng, định kiến hoặc sự thần tượng đặc biệt,… người ta mới có thể lý giải về một con người trên khía cạnh của một con người. Lại nhớ đến một câu hát trong vở nhạc kịch “Ngàn Năm Tình Sử”, thấy phù hợp nên lấy làm câu kết cho bài cảm nhận: “…Anh hùng cũng như bao người, cũng biết yêu thương, cũng biết đau buồn, và còn hơn thế, còn đau hơn thế…” (Trích “Khai Từ, một niềm đau lớn”, Ngàn Năm Tình Sử)
Ai giúp thì em xin cảm ơn[:-/][:x][:-/][:x]

trung_2091999

Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của những người anh hùng dân tộc vĩ đại . Tài năng kiệt xuất và đức độ cao cả của họ đã có ảnh hướng quyết định đến vận mệnh đất nước . Đọc lại áng văn “ Chiếu dời đô “ của Lí Công Uẩn và bản hùng văn bất hủ muôn đời “ Hịch tướng sĩ “ của Trần Quốc Tuấn , chúng ta thấy sáng ngời nhân cách và hành động vì dân vì nước của họ . Qua đó , chúng ta hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc . “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn là sự tỏ bày ý định từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế . Sau đó , ông đổi tên kinh đô thành Thăng Long . Đấy là năm Thuận Thiên thứ nhất – năm khởi đầu sự nghiệp lẫy lừng của nhà Lí – 1 triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà đến đỉnh cao vòi vọi . Xưa nay , thủ đô là trung tâm về văn hoá , chính trị của 1 đất nước . Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của 1 dân tộc . Thủ đô có ý nghĩa rất lớn . Dừơng như lịch sử của các nước có nền văn minh lâu đời đều có những cuộc dời đô như thế . Mỗi lần dời là một thử thách của dân tộc . Đó phải là quyết định của những đầu óc ưu tú nhất thời đại . Nói cách khác , ko có ý chí quyết tâm lớn , ko có tầm nhìn thấu cả tương lai thì Lí Công Uẩn ko thể nói đến chuyện dời đô . Mở đầu bài chiếu , nhà vua giải thích tại sao lại dời đô . Và bằng 1 lí lẽ ngắn gọn nhưng sắc sảo , cùng với dẫn chức thiết thực , nhà vua đã khẳng định : việc dời đô ko phải là hành động , là ý chí của 1 người . Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử . Lí Công Uẩn tuyệt vời là đã hiểu được khát vọng của nhân dân , khát vọng của lịch sử . Dân tộc Việt ko chỉ là 1 nước độc lập . Muốn bảo vệ được điều ấy thì non sông , nhân tâm con người phải thu về 1 mối . Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh . Muốn vậy , việc đầu tiên là phải tìm 1 nơi “trung tâm của trời đất” , 1 nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi” . Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dực núi” . Nơi đây ko phải là miền Hoa Lư chật hẹp , núi non bao bọc lởm chởm mà là “ địa thế rộng mà bằng , đất đai cao mà thoáng” . Như vậy , đây là mảnh đất lí tưởng “ dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ và ngập lụt , muôn vật rất mực phong phú tốt tươi .”Thật cảm động , vị vua anh minh khai mở 1 triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân . Tìm chốn lập đô cũng vì dân , mong cho dân được hạnh phúc . Trong niềm tin của vua , có 1 kinh đô như vậy , nước Đại Việt sẽ bền vững muôn đời . Dời đô ra Thăng Long là 1 bước ngoặc rất lớn . Nó đánh dấu sự trường thành của dân tộc Đại Việt . Chúng ta ko cần phải sống phòng thủ , phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù . Chúng ta đã đủ lớn mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa nước phát triển đi lên , đưa đất nước trở thành quốc gia độc lập sánh vai với phương Bắc . Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời , là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy ! Có thể nói , với trí tuệt anh minh tuyệt vời , với lòng nhân hậu tuyệt vời , nhà vua Lí Công Uẩn đã bày tỏ ý định với các quan trong triều ý định dời đô giàu sức thuyết phục . Theo em , phần đầu nhà vua đưa ra những lí lẽ thuyết phục là nhờ những bằng chứng sử sách . Nhưng phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô , ko chỉ là cho ta thoả mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm . Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ , tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực . Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó . Trải qua bao thăng trầm , con rồng bay lên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho cả nước bái phục nhân cách , tài năng của Lí Công Uẩn , 1 vị vua anh minh vĩ đại . “Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo , đặc sắc của tổ tiên để lại . Ngôn ngữ trang trọng , đúng là khẩu khí của bậc đế vương . Đó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam . Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ . Tiếp theo triều đại nhà Lí rất vẻ vang với sự khởi thuỷ là vị vua anh minh Lí Thái Tổ , nước Đại Việt viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của mình ở thời đại nhà Trần với đầy những chiến công lấp lánh . Những người lãnh đạo thời kì này đều ghi tên mình vào sử sách . Trần Quốc Tuấn , tác giả “Hịch tướng sĩ” là 1 ví dụ . Ông được nhân dân Việt Nam tôn thờ gọi là Đức Thánh Trần . Người hùng này sở dĩ tên tuổi “muôn đời bất hủ” lưu danh trong sử sách , là nhờ những chiến công giữ nước tuyệt vời . Trần Quốc Tuấn gắn tên mình với Bạch Đằng , Chương Dương , Hàm Tử . Là người đã bẻ gẫy ý đồ xâm lược hung hăng của đế quốc Nguyên – Mông . Nhà quân sự kiệt xuất này có những chiến công hiển hách là nhờ ông quan tâm tới vận mệnh nước nhà bằng trái tim ý chí của một anh hùng dân tộc . Đọc “Hịch Tướng Sĩ” cứ ngỡ như nghe tiếng nói của cha ông , của non nước . Nó nồng nàn 1 tinh thần yêu nước . Nó nồng nàn 1 tinh thần yêu nước , nó biểu hiện 1 lòng câm thù giặc sâu sắc , 1 ý chí quyết chiến quyết thắng quân thù , ko chỉ là của riêng Trần Hưng Đạo mà là kết tụ trong đó những ý nguyện tình cảm của dân tộc . Trrước tai hoạ đang đến gần : quân Mông – Nguyên đang lăm le xâm lược lần thứ 2 với quy mô chưa từng thấy hòng ko cho 1 ngọn cỏ của nước Đại Việt được mọc dưới vó ngựa của 50 vạn quân , Trần Quốc Tuấn đã viết “Hịch” để kêu gọi tướng sĩ 1 lòng , chuẩn bị đương đầu với cuộc chiến sống còn . Những lời lẽ đanh thép mà chan chứa tình cảm , những lí lẽ sắc bén mà đi vào lòng người đã chỉ ra cho tướng sĩ thấy tội ác của bọn sứ giắc và những việc cần làm để chống giặc . Trần Quốc Tuấn đau nỗi đau của dân tộc , nhục cái nhục quốc thể . Viết cho tướng sĩ , nhưng ta thấy ông phơi trải tấm lòng mình . Nổi bật nhất là lòng căm thù giặc . Tác giả thật ngứa mắt khi thấy “sứ giặc đi lại nghênh ngang” , thật ngứa tai khi chúng “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình” . Tác giả rất kinh bỉ , đã “vật hoá” chúng , gọi là “dê chó” , là “hổ đói” .“Ta thường tới bữa quên ăn , nửa đêm quên vỗ gối , ruột Phân tích (tiếp) Nêu gương sáng trong lịch sử. Tội ác của giặc và lòng căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn. Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai. - Mối ân tình giữa chủ và tướng, phê phán những biểu hiện sai trái của các tướng sĩ. - Những hành động đúng nên làm của các tướng sĩ. 3. Phân tích (tiếp). c. Phân tích phải trái làm rõ đúng sai. c1. Mối ân tình giữa chủ và tướng, phê phán những biểu hiện sai trái của các tướng sĩ. * Mối ân tình giữa chủ và tướng. "Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước
ai giúp em làm đề văn nghị luận này với: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thớ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Hãy giải thích nội dung của bài...
(Xem thêm)

hao

đầu tiên ta cần tìm hĩu zìa nóa .... 1/ MB Trong cuốc sống hàng ngày , đôi khi chúng ta vẫn còn gặp những hinệ tượng con cái bất hiếu , vô lễ zới cha mẹ . Những hành vi vô đạo đức đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống đạo đức của dân tộc , xúc pạhm đế tỳh mẫu tữ thiêng liêg. Để khuyên răng , giáo duc họ về đạo làm con , ông cha ta từ xưa đã có 1 bài ca dao rất nỗi tiếng mà ko 1 ng` VN nào mà ko thuộc: (chép lại câu đók) 2/Công cha nghĩa mẹ thật là to lớn và vô tận biết bao ! Sự to lớn của công cha được ca ngợi , được so sánh với hình ãnh cao vời vợi của núi Thái Sơn - một ngọn núi cao nổi tiếng ỡ TQ , mà ngày xưa trong thơ văn , các nhà văn nhà thơ thường mượn hình ảnh này để nói lên các lớn lao của sự vật .Và nước trong nguồn là dòng nước chảy không bao giờ cạn là hình ảnh được dùng để thể hiện sự vô tận , vô cùng bao la của nghĩa mẹ .Ca ngợi công lao vừa to lớn , vừa bất tận của cha mẹ , bài ca dao muốn nhắc nhở mọi người về bổn phận làm con , đạo làm con phãi thờ mẹ kính cha , phải cho tròn chữ hiếu .Đạo là đường lối phải theo cho phù hợp với luân lý xã hội .Hiếu là lòng kính yêu của con cái đối với cha mẹ .Thờ . kính là sự yêu mến , sự tôn trọng và chăm lo một cách tôn kính .Toàn bài ca dao đã phản ánh một vấn đề đạo đức là làm con pgải có hiếu với cha mẹ .Đó là hành vi đạo đức được bao đời ca ngợi . Tại sao con cái phải có hiếu với cha mẹ ?Đó chính là vì cái công lao sinh thành , dưỡng dục của cho mẹ đối với con cái .Không có cây thì không có quả , không có người sinh thành thì không có bản thân mỗi người chúng ta .Công đức sinh thành của cha mẹ ta thật không gì sánh bằng .Biết ơn cha mẹ trước tiên và sâu xa nhất là biết đến công ơn này . Cha mẹ ầ người sinh ra ta , đồng thời cha mẹ cũng là người có công nuôi dạy ta bao năm tháng , từ một đứa trẻ ngây thơ trở thành một trang thiếu niên có hiểu biết . Cơm ăn,áo mặc hằng ngày , thuốc thang chữa trị khi ta đau ốm và biết bao vật dụng cho ta , tất cã đều do công sức lao động gian nan, vất vả và tấm lòng bao la của cha mẹ .Ta hiểu biết điều hay lẽ phải , biết cách cư xử trong gia đình , trong xã hội cũng là nhờ công lao dạy bảo , giáo dục của cha mẹ ,Rồi ta được đi học mở mang kiến thức , cũng là nhờ công lao và tình thương của cha mẹ. Thật đúng là cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể .Để đáp lại sự sinh thành và dưỡng dục ấy , đạo làm con phải giữ tròn chữ hiếu .Đó chính là đền đáp xứng đáng của người con đối với cha mẹ .Và đây cũng là một tiêu chuẩn đạo đức của con người trong xã hội , trong cuộc sống . Ngoài ra , câu ca dao còn rất đúng vì nó là một giá trị đạo đức to lớn , đem lại nhiều lợi ích trong cuộc sống , nhất là nó không bị phai mờ mà còn tồn tại cho đến ngày hôm sau .Trong kho tàng văn học dân gian VN , chúng ta vẫn còn gặp những câu tục ngữ mang ý nghĩa tương tự : Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông Những lí lẽ và dẫn chứng trên đã một lần nữa khẳng định sự đúng đắn của câu ca dao trên , khẳng định đó cũng chính là một chân lí của cuộc sống , một cơ sở đạo đức của xã hội , của con người . Tuy nhiên , hiếu với cha mẹ đồng thời phải hiếu với nhân dân như Bác Hồ đã dạy :Trung với Đảng , hiếu với dân .Một người con có hiếu với cha mẹ còn phải là một người con của nhân dân .Khi Tổ quốc và nhân dân yêu cầu , người con có hiếu đó vẫn có thể tạm gác viễc nuôi dưỡng chăm sóc cha mẹ để lo việc dân việc nước .Trong trường hợp đó , hiếu với dân cũng là hiếu thảo với cha mẹ .Biết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng đã phải gác lại tình cha nghĩa mẹ để dấn thân vào cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mà lòng vẫn canh cánh rằng chữ hiêú vẫn chưa tròn . Họ không phụng dưỡng được cha mẹ lúc tuổi già nhưng vẫn một lòng thờ mẹ kính cha , họ vẫn là người con chí hiếu . Vậy chúng ta phải hiếu với cha mẹ như thế nào ? Người con có hiếu là người yêu thương kính trọng cha mẹ , vâng lời cha mẹ , biết tuân thao những lời chỉ bảo đúng đắn của cha mẹ .Người con có hiếu phải biết làm cho cha mẹ vui lòng bằng cách chăm chỉ học tập , bằng những lời nói và việc làm có đạo đức như đi thưa , về trình và luôn giúp đỡ cha mẹ trong công việc gia đình .Nhất là khi cha mẹ già yếu , ốm đau , người con càng phải hết lòng chăm sóc , phụng dưỡng với tất cả tình cảm quý trọng của mình .Hành động hiếu thảo này chính là lời khuyên mang ý nghĩa sâu sắc của bài ca cao . Với lòng hiếu thẻo đó đã giúp cho gia đình đầm ấm , hạnh phúc .Người con hiếu thảo trong gia đình và đồng thời cũng trở thành trò giỏi trong nhà trường , một công dân tốt , biết làm tròn nghĩa vụ , giúp ích cho nước nhà , tạo cho xã hội ngày càng phát triển .Đó cũng chính là một kết quả . Một tác dụng to lớn mà chúng ta phải thừa kế và càng phát huy lòng hiếu thảo để cho truyền thống tốt đẹp này được tồn tại mãi mãi . 3/KB: Bài ca dao vừa là lời ca ngợi một đạo lí tốt đẹp của dân tộc , vừa là lời khuyên bảo thật cao quý .Giá trị to lớn của bài ca dao là một nghệ thuật độc đáo
giup em de van nghi luan : suy nghi cua em ve viec lua chon nghe nghep trong tuong lai

thành

Hiện nay, vấn đề lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai đối với tất cả chúng ta, đặc biệt là những học sinh cuối cấp như chúng tôi quả thật là rất khó. Tương lai đang mở ra trước mắt, phía trước có biết bao con đường để lựa chọn. Song, để chọn được một con đường thích hợp với khả năng của mỗi người thì đó là cả một vấn đề. Như chúng ta đã biết, nghề nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự ổn định cuộc sống của mỗi con người. Là những Đoàn viên chi đoàn khối 12, đối với chúng tôi, sự lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cho tương lai là hết sức quan trọng. Đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, chúng tôi phải có sự lựa chọn thật đúng đắn nghề nghiệp tương lai sao cho công việc ấy phải phù hợp với năng lực, trình độ của bản thân và phải giúp ích cho đất nước. Khi nhìn vào thực tế, chúng ta đã thấy không ít các bạn trẻ đã có sự lựa chọn rất rõ ràng, đó là: "Sau 12 năm học tập, rèn luyện vất vả trên ghế nhà trường, con đường tiếp theo sẽ là cổng trường Đại học!" . Vâng, "Cổng Trường Đại Học" đó vừa là ước mơ, vừa là cái đích của biết bao học sinh chúng ta. Vào được Đại học nghĩa là 12 năm đèn sách không hề bị uổng phí. Vào được Đại học cũng có nghĩa là bạn đã đền đáp được phần nào công lao vào sự vất vả của cha mẹ, thầy cô.... Vậy thì điều đáng quan tâm ở đây là gì? Vào Đại học là phải thi vào các trường Kinh tế quốc dân, Học viện tài chính, Ngoại thương, Bưu chính viễn thông, Bách khoa... Đó quả thực là những suy nghĩ hết sức tiêu cực và thực dụng. Mặt khác, không phải ai ai trong mỗi chúng ta cũng đều có khả năng bước qua được cánh cổng trường Đại học. Mỗi người đều có những hạn chế riêng của bản thân. Và đâu phải chỉ có mỗi con đường Đại học là duy nhất?! Chúng ta còn có rất nhiều con đường khác để lựa chọn sao cho phù hợp với trình độ và năng lực bản thân như vào các trường Cao đẳng, trung cấp, các trường hướng nghiệp dạy nghề... Vậy, điều quan trọng ở đây là gì? Quan trọng là bạn phải có sự say mê, hứng thú với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn! Có niềm say mê, bạn sẽ làm được những điều mình muốn! Một điều đáng nói nữa ở đây, đó là một số phụ huynh coi việc con cái mình thi đỗ các trường Đại học nổi tiếng là danh dự của cả gia đình. Có trường hợp còn bắt buộc con mình phải thi trường nọ, trường kia mà không hề nhìn vào thực lực học tập của con cái. Đây đúng là một vấn đề mà tất cả chúng ta cần phải nhìn nhận và xem xét lại một cách nghiêm túc và khách quan hơn. Chỉ mới đây vài năm thôi, chúng ta đã thấy tình trạng là rất nhiều bạn trẻ đổ xô vào các trường như: Đại học Luật, Đại học Bách Khoa, Đại học Kinh tế... Họ ngày đêm học tập, dùi mài kinh sử. Kẻ trượt thì không nói làm gì, nhưng những người đỗ thì cũng thật đau xót không kém khi mà suốt bao năm miệt mài đèn sách, để rồi cầm tấm bằng tốt nghiệp loại ưu trong tay, nhưng vẫn thất nghiệp, không xin được việc làm. Kính thưa các vị đại biểu, các thày cô giáo cùng toàn thể các đồng chí! Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ phải có một sự lựa chọn nghề nghiệp cho đúng đắn, cho phù hợp với bản thân. Lựa chọn được một con đường đúng có nghĩa là bạn đã bắt đầu bước vào một cuộc hành trình mới, " một cuộc hành trình không khởi đầu với bước chân đầu tiên mà khởi đầu với lòng khát khao muốn đi tới nơi mà bạn chưa từng đặt chân đến" ... Đất nước ta hiện nay đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rất cần phải có những người có lòng say mê, nhiệt tình với công việc mà mình lựa chọn. Bác Hồ đã từng nói: "Trong xã hội ta, không có nghề nghiệp thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ.... Tất cả những lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang" . Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Thế hệ trẻ chúng ta liệu có nhất thiết cứ phải thi vào các trường Đại học mới là tốt hay không? Hiện nay, tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" đã trở nên khá phổ biến trong xã hội. Tại sao lại như vậy? Bởi vì những học sinh sau khi tốt nghiệp cấp III phần lớn đều lao vào các trường Đại học. Ai cũng muốn thử một lần thi cho biết thế nào là "mùi thi Đại học". Vâng, mới nghe thì các bạn có thể cho là buồn cười, song đó là sự thật! Ước tính cứ khoảng 100 người thì có tới 97 học sinh "lều chõng" đi thi Đại học. Còn lại 3 người thì nộp đơn vào các trường Cao đẳng, trung cấp hay các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề. Nếu như 97 người đó đều đỗ vào Đại học, đều say mê với nghề nghiệp mình lựa chọn thì đó quả thật là điều hết sức đáng mừng cho sự phát triển của đất nước, góp phần đưa nước ta trở thành một cường quốc hùng mạnh. Song, điều đáng nói ở đây là gì? Trên thực tế, trong 97 người đó, thì chỉ có không đầy 12 người thi đỗ đại học. Vâng, một con số hết sức "khiêm tốn"! Và, một vấn đề nữa lại mở ra trước mắt: Những người trượt Đại học, họ sẽ làm gì trong khi cuộc sống vẫn tiếp diễn? Câu trả lời ở đây là "Nộp đại đơn xét tuyển vào một trường nào khác, bất kì, không cần biết mình thích hay không, miễn là ĐỖ !". Một số khác không đủ điểm xét tuyển thì sự lựa chọn duy nhất của họ là: "Ở nhà!". Hoặc họ sẽ lao vào những công việc kiếm tiền như buôn bán, chợ búa; Hoặc họ sẽ lại tiếp tục con đường trau dỗi kiến thức, chuẩn bị cho kì thi năm sau. Vậy thì thử hỏi, chỉ không đầy 3 năm sau thôi, họ sẽ trở thành những con người như thế nào? Trong khi 3% bé nhỏ kia đã trở thành những người công nhân, những người thợ lành nghề, đã và đang đóng góp sức mình để xây dựng đất nước? Các bạn ạ, là một người thợ không có gì phải xấu hổ cả. Đó cũng là một cái nghề đáng kính trọng trong xã hội như bao nghề khác. Nó cũng phục vụ đất nước, góp phần tạo nên nền tảng cho nền kinh tế nước nhà. Có người nói rằng: "Mỗi lần bạn lựa chọn một cách có ý thức là bạn đã học được một bài học tự tin" và "Khi không làm được những điều bạn muốn, hãy làm những điều bạn có thể làm" . Vâng, điều đó có nghĩa là gì ạ? Chúng ta không nhất thiết là cứ phải thi vào các trường Đại học. Càng không nên chạy theo "mốt" thi vào trường nọ trường kia. Hãy tự tin và lựa chọn con đường mà mình cho là phù hợp nhất với bản thân! Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang rất chủ trương đầu tư cho việc dạy nghề, đào tạo những người thợ giỏi, có kĩ năng làm việc và tinh thần trách nhiệm cao, có lòng say mê với công việc của mình. Đó chính là một đường lối mới cần được phát huy hiện nay. Và phải chăng, đó cũng chính là một cánh cửa khác để chúng ta lựa chọn?! Nhưng để đảm bảo cho bản thân có một nghề nghiệp trong tương lai, trước hết, mỗi chúng ta đều phải luôn học hỏi, không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ của chính mình. Không những chúng ta học cho bản thân, cho tương lai của chính mình, mà còn học để góp phần xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn. ..... Các bạn ạ, tương lai đang mở rộng và dang tay chào đón tất cả chúng ta. Các bạn hãy mạnh dạn lựa chọn cho mình một con đường, một nghề nghiệp phù hợp với trình độ và khả năng của bản thân để sau này, khỏi phải hối tiếc khi nghĩ về sự lựa chọn của mình. chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: "Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công" Mỗi Đoàn viên chúng ta hãy ra sức tự rèn luyện bản thân mình để nâng cao phẩm chất và đạo đức của người Đoàn viên thanh niên. Từ đó tạo cho mình một vốn tri thức để vững vàng đi lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta hãy tự tin hơn trong cuộc sống, hãy lựa chọn một nghề nghiệp thích hợp cho tương lai của chính bản thân mình và cũng là cho chính dân tộc mình.
anh chị có suy nghĩ gì về câu nói; tình bạn làm niềm vui nhân đôi và nỗi buồn giảm đi một nửa
Nghị luận xã hội về hiện tượng hiên nay học sinh thương học các môn học tự nhiên mà bỏ bê các môn học xã hội khác...Mọi người giúp giùm e mai nộp bài ùi :((((((((((((((((

thu

Thực hiện chương trình phân ban ở bậc THPT hiện nay, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm vừa rồi, có chưa đầy 2% học sinh chọn ban Khoa học xã hội hoặc ban cơ bản nâng cao chọn ba môn Văn, Sử, Địa. Số lượng thí sinh đăng ký dự thi Đại học vào khối C năm nay cũng thấp kỷ lục, nhiều ngành lèo tèo chỉ có vài chục cái hồ sơ, tính trung bình chưa tới 5% tổng số hồ sơ đăng kí. Thật tội nghiệp và đáng thương cho ngành học khối C! Kết quả điểm thi môn lịch sử, địa lý và văn học ở khối C, D trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học và cao đẳng những năm qua đạt thấp đến mức chưa từng có, hàng ngàn bài bị điểm không. Con số biết nói đó, khiến những ai quan tâm đến sự phát triển của nền giáo dục nuớc nhà không khỏi bàng hoàng, lo lắng về chất lượng dạy- học các môn xã hội ở nhà trường phổ thông trong nhiều năm qua cũng như hiện tại và tương lai. Xung quanh việc dạy và học các môn khoa học xã hội còn nảy sinh biết bao nhiêu câu chuyện bi hài, làm thầy cô giáo chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc. Sự yếu kém, thờ ơ, lạnh nhạt của học sinh đối với các bộ môn xã hội ngày càng gia tăng, ít nhiều đã và đang bào mòn, suy giảm lòng đam mê, tâm huyết của đội ngũ giáo viên dạy các môn xã hội. Trong khi đó, các môn khoa học tự nhiên, như Toán, Lý, Hóa ngày càng có nhiều ưu thế hơn, được hầu hết học sinh cấp ba coi trọng hơn, dồn gần hết thời gian và công sức để học tập các môn đó. Phải chăng là kiến thức chuyên môn cũng như cách dạy của thầy cô giáo dạy môn xã hội không bằng thầy cô giáo dạy các môn tự nhiên? Thực tế, nguyên nhân này xem ra không mấy thuyết phục, vì chưa chắc các môn tự nhiên học sinh coi trọng, học nhiều là có đội ngũ giáo viên tốt hơn, giỏi hơn. Căn nguyên sâu xa của nó, theo chúng tôi suy nghĩ, chủ yéu do những nguyên nhân sau đây: - Nhiều học sinh (kể cả phụ huynh) còn xem thường các môn khoa học xã hội, luôn cho nó là môn phụ, môn học chỉ cần thuộc bài, môn chẳng mấy quan trọng, nên không cần phải tư duy, suy nghĩ gì, học hành sơ sơ hoặc qua loa cũng chả sao. Còn điểm ư? Khỏi phải lo, thầy cô, nhà trường sẽ châm chước cho, thậm chí muốn bao nhiêu cũng được. Thời buổi của thành tích mà. Hậu quả là, nhiều em bây giờ rất yếu kém về kiến thức xã hội, nói không ra lời, viết chẳng ra câu... Nội chuyện viết chính tả của học sinh, sinh viên, cán bộ công chức trẻ… thời nay cũng thật đáng buồn, sai kinh khủng. - Số đông học sinh khi lên cấp 3 có xu hướng học lệch, học một cách thực dụng, thi gì học nấy. Vì coi trọng việc học và thi các môn khoa học tự nhiên thì cơ hội vào ngành, nghề sẽ hết sức rộng rãi và hấp dẫn. Còn coi trọng việc học các môn khoa học xã hội thì cánh cửa vào ngành, nghề rất hẹp, không sư phạm thì tổng hợp, báo chí chứ biết chạy đâu, vả lại khi ra trường, làm việc thuộc các ngành khoa học xã hội, cuộc sống vật chất không dễ dàng gì, nhiều khi rất lao đao, vất vả. Trước sức cuốn hút mạnh mẽ của cơ chế thị trường, mọi người đua nhau làm giàu, đâu phải lúc để cho những cảm xúc lãng mạn bay bổng, hay sự đào sâu suy nghĩ về các kiến thức xã hội của học sinh, sinh viên. - Mặt khác, các em còn tỏ ra ngờ ngợ, chưa thật tin vào nội dung sách giáo khoa, vào những điều mà thầy cô đã nói, do sách giáo khoa, thầy cô giáo nói toàn những điều tốt đẹp, đạo lí cao cả, tính nhân văn sâu sắc... trong khi đó thì thực tế cuộc sống lại hết sức phức tạp, biết bao chuyện xấu xa, mất công bằng, ngang trái... cứ phơi bày ra đấy. - Kiến thức của sách giáo khoa vẫn còn nặng nề và dàn trải, nhiều chỗ không phải là học nữa mà là "hành" xác học sinh, các loại sách tham khảo bổ trợ sách giáo khoa loạn xạ trên thị trường góp phần làm... dốt thêm học sinh. Nhiều câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa, đề thi, trong các cuộc thi lâu nay đều xơ cứng, xa lạ, đều đánh đố bằng trí nhớ trong một thời đại bội thực thông tin. Bao giờ đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng của ta sánh kịp với nhiều nước trên thế giới? Lúc nào cũng có tâm lý: ra đề mở, sáng tạo, "sợ" các em không làm được, "sợ" dư luận, "sợ" phật lòng cấp trên... Thì muôn đời vẫn vậy! Cái cốt lõi ở đây là thuộc về cách biên soạn sách giáo khoa. Dẫu biết rằng đây là công việc nhọc nhằn muôn nỗi đối với nhà viết sách. Đương nhiên, chương trình, sách giáo khoa cần phải đảm bảo nhiều tiêu chí, mục đích. Nhưng nó rất cần đến sự chân thực, gần gũi với cuộc sống, có sức hấp dẫn cuốn hút, kích thích sự đam mê tìm tòi, khám phá của đối tượng học sinh. Giả dụ, môn lịch sử, sách giáo khoa của ta thường nặng nề, dày đặc những sự kiện, ngày, tháng năm, ta thắng, địch thua... là chấm hết, mà ít có những câu chuyện lịch sử hấp dẫn đề cập đến con người và số phận của con người. Hay môn văn học, còn quá nhiều tác phẩm mang tính hàn lâm cao, ngay cả người lớn, người từng trải chưa hiểu thấu đáo ý nghĩa, tư tưởng của nhà văn thì sao lại bắt con trẻ phải hiểu, phải làm bài cho được... Đồng thời nên cắt bỏ những chỗ, những bài khó, không cần thiết, gây quá tải, hành xác học sinh. Các nhà soạn sách đừng nghĩ rằng, học sinh phổ thông phải học và biết tất cả tri thức của dân tộc, nhân loại. - Năng lực, bản lĩnh, tâm huyết người thầy cô giáo đứng lớp cũng có tính quyết định đến hiệu quả, tác động của môn học đến đông đảo học sinh. Sách giáo khoa, sách giáo viên chỉ là phần cứng, phần định hướng, gợi ý, vấn đề quan trọng ở người thầy là phải biết chế biến, chọn lọc, thêm bớt để từng vấn đề nói ra sáng tỏ, vừa hàm súc vừa bóng bẩy, thực sự gây hứng thú trong học sinh. Học sinh đã tin, đã hứng thú với bài giảng, với thầy giáo thì nhất định sẽ hiểu, sẽ không thờ ơ, nguội lạnh với môn học đó . - Nạn loạn sách tham khảo, văn mẫu, học tốt bổ trợ cho sách giáo khoa lâu nay chỉ lợi bất cập hại, làm triệt tiêu tư duy, suy nghĩ, sáng tạo của học sinh, cần sớm hạn chế và loại bỏ hẳn. -Ngoài ra, cách ra đề kiểm tra, đề thi cần tránh lối tầm chương trích cú, rập khuôn, máy móc, khuyến khích việc học vẹt, sao chép mà học sinh không hiểu, nắm bắt được gì . - Căn bệnh thành tích, vì chỉ tiêu thi đua... trong nhà trường phổ thông tồn tại lâu nay như cái ung nhọt nhức nhối cần cương quyết trừ bỏ, để việc đánh giá của giáo viên, nhà trường được thực chất, không mắc những ràng buộc hữu hình và vô hình nào, sẵn sàng nghiêm khắc với những học sinh coi thường, ý thức học tập các môn khoa học xã hội yếu kém .
Đề 1:" Trình bày và nêu suy nghĩ của mình về 1 tấm gương học sinh nghèo vượt khó,học giỏi" Đề 3 :"Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn.Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác.Hãy nêu ý kiến của em về...
(Xem thêm)

lala

zo violet ma xem trong do co nhieu bai hay lam
Mọi người có thể gợi ý cho em về các ý cần có, bố cục, tư liệu, cách xắp xếp được ko ạ, làm sao đó chỉ viết khoảng 1 mặt giấy là đủ. Em xin cảm ơn !

ngo quoc tien

lai chemmmmmmmmmmmmmmmmm
Mình đang làm một bài văn nghị luận xã hội về vấn đề trên thắc mắc vs mọi người ai bit đánh giúp vào dòng để mình làm văn nghen:D

Nguyễn Thị Ngọc

Là học sinh, chúng ta vẫn thường được nghe câu tục ngữ:"Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" đã được phân tích bình luận nhiều ý kiến về vấn đề này.Rồi học trò chúng ta lại truyền miệng nhau câu tục ngữ:"Gần mực chưa chắc đã đen gần đèn chưa chắc đã rạng".Đèn, mực, gần, xa vậy thực ra nó là quan điểm về điều gì?Là về môi trường sống quanh ta và sự tác động lẫn nhau của nó, một thứ rộng lớn hữu hình với một thứ là vô hình ẩn trong một vật thể bé nhỏ, đó là nhân cách. Tôi đã rất tâm đắc câu nói:"Gieo suy nghĩ gặt hành động, gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận" các bạn nghĩ sao về câu nói trên?Tôi thì tin vào điều đó lắm, tính cách là yếu tố quan trọng để cho ta một số phận, một tương lai, nằm trong bàn tay ta ta làm chủ và chính ta quyết định.Tính cách và nhân cách, nó riêng biệt hay đồng nhất?Một người có lòng vị tha, sự bao dung, nhường nhịn với sự hòa đồng, thân thiện sẽ chẳng ai lại nhận xét rằng đó là người xấu tính, độc ác được, hay ngược lại cũng chính là như vậy.Nhân cách thực ra cũng chính là tính cách của chúng ta đấy.Khi ta bóc tách hai từ "nhân" và "cách" thì chỉ là tính cách của con người thôi.Nó nằm trong suy nghĩ, trong hành động, là bộ máy giúp ta phân tích mỗi hành động, mỗi lời nói của chúng ta.Có những điều mới chỉ hình thành trong ý nghĩ, rồi ta tự hỏi mình rằng có nên làm như vậy không, đó là khi bộ máy đó hoạt động, có thể nó sẽ hướng ta đến một đường đi đúng đắn nhưng cũng có thể làm ta bước vào bụi rậm.Đã bao giờ bạn tự hỏi vậy nhân cách của bạn hình thành do đâu chưa, liệu có phải "cha mẹ sinh con, trời sinh tính" hay là do các yếu tố, điều kiện khác hình thành nên.Xã hội ta vẫn tồn tại hai quan điểm hay rộng ra đó chính là quan điểm về những điều mà tất cả tin rằng đều có những vị thần, những con người, số phận là do một thế lực siêu nhiên định đoạt và bất biến đổi.Số còn lại là nhìn thẳng vào thực tế, vào hoàn cảnh, vào môi trường xung quanh con người đó, đó mới là cốt lõi hình thành nên nhân cách của con người.Phần lớn ý kiến là điều thứ hai, khoa học và sự giải thích dần về mọi thứ đã giúp họ nhận ra có nhiều thứ không phải tự nhiên bởi một thế lực vô hình đâu.Tất nhiên ta cũng hiểu rằng có những điều ta vẫn chưa tìm ra lời giải nên hai trường phái này vẫn tồn tại song song, câu trả lời ta đợi tương lai vậy nhé. Đi tìm lời giải cho bài toán khó là điều mà ta trăn trở.Vậy ta hãy cứ viết, viết ra hết vướng mắc, những suy nghĩ để mở khóa cho từng lối nhỏ.Môi trường sống là một phạm trù bao la, nghe thôi đã thật to lớn, là thế giới, là trái đất, là đất nước, thành phố, làng xã ta sinh sống.Là biển, núi ,sông, là cây cối, nhà ở và xe cộ..tất cả mọi thứ đang bao quanh ta.Giới hạn nó thật nhỏ lại, là những gì đang diễn ra

Thành viên tích cực

1

Pham Thi Hai Trang

4 lượt cảm ơn
2

Vũ Thị Lương

3 lượt cảm ơn
3

Dang Anhs

2 lượt cảm ơn
4

Nguyen Van Cuong

1 lượt cảm ơn
5

Nguyê n Thi Nga

1 lượt cảm ơn