cac ban co the lam giup minh mot bai van thuyet mnh ve rung Uminh dc ko a?minh cam on cac ban rat nhieu .[:-/]

ke phieu bac

Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn đăng trên tuần báo Nhân loại (1957), sau in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo,v.v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc. Những nhân vật của Hương rừng cà mau cũng có những nét khác thường độc đáo. Họ là những dị nhân sống trong một thời buổi giao thời, đơn giản bình dị nhưng nhiều khi cũng có trí phán đoán sâu sắc. Nghe ông già nam xay lúa bàn chuyện thời tiết đất trờitrong chuyện “ông già xay lúa” hay nghe ông mù Vân Tiên bàn về chuyện cá ăn câu trong”người mù giăng câu”, chúng ta mới thấy được cái học trong đời sống không phải chỉ ở học đườngmà còn là kinh nghiệm từ hàng ngàythu lượm được. Và , trong từng ngôn ngữ, từng cử chỉ, vẫn bàng bạc một lòng yêu nước, yêu tự nhiên. Về tác phẩm “bắt sấu rừng U Minh hạ” - Những nét đặc sắc về nội dung: Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở với bao nhiêu mối đe dọa tới cuộc sống của con người. “…nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? ” Hơn thế nữa, rừng rậm U Minh không chỉ nổi tiếng với vẻ hoang xơ của mình, mà còn được biết đến với nguồn động vật phong phú. Trong đó phải kể đến là loài cá sấu. “ nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhất. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm…” Nói đến đàn sấu ở rừng U Minh, trước hết ta phải nói đến số lượng. “ – Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng ! So sánh như vậy, không phải quá đáng ! Dân làng xúm nhau lên rừng để nhìn tận nơi. Cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn. Sấu nổi lên, chen vào bức tranh màu xanh ấy những vệt đen chi chít …” Không chỉ nhiều mà đàn sấu nơi đây còn to lớn , khôn lanh. “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá.Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu.” Tuy vậy, thiên nhiên nơi đây vẫn là chỗ ở, là nơi để người dân kiếm kế sinh nhai. Cho nên, họ vẫn tiếp tục ở lại , bám giữ mảnh đất của tổ tiên và ra sức cải tạo nơi đây ngày một tốt đẹp hơn . “… , cứ như vậy cho đến khi người Việt Nam ta đổ tràn xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp. Ban đầu, họ ngỡ rằng sấu chỉ ở dưới sông, sau khi câu được chừng năm mươi con sấu ở ngọn rạch, họ dinh ninh cho là sấu đã giảm bớt…mười phần chết bảy còn ba…” Bằng chính nghị lực của bản thân, họ đang cố tìm cách chiến đấu lại với thiên nhiên, chiến đấu với những thế lực đàn áp mình. “Trong số những người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông, lao , ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng, đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì quá cạn còn đi bộ xuống thì lún ngập gối.” Cuối cùng, nhờ sự kiên trì, lòng quyết tâm, dũng cảm và tài trí của mình, con người đã tháng được thiên nhiên và hơn thế nữa, họ đã thắng được chính mình. “ Dưới sông, Tư Hoạch ngối trên xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát. Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng…” + Nhân vật ông Năm Hên: Ông Năm Hên là nhân vật được tác gia xây dựng nhằm nói lên sự dũng cảm và tài trí của con người Nam Bộ. Hoàn cảnh của ông thật éo le. “… Nói thiệt với bà con : cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh em tụi tôi. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười hai n8m về trước. Sau được tin cho hay : ảnh bị sấu ở ngã ba Ðình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh…” Với chút mưu mẹo của mình, ông Năm đã giúp bà con bắt được lũ sấu và được bà con quý trọng như “một bậc thánh nhân” “-thực là bậc thánh của xứ này rồi! Mưu kế như vậy thật quá cao cường. Oång đâu rồi ? sao không thấy ổng về? Xóm mình nhất định đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già, ở xóm này, bà con tính sao? “ Và khi công việc đã hoàn thành, ông vẫn không quên những người đã khuất và thắp cho họ một nén nhang. Ðiều đó cho thấy ông Năm là một người rất trọng tình nghĩa, sống với nộ tâm “Chưa dứt lời, bên sông nghe tiếng hát của ông Năm Hên, ngày một rõ: Hồn ở đâu đây? Hồn hỡi ! Hồn hỡi ! Xa cây xa cối, Xa cội xa nhành, Ðầu bãi cuối gành, Hùm tha, sấu bắt, Bởi vì thắt ngặt, Manh áo chén cơm, U Minh đỏ ngòm, Rừng tràm xanh biếc ! Ta thương ta tiếc Lập đàn giải oan… Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhứt là khi thấy ông đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay.” + Cảnh bắt sấu : Ðây là một trong những cao trào của câu truyện mà chúng ta không thể bỏ qua. Nó thể hiện đầy đủ những kinh nghiệm, vốn sống, tài trí cũng như lòng dũng cảm của ông Năm Hên. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòn địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn h1 miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ôâng Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” - Những nét đặc sắc về nghệ thuật: + những phương ngữ được dùng vừa phải, thích hợp : táp, xuổng, ăn ong… + cách kể chuyện gọn và sáng. + tính cách nhân vật được thể hiện sinh động mà chỉ bằng vài chi tiết đơn sơ III. KẾT LUẬN : Mỗi vùng đất của Tổ Quốc ta có những nét đặc sắc, kì thú riêng. Vốn gắn bó quen thuộc với đất rừng phương nam, qua truyện ngắn này, nhà văn Sơn Nam đã đem đến cho người đọc một bức tranh độc đáo : vùng rừng tràm xanh ngắt lau sậy, mốp, cóc kèn…Và thật lạ lùng “ sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. Người nông dân rạch Cái Tàu đã phải tạo dựng cơ đồ trên vùng đất hoang vu, dữ dội đó. Chính vì thế, người đọc như được thám hiểm những vùng đất mới với biết bao điều bí ẩn của thiên nhiên và con người. Truyện mang phong vị Nam Bộ rất đậm đà. Sắc thái độc đáo này được tạo nên bởi những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Chính vì thế truyện này cũng như tập Hương rừng Cà Mau nói chung có dáng dấp riêng, khó lẫn
cac ban co the giup minh lam mot bai van thuyet minh ve rung Uminh duoc ko a ? minh cam on rat nhieu !
cac ban hay giup minh lam 1 bai van thuyet minh ve phuong phap hoc bo mon ngu van? minh sap nap bai rui` hay giup minh voi minh xin cam on nhiu

styles

Tham khảo thử tài liệu này em nhé! - Văn thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên xã hội bằng phương thức trình bày, giối thiệu, giải thích. Văn thuyết minh có tính chất khách quan, thực dụng là loại văn bản có khảt năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích cho con người. Ngôn ngữ xử dụng trong văn bản thuyết minh: Chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động. * Ví dụ: đọc văn bản a (BT 1): + Văn bản cung cấp tri thức về vấn đề tiền giấy Việt Nam. + Văn bản có tính chất khách quan thực dụng, cung cấp tri thức xác thực hữu ích cho con người về vấn đề tiền giấy Việt Nam. + Văn bản trình bày rõ ràng, chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động. II. Một số lưu ý khi viết văn thuyết minh: 1. Yêu cầu: Người viết phải nghiên cứu, tìm hiểu sự vật hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm được bản chất đặc trưng của chúng để tránh sa vào trình bày những biểu hiện không phải tiêu biểu, không quan trọng. - Người viết có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích, phân loại... 2. Phương pháp: a. Phương pháp thuyết minh là vấn đề then chốt của bài văn thuyết minh. Nắm được phương pháp chúng ta sẽ biết ghi nhận thông tin, lựa chọn số liệu nào để thuyết minh một sự vật hiện tượng. Nếu hiểu cấu tạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo quá trình hình thành của nó từ trước đến sau. Nếu sự vật có nhiều phương diện thì trình bày từng phương diện 1 cho đến hết. Như thế là trình bày sự việc theo đặc trưng của sự việc. b. Có 6 phương pháp hay dùng trong văn bản thuyết minh: Nêu định nghĩa, l;iệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích phân loại. * Ví dụ: HS xem bài tập 4 (Ở bước 2). Người viết phải huy động kiến thức: a. Kiến thức sinh học và sử dụng phương pháp nêu định nghĩa. b. Kiến thức về sức khoẻ đời sống và sử dụng phương pháp nêu số liệu. c. Kiến thức về sức khoẻ người cao tuổi, sử dụng phương pháp liệt kê . d. Kiến thức về môi trường. Phương pháp phân tích phân loại. đ. Kiến thức về bảo vệ sức khoẻ, phương pháp so sánh. e. Kiến thức về danh lam thắng cảnh, phương pháp nêu định nghĩa. g. Kiến thức về cờ vua cờ tương, phương pháp phân tích phân loại. c. Cách làm văn thuyết minh: - Để làm văn thuyết minh trước hết phải tìm hiểu đề bài nhằm xác định đối tượng thuyết minh. - Tìm các tri thức khách quan khoa học về đối tượng thuyết minh.( có thể đến tận nơi quan sát, tìm hiểu, ghi chép hoặc tìm đọc ở sách báo...). - Sau khi có kiến thức rồi cần tìm một phương pháp trình bày theo trình tự thích hợp với đối tượng cần thuyết minh. - Khi làm bài văn thuyết minh chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác, diễn đạt rõ ràng mạch lạc. Chú ý chất văn phù hợp với văn thuyết minh. * Ví dụ: - Nếu thuyết minh một chiếc xe đạp có thể đi từ bộ phận quan trọng đến không quan trọng đến tác dụng của xe đạp đối với người sử dụng. - Nếu thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam cần đi theo trình tự từ nguồn gốc cách làm nón, cái kiểu dáng nón, tác dụng của nón đối với người sử dụng. d. Phương pháp thuyết minh đặc điểm một thể thơ, một thể loại văn học, hay một văn bản cụ thể: - Trước hết phải quan sát, nhận xét sau đó khái quát thành những đặc điểm . - Khi nêu các đặc điểm cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏc các đặc điểm ấy. * Ví dụ: Bài tập 8 (Ở bước 2). đ. Phương pháp thuyết minh đặc điểm đồ dùng trong cuộc sống: - Quan sát tìm hiểu kĩ cấu tạo, tính năng, tác dụng, cơ chế hoạt động của đồ dùng đó. - Khi trình bày cần tiến hành giới thiệu lần lượt những bộ phận tạo thành, nói rõ tác dụng và cách sử dụng, bảo quản của nó sao cho người đọc hiểu ( Bố cục: 3 phần) * Ví dụ: Bài tập 5 (Ở bước 2). e. Phương pháp thuyết minhgiới thiệu một phương pháp cách làm: - Người viết phải tìm hiểu nắm chắc ( phương pháp )cách làm đó. - Khi thuyết minh cần trình bày rõ điều kiện, cách thức, trình tự để thực hiện và yêu cầu chất lượng đối với sản phẩm. (Trả lời câu hỏi: Phải làm thế nào? Cái nào làm trước? cái nào làm sau?) - Lời văn ngắn gọn rõ ràng. * Ví dụ: Bài tập 6 (Ở bước 2). g. Phương pháp thuyết minh giới thiệu một danh lam thắng cảnh: - Người viết bài giới thiệu một danh lam thắng cảnh thì phải đến nơi thăm, quan sát, tra cứu sách vở, hỏi han, để có những kiến thức đáng tin cậy. - Bài giới thiệu nên có đủ bố cục 3 phần, lời giới thiệu ít nhiều có kèm theo miêu tả bình luận thì sẽ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên bài viết phải dựa trên cơ sở đáng tin cậy về nơi được giới thiệu. - Lời văn chính xác, biểu cảm.
mình chỉ cần các bạn làm giúp mình phần mở bài thôi. Nhưng phải thật hay và súc tích. Yêu mọi người nhiều . Thank you very much !

chikita

Trong văn hoá tâm linh, văn hoá ẩm thực của người Việt Nam có nhiều loại nghi lễ, sản vật, đồ cúng tế cho đến nay chỉ còn lại trong truyền thuyết, trong ca dao tục ngữ … Cùng với thời gian và những đổi thay của thời thế chỉ còn sót lại trong tiềm thức, trong nỗi hoài niệm của dân tộc. Thế cũng là điều may mắn cho hậu thế bởi nó đã được lưu giữ và chuyển hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ văn hoá vật thể sang văn hoá phi vật thể . Bánh chưng . May thay không rơi vào những trường hợp nói trên. Bánh chưng là một sản vật xuất hiện từ trước thời văn minh lúa nước của người Việt ( Bởi lúa nương là loại cây lương thực đã được người Việt cổ gieo trồng trước khi tìm ra và phát triển kỹ nghệ canh tác lúa nước. Dĩ nhiên khi con người đạt đến trình độ tìm cho mình một loại cây trong nhóm các cây ngũ cốc thì việc chế biến các sản phẩm cũng đồng thời xuất hiện ), và cho đến nay cũng như mãi mãi về sau, bánh chưng luôn có sự hiện diện trong đời sống văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh của người Việt Nam. Có thể nói bánh chưng là một sản vật vừa có sức trường tồn mà lại rất gần gũi với đời sống thường nhật của người Việt Nam trong cả hai lĩnh vực: Văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh. Phong bánh chưng ngày Tết được bày trên mâm cúng ông bà, ông vải là một mỹ tục, được truyền lại từ thời các Vua Hùng trong truyền thuyết Lang Liêu, một trong những người con của Vua Hùng đã dùng lúa nếp làm nên những chiếc bánh chưng, bánh dầy thay cho các thứ sơn hào, hải vị dâng tiến vua cha. Có lẽ cũng từ đó mới xuất hiện hai từ “ngọc thực”. Nó là biểu trưng cho lòng thành kính đến mộc mạc của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên mà không có thứ ngọc nào sánh nổi. Nó là thứ “ngọc” ( Được hiểu rộng cho các loại ngũ cốc trong đó có lúa gạo ) đã nuôi sống con người, nuôi sống dân tộc từ thuở hồng hoang của lịch sử cho tới muôn sau. Trong những ngày tết Nguyên Đán, không có gia đình Việt Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn thờ, trên mâm cúng ông bà, ông vải. Bánh chưng có thể được tự làm ra từ khi gieo hạt, trồng cấy, thu hái, xay giã, gói luộc đối với người nông dân ở miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền Nam. Và, bánh chưng cũng có thể được mua như mua các loại hàng hoá khác đối với những người dân các vùng đô thị trong nước và ở nước ngoài. Chiếc bánh chưng ngày tết dù tự túc, tự sản hay được mua bán như những thứ hàng hoá khác nhưng đều có chung một điểm: Đó là sản vật không thể thiếu để dâng cúng lên cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong ngày Tết. Một nét đẹp lâu đời nhất, truyền thống nhất trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam. Ngày nay, trong sản xuất nông nghiệp với xu thế chuyển đổi nông sản thành hàng hoá, việc trồng cấy đại trà và tạo ra những vùng nguyên liệu chuyên canh là một xu thế tất yếu. Tuy vậy, vẫn còn không ít những gia đình nông dân vẫn còn lưu giữ một tập quán lâu đời: Đó là việc dành riêng một một khoảnh, một thửa đất ( Kể cả thời HTX, ruộng đất tập trung thì đã có đất 5% ) để trồng cấy các giống nếp quý, chỉ dùng cho việc cúng lễ hay những ngày trọng trong năm. Từ việc chọn giống như giống nếp cái hoa vàng, giống nếp hương …, lúa gặt về được nhặt từng bông, lựa những bông có hạt chắc, mẩy đều rồi buộc thành từng túm nhỏ treo trên sào cốt tránh lẫn các loại lúa khác. Đến mùa gieo mạ mới đem xuống dùng đĩa xứ, hoặc vỏ con trai cạo từng túm chứ không đập. Quá trình chăm sóc luôn giữ đủ nước, vừa phân và xa các khu ruộng trồng các loại lúa tẻ để tránh lai tạp. Khi gặt về cũng lựa từng bông và bảo quản bằng các túm nhỏ trên sào tre. Giáp tết hay những ngày trọng mới đem suột và xay giã làm gạo để gói bánh chưng hoặc đồ xôi. Những việc làm cẩn thận, cầu kỳ đến tỉ mẩn này không chỉ thể hiện sự “sành ăn” vì giống nếp quý lại không lẫn tẻ, không bị lai tạp nên khi gói luộc, bánh chưng sẽ dẻo, rền và thơm hương nếp cùng lá dong xanh mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các thế hệ tiền nhân. Nhớ lại cái tết Mậu Thân, trước tổng tiến công các má, các chị đã ngày đêm gói rất nhiều đòn bánh tét cho bộ đội ăn tết trước và đem theo làm lương ăn trong những ngày Tết đánh giặc. Hình ảnh anh bộ đội giải phóng với vành mũ tai bèo, bên hông cột gọn gàng gói bộc phá với một đòn bánh tét mãi mãi là bức phù điêu của những mùa xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam. Trước đó hơn hai trăm năm ( Bính Ngọ – 1786 ), bánh chưng ( bánh tét ) cũng theo bước chân thần tốc của đoàn quân của người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ phò Lê diệt Trịnh. Bánh chưng theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bánh chưng có mặt trong mọi hoạt động xã hội, tín ngưỡng. Bánh chưng làm dẻo mềm hơn câu ca dao, gắn kết quá khứ với hiện tại và trong xu thế hội nhập, bánh chưng Việt Nam trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc lại có mặt trên khắp năm châu. Bánh chưng Việt Nam trong vai trò sứ giả, mang thông điệp của một Việt Nam đổi mới, mong muốn hoà bình, hợp tác, hữu nghị với thế giới, cùng hướng tới tương lai … Tìm hiểu về bánh chưng và những quan niệm triết học xung quanh những truyền thuyết về bánh chưng Việt Nam trong ngày Tết chính là để hiểu sâu sắc thêm những giá trị văn hoá, giá trị nhân văn của tổ tiên qua bao đời truyền lại . Lâu nay trong các văn bản, các sách ( đặc biệt là các sách phục vụ việc giảng dạy trong các nhà trường ) khi nói về sự tích bánh chưng ( Hình vuông ) và bánh dầy ( Hình tròn ) của Lang Liêu là tượng trưng cho trời tròn, đất vuông. Truyền thuyết này cho thấy: Từ thời các Vua Hùng, người Việt cổ đã biết trồng lúa ( Lúa nương rồi sau này là lúa nước ) và người Việt cổ đã biết chế biến các nông phẩm trong sinh hoạt hàng ngày và trong việc tế lễ . Để gắn kết sự phát triển kỹ nghệ trồng lúa và chế biến nông sản ( Phát triển sản xuất ) với phát triển văn hoá tâm linh chúng ta ( Tôi xin nhấn mạnh hai chữ chúng ta ) đã đưa ra một quan niệm triết học về thế giới tâm linh của người Việt cổ rằng : Bánh dầy ( Hình tròn ) là tượng trưng cho trời tròn và bánh chưng ( Hình vuông ) là tượng trưng cho đất vuông . Điều này có vẻ lô gíc về quan niệm của con người thời tiền sử trước sức mạnh siêu nhiên, huyền bí của thiên nhiên như sấm chớp, nắng mưa, bão lũ cùng trời, đất, giăng, sao … Nhưng ngược lại, cũng dễ nhận thấy ở cái thời Lang Liêu, người Việt cổ chưa đủ phát triển tư duy về toán học để có thể định dạng hay nhận diện các khối hình học có góc cạnh, ví như khối hình hộp chữ nhật 6 mặt và 8 góc như chiếc bánh chưng vuông bây giờ, mà họ chỉ biết vò, nặn, túm một chiếc bánh chưng không hẳn là một hình vuông hay hình trụ tròn, nó có thể ô van, có thể một đầu to đầu nhỏ, chiếc ngắn, chiếc dài thì gỉa thuyết về quan niệm bánh chưng vuông tượng trưng cho đất vuông sẽ thiếu cơ sở khoa học. Nó là cách suy diễn, giả thuyết của những con người sau hàng nghìn năm tiến hoá, với đầy đủ chỉ số thông minh và sự khéo léo – Những người đó là chúng ta. ( và trong chúng ta bây giờ, với chỉ số thông minh và sự khéo léo hiện có hẳn nhiều người nếu cho tự mình gói một chiếc bánh chưng vuông thì cái sản phẩm ấy cũng chưa chắc hơn gì người tiền sử thời Lang Liêu ). Mặt khác, trong cách gói bánh chưng ngày Tết hiện nay vẫn tồn tại một kiểu bánh tày ở miến Bắc và bánh tét ở miền Nam ( Hình trụ tròn ) . Vậy thì bánh chưng vuông hay bánh “tày” có trước (?) . Được biết ở nhiều vùng nông thôn, kể cả miền xuôi và miền núi bánh chưng gói kiểu “tày” hiện nay vần được duy trì và chiếm số lượng nhiều hơn . Ai cũng biết ở những nơi chậm phát triển, ít chịu ảnh hưởng của sự giao thoa văn hoá là những nơi còn giữ được nhiều nhất những phong tục, tạp quán cổ. Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu hình thức, thẩm mỹ trong việc chế biến, bài trí đồ lễ, đồ ăn cùng dần được hoàn mỹ hơn. Tôi cho rằng bánh chưng vuông là sản phẩm của văn hoá đô hội, đô thị. Nó là hậu duệ của chiếc bánh chưng tày ở miền Bắc và bánh tét ở miền Nam. Từ cách nhìn này, chúng ta dễ nghiêng hơn về cách xắp xếp thời gian ra đời của hai loại bánh chưng vuông và bánh chưng tày. Nếu đúng như vậy thì quan niệm về bánh dầy, bánh chưng vuông tượng trưng cho trời tròn, đất vuông của chúng ta sẽ là một giả thuyết chưa đủ cơ sở, khó thuyết phục. Mặt khác, có một thời mà chúng ta “nệ” đủ thứ, không giám nhìn thẳng và sự thật lịch sử, luôn né tránh những gì chúng ta cho rằng dung tục mà quên mất rằng: Lịch sử phát triển con người không chỉ dân tộc Việt Nam mà toàn nhân loại đều đã đi qua giai đoạn quần hôn – Mẫu hệ (Tục thờ Mẫu là một minh chứng cụ thể) . Bởi thế nên chúng ta mới đưa ra quan niệm “Trời tròn, đất vuông” để dung hoà và cũng để cho phù hợp với quan điểm thẩm mỹ thời bấy giờ. Theo ý kiến của cố giáo sư Trần Quốc Vượng thì trong truyền thuyết Lang Liêu, những sản vật dâng tiến phải là bánh dầy (âm) và bánh chưng tày (dương) . Hai loại sản vật này không theo quan niệm tượng trưng cho trời tròn đất vuông mà theo một quan niệm phồn thực . Quan niệm này có luận cứ khoa học hơn bởi con người tiền sử thật quá bé nhỏ trước thiên nhiên huyền bí . Việc sinh mười chết chín, chỉ còn một lại phải chống trọi với thiên nhiên nghiệt ngã thì sự phồn thực chính là cứu tinh cho con người thời bấy giờ khỏi hoạ diệt vong . Tuy nhiên, ý kiến của cố giáo sư Trần Quốc Vượng không phải đã được nhiều học giả, nhiều người ủng hộ. Có vẻ như chúng ta khi nói về sự phồn thực trong cái nhìn về truyền thuyết lịch sử dân tộc lại sợ làm méo mó lịch sử, sợ sẽ bị xa vào dung tục hay bị quy chụp theo trường phái hiện sinh chủ nghĩa. Ngày nay chúng ta coi sinh đẻ có kế hoạch, sức khoẻ sinh sản là chiến lược để cải thiện nòi giống thì tại sao tổ tiên chúng ta lại không coi sự phồn thực như một sự cứu rỗi cho con Lạc cháu Hồng? Ngày tết, ăn một đồng bánh chưng sau khi cúng lễ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, dư vị thời gian, không gian huyền thoại của lịch sử như cùng quy tụ trong màu xanh của bánh, mùi thơm thảo của hạt nếp tiền nhân để cùng suy ngẫm về ý nghĩa triết học và giá trị nhân văn của các truyền thuyết, các sự tích về bánh chưng của người Việt. Đó cũng là một cách di dưỡng tinh thần, làm giàu thêm bản sắc văn hoá tâm linh và văn hoá ẩm thực Việt Nam.
cach' lam` bai` van thuyet^' minh ve^` mot^ mom' an dan^ toc^ , thuyet^' minh ve^` gio^ng' vat^ nuoi^ coa' ich' va` thuyet^' minh ve^` do^` dung` quan thuoc^. giup' gium` pe' nha . cam~ on rat^' rat^' nhiu`[:-*]

tugm

Làm một bài văn thuyết minh về một món ăn cũng dễ thôi[:D].Đầu tiên lập dàn ý: A.Mở bài: Giới thiệu chung về món ăn/giống vật nuôi/đồ dùng quen thuộc mà ban muốn thuyết minh. B.Thân bài: nêu đặc điểm của đối tượng thuyết minh: +nơi xuất xứ/sao bạn có nó; +nêu hình dáng, t/c, cấu tạo của nó; . . . C.Kết bài: nêu cảm nghĩ của mình.

Thành viên tích cực

1

Bitty Ngọc

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

Quách Hiếu

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn