Cô Tô là một quần đảo nằm trong vịnh Bắc Bộ bao gồm các đảo Cô Tô lớn, đảo Cô Tô nhỏ, đảo Thanh Lâm, đảo Trần và vô số hòn đảo nhỏ khác.Ngoài tắm biển, khách du lịch còn có thể thăm quan rừng tự nhiên, hải đăng, khu tưởng niệm và tượng Hồ Chí...
(Xem thêm)

http://www.khachsancoto.vn/tour-du-lich-co-to-3-ngay-2-dem-6118636.html
Mình tìm mãi mà ko có câu trả lời cho câu này ai biết giúp mình vs , mình sắp phải thi rồi ...hichic

Nguyễn Hạnh

II. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc a. Tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của thời đại, nó trường tồn bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “ Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo, lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới, rút ra từ thực tiễn sinh động” Nét đắc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những vấn đề xung quanh việc giải phóng dân tộc và định hướng cho sự phát triển của dân tộc. Tư tưởng của Người gắn liền với chủ nghĩa Mác- Lênin và thực tiễn cách mạng nước ta b. Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và nhân dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đi tới thắng lợi 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển thế giới a. Phản ánh khát vọng của thời đại C.Mác khái quát “ Mỗi thời đại xã hội đều cần những con người vĩ đại của nó và nếu không có những con người vĩ đại như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra những con người như thế”. Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử vĩ đại, không chỉ là sản phẩm của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là sản phẩm của dân tộc, của nhân loại tiến bộ b. Tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người Đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là từ việc xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đến việc xác định được một con đường cách mạng, một hướng đi, một phương pháp để thức tỉnh hàng trăm triệu con người bị áp bức Những tư tưởng của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại. Đó là một sự thật lịch sử c. Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả Trong lòng nhân dân thế giới , Hồ Chủ tịch là bất diệt. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Hồ Chí Minh là “lãnh tụ của thế giới thứ ba”. Tuy Người đã mất nhưng “ tư tưởng chỉ đạo của Người vẫn mãi mãi soi sáng cuộc đấu tranh cho tới khi tất cả bọn xâm lược và bọn áp bức bị đánh bại hoàn toàn”( Trích điện văn của Tổng thống nước Cộng hoà thống nhất Tan- da- ni- a Gu- li- ut Ni- rê- rê) “ Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay là ngôi sao trên bầu trời cách mạng XHCN, của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, đang chỉ đường cho chúng ta bằng ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Trong sự nghiệp của chúng ta nhất định Người sẽ sống mãi ( R. A- rix- men- đi Tổng bí thư Đảng Cộng sản U- ru- goay)
Tình hình là mình mới mua một căn hộ chung cư và mình đang tìm công ty thiết kế nội thất có uy tín, chất lượng nhưng giá cả phù hợp với túi tiền ở thành phố Hồ Chí Minh. Bạn nào biết thì chỉ mình với.....!!!!!
(Xem thêm)

Chauphatdecor

ben minh chuyen thiet ke thi cong noi that, neu dc minh se truc tiep den nha ban de khao sat dc hok?
Trong các cơ sở hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh thì cơ sở nào quyết định đến bản chất cách mạng và khoa học của Hồ Chí Minh ? Tại sao ? Cảm ơn mọi người đã ghé qua câu hỏi của tui =.=!
(Xem thêm)

thu

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, tự do. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta… là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội…”. Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh nổi lên một số điểm đáng chú ý: Một là, khi ra đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã có một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, Người đã phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước Việt Nam chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú, nhờ đó Bác đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như một lẽ tự nhiên “tất yếu khách quan và hợp với quy luật”. Chủ nghĩa Mác-Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất. Hai là, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy. Người hồi tưởng lần đầu tiếp xúc với chủ nghĩa Lênin, “khi ấy ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như đang đứng trước đông đảo quần chúng: hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta”. Ba là, Người vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp mác-xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: - Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh. - Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh. - Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.
Giúp mình làm bài thu hoạch Tư tưởng Hồ Chí Minh đi các bạn................! " Từ lập trường phép biện chứng duy vật, anh chị hãy làm rõ sự khẳng định của Hồ Chí Minh: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhấn. Ky-tô...
(Xem thêm)

duong thanh binh

co ai do biet thi giup voi!!!!!!thank
Sự cần thiết của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế ? Vai trò và hình thức khối đại đoàn kết dân tộc?

thu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một trong những nội dung cơ bản nhất, cốt lõi nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh và đây cũng là cống hiến đặc sắc của Bác về mặt lý luận, nó chẳng những có giá trị về mặt lý luận, còn có giá trị về mặt thực tiễn rất lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đã chứng minh, đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, là động lực chủ yếu để phát triển đất nước, là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội trong tỉnh đã có bước đổi mới phương thức hoạt động; chủ động bám sát các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nhiệm vụ chính trị của tỉnh để xây dựng và triển khai thực hiện chương trình kế hoạch của nhiệm kỳ và hàng năm. Tập trung chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng; tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh các cuộc vận động, các phong trào thi đua hướng về cơ sở, đã đạt được những kết quả thiết thực, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII: Phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, tiếp tục đổi mới toàn diện; tập trung xóa đói giảm nghèo, sớm đưa Điện Biên ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; cần tập trung vào một số vấn đề sau: Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương chính sách đã đề ra. Bất cứ chủ trương, chính sách, việc làm nào cũng phải nghĩ như Hồ Chí Minh “sao cho được lòng dân”. Người nói “dân là gốc”, “dân là chủ”, “cán bộ từ Chủ tịch nước cho tới làng xã đều là đầy tớ dân, dân muốn gì chúng ta phải làm nấy”... Như vậy hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm túc là vấn đề cấp thiết, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đại đoàn kết dân tộc. Có tăng cường đồng thuận xã hội hay không, có củng cố và phát huy sức mạnh toàn dân tộc hay không, điều đó phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước như thế nào, nhất là những chủ trương chính sách liên quan trực tiếp tới từng dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội... Bảo đảm những chủ trương, chính sách này vừa đúng ý Đảng, vừa hợp lòng dân, phù hợp với thực tiễn của địa phương. Mở rộng và phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là “dân là chủ và” dân làm chủ, cán bộ công chức nhà nước là “công bộc” của dân. Nhưng có những “vị đại diện” đã lầm lẫn sự ủy quyền đó với quyền lực cá nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền... Do đó các cấp, các ngành phải chăm lo phát huy và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân theo pháp luật, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động gây rối trật tự công cộng ảnh hưởng đến an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, làm sứt mẻ tình cảm và chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc. Trong tình hình hiện nay, chỉ có mở rộng phát huy dân chủ một cách thực sự mới có đoàn kết một cách thực sự và bền vững. Muốn vậy đòi hỏi sự gương mẫu của đội ngũ cấp ủy, cán bộ đảng viên trong quá trình thực thi nhiệm vụ phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nói phải đi đôi với làm. Phát huy vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải không ngừng nâng cao tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, thực sự là nòng cốt trong tuyên truyền, vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc; phát huy quyền làm chủ, tích cực giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức; phải kiên quyết khắc phục tình trạng hành chính hóa, phải đi sâu vào những vấn đề cụ thể liên quan quyền lợi thiết thực của nhân dân. Từ đó sẽ phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể thực sự trong sạch vững mạnh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả “cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và “ngày vì người nghèo”, các hoạt động xã hội từ thiện nhân đạo; góp phần chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân theo hướng thực chất. Quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở thật sự vững mạnh, phát huy vai trò của những già làng, trưởng bản, người tiêu biểu, có uy tín trong đồng bào dân tộc, thường xuyên đi sâu đi sát cơ sở nắm bắt kịp thời tình hình, tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với các cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết.

hao

Vài nét lịch sử. Riêng tôi nghĩ, phải chăng cả ba ý kiến đều có tính chất cực đoan tuy mức độ có khác nhau. Họ đã nhìn tách bạch hai sự vật: đạo đức và pháp luật, đức trị và pháp trị, mà theo tôi, vốn chỉ là Một, cùng một căn nguyên, một bản chất. Trước khi đi thẳng vào vấn đề, tôi xin phép thử phác vài nét lịch sử, mặc dầu kiến thức lịch sử rất lõm bõm. Tôi nghĩ, nên xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người, con người xã hội, con người phần tử của xã hội, trong một xã hội nhất định sống chết với xã hội đó. Để tồn tại và phát triển, từng gia tộc, từng bộ tộc, liên minh bộ tộc, kế đó, từng dân tộc, mọi người sống trong cùng một cộng đồng tất yếu phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau, bảo vệ nhau. Và làm được như vậy là nhờ - như thuở xưa, anh và tôi, ta hằng ê a: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” con người sinh là có lương tâm, lương tri rồi. Thời đại nguyên thuỷ, cái Thiện bẩm sinh còn đơn sơ, chia đều cho mỗi thành viên cộng đồng, nên mọi người suy nghĩ, hành động dễ thống nhất: Nhưng qua phát triển, cộng đồng càng lớn lên, càng phân nhỏ thành nhiều đơn vị, dần dần sống xa nhau. Do đó “tập tương viễn”. Tuy vậy, dầu tập quán xa nhau thế nào, thì tính Người, tình Người vẫn làm cho các xã hội gần nhau: “Tính tương cận”. Đạo đức con người là mạch sống gắn họ lại với nhau. Rồi nhân loại đông lên gấp bội. Đời sống xã hội trong cộng đồng dân tộc trở nên phức tạp, cơ sở kinh tế phân hoá, giai cấp manh nha, khai triển làm rắc rối các quan hệ giữa người với người trong cùng một xã hội. Mặt khác, có yêu cầu về tổ chức. Ngay từ thời nguyên thuỷ, cuộc sống cộng đồng làm nảy nở phong tục tập quán. Thường là truyền miệng qua các thế hệ, có nơi được vẽ, viết một cách nguệch ngoặc trên vách hang động, có nơi ghi trên giấy tờ, đặc biệt có nơi đục khắc tinh vi trên bia đá. Đó là Lệ: “Lệ làng”, hình thành từ đức Thiện bẩm sinh. Khi giai cấp đã hình thành sắc nét, thì lớp người thống trị đặt ra Luật, chủ yếu để tự bảo vệ lợi ích sống còn của tầng lớp mình. Luật ấy tất nhiên xung đột với Lệ. Nhưng không thể phủ định hoàn toàn Lệ của dân chúng số nhiều. Vì lẽ đơn giản, tập đoàn thống trị nào thì cũng phải dựa vào dân chúng mới sống được, mặt khác, vì dân chúng không ngừng đấu tranh để tồn tại, nhân danh chính nghĩa của Chí Thiện, của Đạo Trời, cũng là Đạo Người mà thôi. Có thể ở đâu đó và lúc nào đó, Luật xoá “toẹt” Lệ - Chó sói muốn diệt đức của dân lành. ở đâu đó, như ta biết, phái học gia “pháp gia” dựng lên thuyết pháp luật độc tôn, chủ trương phát triển Luật rừng để giúp kẻ trị vì đàn áp dân chúng. Họ bịa ra nguyên lý “Nhân chi sơ, tính bản ác” làm cơ sở cho một thứ đạo lý phi nghĩa để biện luận cho chế độ pháp trị tàn bạo ấy. May thay cho thiên hạ: cả thầy lẫn tớ, chúng đều mệnh yểu. Bởi vì cả “đạo” lẫn “pháp” của họ đều “vô nhân đạo”, “vô pháp”, “vô thiên”. Một thực tế lịch sử nữa phổ biến hơn rất nên chú ý là ở đâu tập đoàn thống trị cũng tìm cách thoả hiệp với đạo lý nhân bản truyền thống và để cùng tồn tại được lâu dài với quần chúng, thì chúng cũng gắng uốn luật pháp của chúng cho phù hợp với đạo lý ấy. Nghĩa là nhìn chung có xu hướng nhất thể hoá hai nhân tố Đạo đức và Pháp luật cùng tác động đến đời sống xã hội. Có điều là xu hướng nhất thể hoá phải lành mạnh, làm cho cả Đạo đức lẫn Pháp luật đều bắt nguồn từ cái Thiện bẩm sinh, đều thể hiện tính nhân bản, nhân văn thì ý đồ nhất thể hoá mới phát huy tác dụng, có lợi cho sự phát triển xã hội. II. Với nhận thức như trên, tôi xin mạnh dạn trình bày mấy suy nghĩ sau đây khi nghiên cứu vấn đề Đạo đức và Pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh:. 1. Đạo lý nhân bản và Pháp lý tự nhiên. Khi khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ tuyên bố: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ câu đó của bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ, Bác Hồ “suy rộng ra” và khẳng định: “Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng. Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Hồ Chủ tịch còn viện dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh chứa chan đạo lý và pháp lý nhân bản. Đạo đức và Pháp luật, một nhất thể lành mạnh, vì cùng bắt nguồn từ tính Thiện mà tạo hoá ban sẵn cho con người. Đã từng có ai đó nói, đoạn mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập chỉ có ý nghĩa một chiến thuật khôn khéo của nhà chính trị đại tài Nguyễn ái Quốc để tranh thủ dư luận thế giới, mưu đồ bằng “lạt mềm” buộc chặt các cường quốc Đồng minh chiến thắng khi họ đang bàn bạc tìm giải pháp cho vận mệnh các dân tộc phụ thuộc. Thú thật, bản thân tôi trong lớp Chỉnh huấn của Chính phủ cuối năm 1952 đã từng “phản tỉnh” rằng “cái sọ nhỏ nhoi của mình, đã bị thực dân nhồi nhét “quá tải” cái lý luận Pháp lý tự nhiên (Droit naturel) siêu hình: mọi người sinh ra đều bình đẳng và tự do..., nên đã phạm quá nhiều sai lầm khi hoạt động trong ngành Tư pháp, cứ khư khư nắm quyền độc lập xử án của mình (độc lập với hành chính), khăng khăng bảo vệ quyền tự do thân thể của người dân “vong quốc nô” mới được giải phóng. Chính do sự “thành khẩn” bộc lộ ấy mà cùng với cụ Phan Kế Toại, tôi được lớp học tuyên dương, được nhận phần thưởng “Huy hiệu Sao đỏ Lênin” của Bác Hồ tặng trao qua tay vị trưởng lớp Phạm Văn Đồng. Nhưng có thật tôi đã sai lầm không? Sau chỉnh huấn tôi vẫn tự hỏi như vậy... cho đến khi lại “tỉnh” ra một cách khác. Tôi rất băn khoăn: Bác Hồ đã dạy Đạo lý và Pháp lý nhân bản thế nào? Chiến thuật hay Chiến lược? Chân lý hay thủ đoạn đối phó nhất thời? Phải nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đây, không sáng tạo cái gì mới. Hồ Chí Minh không phải là nhà triết học, Người thường tự nhận thế. Tuy nhiên, chỉ nguyên việc Bác khẳng định lại dứt khoát cái chân lý đơn giản về quyền con người và quyền dân tộc muôn thuở, cũng đủ là lời nói có giá trị khoa học rồi, vì nó xuất phát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu đời của dân ta và của loài người. Đồng thời, Hồ Chủ tịch đã luôn luôn giáo dục cho chúng ta về Nhân đạo và Pháp lý nhân đạo, Đạo của con người, Đạo làm người, vì con người, rất thích hợp với tâm hồn cháu chắt Vua Hùng. Với hoàn cảnh xã hội Việt Nam, có làng và có nước, có phép nước và có lệ làng, phép nước - lệ làng theo xu hướng tự nhiên nhất thể hoá, nhưng nếu mâu thuẫn thì phép Vua phải “thua lệ làng”, vì lệ làng là của dân, do dân, vì dân. Pháp lý Dân chủ và Nhân đạo, mang tính người và tình người hoá ra là yêu cầu mới nhất của trào lưu tiến bộ trên thế giới hiện nay. Gần đây, ở Việt Nam ta, Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII về vấn đề Nhà nước - pháp quyền và Hiến pháp 1992 có nói đến nhân bản, nhân quyền, chứng minh rõ sự giác ngộ mới về một chân lý cũ, chân lý của thời đại, của mọi thời đại. 2. Tư tưởng “hiến chính” của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”. Nội dung pháp lý của Hiến pháp 1946 là: Độc lập “hoàn toàn” cho Dân tộc; Tự do, bình đẳng về “mọi phương diện” cho “toàn dân”. Đó chỉ là yêu cầu tự nhiên về Đạo lý và Pháp lý của con người, ở đâu cũng thế, thời nào cũng thế. Toàn dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ Nhà nước, không loại trừ ai cả. Chỉ trừ bọn phạm tội (có án xử của Toà án). Sau này (1953) ngay cả đối với những người vốn là địa chủ. Trưng mua ruộng của họ để chia cho dân cày là yêu cầu của Pháp luật, cũng là thuộc Đạo lý tự nhiên, cũng như việc chia công điền xưa kia. Cải cách ruộng đất tuyệt nhiên không có nghĩa là tước vĩnh viễn quyền công dân của địa chủ. Pháp luật định như vậy (1). Về đạo người, lại càng phải thế... “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Cho nên: “Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu”, cực kỳ rộng rãi, có lẽ có một không hai trong lịch sử. ở Liên bang Xô Viết, nông dân chỉ hưởng quyền hạn chế. ở ta ai cũng có quyền bầu cử như nhau, không có một hạn chế nào, kể cả người ốm, tàn tật hay mù chữ, chỉ trừ người điên hoặc mất công quyền. Riêng đối với người mù chữ, trong Ban dự thảo Hiến pháp, có người thắc mắc thì Bác Hồ giải thích: Dân ta ai cũng yêu nước, thương nòi, ai cũng thích tự do, bình đẳng; thế thì ai cũng sẽ biết “chọn mặt gửi vàng”. Người nào không viết được vào phiếu bầu thì ban phụ trách sẽ có cách giúp. Khó gì đâu! Quá trình soạn thảo Hiến pháp 1946 là quá trình đấu tranh quan điểm trong nội bộ Ban dự thảo và trên báo chí để xác định một kiểu Nhà nước dân chủ thế nào cho thích hợp với Việt Nam. Cách mạng Pháp đã sáng tạo kiểu “Tam quyền phân lập”. Nhưng qua hàng trăm năm thực hiện thấy cũng không hay lắm. Cơ quan đại diện cho toàn dân ở ta sẽ nắm toàn quyền, cả ba quyền trong tay. Ta không “cóp” của ai cả. Mà chỉ xuất phát từ yêu cầu tự nhiên về dân quyền của toàn dân ta; vả lại ta đã bắt đầu có chút kinh nghiệm của ta trong việc xây dựng chính quyền nhân dân ở các căn cứ địa giải phóng. ý kiến phát biểu đó là của Bác Hồ. Cũng không cần chế độ hai Viện để hai Viện kiềm chế lẫn nhau. Ta sẽ có cách hạn chế sự lộng quyền hoặc kém sáng suất của cơ quan đại diện bằng sự giám sát của cử tri, dựa trên “quyền bãi miễn” và “quyền phủ quyết”. Đặc biệt là ta có kinh nghiệm độc đáo mà chế độ Nhà nước tập quyền Xô Viết không có, không thể có. Đó là Mặt trận dân tộc thống nhất, chỗ dựa của Nhà nước đồng thời là cơ quan giám sát thường trực đối với Nhà nước, một cơ quan giám sát có tổ chức cực kỳ rộng rãi của cử tri. Tư tưởng Hiến chính - Độc lập Tự do cho toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu hiện rõ nhất trong cơ cấu liên hiệp rất cao của Nhà nước. Và chính cơ cấu liên hiệp ấy bảo đảm cho chính sách liên hiệp quyền lợi của các giai cấp khác nhau, họ đã nhất trí sâu sắc về Độc lập và Tự do. Hãy nhớ lại những ngày sóng gió cuối năm 1945 và đầu năm 1946 để thấy rõ ý nghĩa và tác dụng lớn lao của việc xuất hiện Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Quốc hội đầu tiên của toàn dân bầu ra, sau cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu diễn ra, có nơi trong máu lửa. Ta nhớ Quốc hội và Chính phủ ấy gồm đại biểu nhiều đảng phái khác nhau, thậm chí đối lập về khuynh hướng chính trị, gồm cả cựu Hoàng đế làm cố vấn tối cao, gồm nhiều Phật tử Hoà Thường và Linh mục, giám mục, gồm cả Vua Mèo. Một tượng trưng đẹp đẽ chưa từng thấy của Khối đại đoàn kết toàn dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Hồ — người cực kỳ sáng suốt, nguyên là ông Nguyễn - Người yêu nước! Sau đó Hội Liên Việt quốc dân ra đời để cùng với Mặt trận Việt Minh trở thành hậu thuẫn vĩ đại của chính quyền nhân dân. Ta nhớ chính nhờ có sự hình thành kịp thời Chính phủ liên hiệp với cơ cấu toàn dân mạnh mẽ như vậy, mà đã thúc ép được Chính phủ Pháp ký với ta Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 công nhận “Quốc gia Việt Nam Tự do”, một bước tích cực để tiến tới giành độc lập hoàn toàn. Độc lập - Tự do là “Chính nghĩa”, là “Lẽ phải hợp với lòng người, với đạo lý và pháp lý tự nhiên, Hòn đá tảng của Công pháp quốc tế hiện đại, của Pháp quyền quốc gia hiện đại . III. ở Hồ chí Minh: Đạo đức là Gốc, Pháp luật là Chuẩn. Trong cái nhất thể “đạo đức - pháp luật”, xét về cội nguồn thì Thiện, Đức có trước và là gốc của Lệ, Luật; mà xét về công dụng đối với đời sống xã hội thì: Đạo đức gây men sống, còn Pháp luật là chuẩn, xác định mức độ phạm vi, phương pháp tác động của men sống ấy chỉ đạo hành động con người và bảo đảm cho hành động ấy có hiệu quả đối với xã hội. Pháp luật là tất yếu cần cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, làm hình thành mọi quan hệ xã hội hợp với chuẩn đã định. Không có pháp luật thì xã hội khó mà tồn tại được. Cho nên trước Cách mạng Tháng Tám và ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ đến, đã tự thân lo việc soạn thảo Hiến pháp và Luật pháp. Nhưng, gốc có bền thì cây mới đứng được và tươi tốt lên. Cho nên đồng thời, Bác phải lo vun gốc. Không phải tình cờ mà liền với việc soạn thảo Hiến pháp, chưa có Hiến pháp, thì Bác ra lệnh giữ lại mọi luật lệ cũ còn thích hợp với chế độ mới. Rồi Hồ Chí Minh gửi ngay thư “khẩn cấp”; cho các Uỷ ban nhân dân, các bộ, tỉnh, huyện, làng (vào đầu tháng 12/1945) và gửi thư cho đồng bào Bắc Bộ (vào đầu năm 1947) để răn bảo cán bộ ngoài Đảng, trong Đảng sớm biết tu tỉnh, tẩy rửa mọi thói hư tật xấu, tư thù, tư oán, cậy thế, cậy thần, quân phiệt hà hiếp, kể cả hẹp hòi, chuộng hình thức, ích kỷ, hám lợi danh; nghĩa là những điều luân lý thông thường, những yêu cầu sơ đẳng của Đạo đức làm người, của cái Thiện bẩm sinh. Khi mở lớp đầu tiên huấn luyện cán bộ thanh niên Cách mạng, bài giảng đầu của Bác là cái luân lý ấy. Rồi giữa lúc kháng chiến ác liệt, Người đã viết sách dạy dỗ phải “sửa đổi lề lối làm việc”, đi thăm đồng bào, cán bộ khắp nơi, khuyên bảo nên rèn đức “trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư...”. Nhiều người trong chúng ta ở đây hẳn còn in sâu trong ký ức bóng dáng người Cha, người Anh thân thiết ấy đã lên bục chỉnh huấn giảng bài khai tâm “Thiện và ác” trên thế giới, trong xã hội và trong bản thân mỗi người: làm sao cho Thiện đánh lùi được ác. Việc làm của Bác làm ta nhớ đến gương các vị danh thần, danh tướng Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo..., dạy dỗ con em, binh lính biết giữ lòng cho ngay thẳng, ý nghĩ trong sáng, làm tròn phận sự với gia đình, xóm giềng, đất nước, đồng bào. Có gì cao xa đâu! Nhưng làm được thế thì gia đình, làng xóm, xã hội yên vui, thái bình. Đạo đức làm người mà vững, thì phép nước, lệ làng, kỷ cương xã hội bảo đảm. Luật lệ không bao giờ đủ, ở đâu cũng thế. Chưa có luật nhưng giữ được tính Thiện, căm thù điều ác, thì đỡ nghĩ bậy, làm bậy. Đỡ nhiều lắm. Có luật đấy rồi, nhưng không có lương tâm thì sẽ bất chấp luật, sẽ xuyên tạc luật, bẻ queo luật như chơi. Có người phàn nàn là không đủ luật nên trật tự bát nháo; thậm chí nghĩ rằng nguyên nhân sâu xa là bởi vì Hồ Chủ tịch quá thiên Đức trị và coi nhẹ Pháp trị. Tôi cho nghĩ thế là một sai lầm về nhận thức tư tưởng. Tham nhũng lan tràn có phải vì do không đủ luật đâu có phải vì do cơ quan bảo vệ pháp luật không đủ người đâu? Kém đạo đức, vô giáo dục thì quả là “vô pháp, vô thiên”. Dột nát cả mái thì luật dùng vào đâu được. IV. “Đạo đức Cách mạng” và “Pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Đạo đức và Pháp luật vẫn là nhất thể khi nhà nước ta chuyển sang làm nhiệm vụ Chuyên chính vô sản ở miền Bắc, với các luật về cải tạo xã hội chủ nghĩa và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, dựa trên cơ sở Hiến pháp 1959, cũng do Hồ Chủ tịch chỉ đạo soạn thảo. Đạo đức làm nền, làm gốc cho Hiến pháp và các luật ấy là “Đạo đức Cách mạng” của giai cấp công nhân: coi bóc lột là xấu xa nhất trên đời, nên phải diệt trừ tư hữu về tư liệu sản xuất, xoá bỏ các giai cấp bóc lột, kẻ thù của giai cấp công nhân. “Trung với Đảng, Hiếu với Dân” (Dân đây tức là nhân dân lao động), là yêu cầu tối thượng của “Đạo đức Cách mạng”. Trần Lực dạy như thế trong cuốn sách của mình. Nhưng Trần Lực không phải chỉ dạy có thế thôi… Xã hội Việt Nam không giống xã hội Liên Xô. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản trong đời sống hiện thực không diễn ra sắc nhọn mà cũng không bao trùm toàn xã hội. Hơn nữa, điều này quan trọng vô cùng, tổ tiên ta đã dạy: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước thì thương nhau cùng”. Vì kẻ thù truyền kiếp luôn luôn đe doạ Tổ quốc ta là giặc ngoại xâm từ tứ phương đến giày xéo “Nam quốc sơn hà”. Cho nên: “Bầu ơi! Thương lấy bí cùng, Dẫu rằng khác giống, nhưng chung một giàn”. Khác giống đã thế, thì khác giai cấp càng phải thế chứ! Không ai hơn Bác Hồ thấm đến xương tuỷ tình cảm dân tộc thiêng liêng ấy và bài học lịch sử cao cả ấy của Dân tộc. Đã đành tiến lên Chủ nghĩa xã hội là ước mong tha thiết của quần chúng lao động. Nhưng tiến lên Chủ nghĩa xã hội bằng phương pháp nào? Cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng bạo lực đấu tranh giai cấp trong hoàn cảnh Việt Nam, nhất là đối với thành phần cá thể mênh mông là một sai lầm. Đạo đức tự nhiên của tình người, cả đạo đức cách mạng cũng không cho phép làm như thế. Phải cải tạo bằng vận động, bằng giáo dục. Làm cho người ta tự nguyện, thực sự tự nguyện nhận sự cải tạo. Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, con người giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Ai chưa giác ngộ, ta phải biết chờ đợi. Hấp tấp là hỏng việc. Vừa phi đạo lý, vừa phá sản xuất, làm hại cả nước. Phải lấy thực tế nhãn tiền có lợi mà chứng minh tính ưu việt của con đường xã hội chủ nghĩa. Phải bảo vệ sự đoàn kết toàn dân, sức mạnh muôn đời của Dân tộc. Tôi nghĩ chính điều khuyên bảo ấy của Bác Hồ mới là điểm mấu chốt của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền chuyên chính vô sản. Hiến pháp 1959 ghi rõ phương pháp hoà bình, phương pháp dân chủ của cải tạo xã hội chủ nghĩa, ngay cả đối với giai cấp tư sản. Nhưng tiếc thay, ghi thế, mà khi thực hiện lại khác? Và toàn dân đang phải chịu hậu quả không hay của việc làm ấy, thiếu nhân tình, mà cũng phi pháp nữa chứ! Nói nhân tình là nói cái nền chung của Đạo lý, cả đạo lý tự nhiên muôn thủa, lẫn đạo lý cách mạng mang tính giai cấp của Bác Hồ. Cái đạo lý nhân tình ấy là hồn của Pháp lý, cả pháp lý tự nhiên lẫn pháp lý của cách mạng dân chủ và cách mạng vô sản, là “thần linh pháp quyền”... Tóm lại, Đạo đức và Pháp luật là nhất thể. Cái nhất thể ấy không phải luôn luôn cứ giữ nguyên trạng. Nhưng dù nó có biến đổi thế nào, cùng với sự biến chuyển cả vạn vật.. thì cái căn nguyên của nó vẫn thế. Đó là tính nhân bản của Đạo đức và Pháp luật. Nắm vững cái bất biến ấy, Bác Hồ ứng với vạn biến của xã hội, trong nước cũng như trên thế giới. Cái bất biến ấy là Nhân Nghĩa. Thầy Khổng đã tổng kết lịch sử như vậy rồi để ứng xử với đời ông chịu nhiều thất bại. Hồ Chí Minh tiếp tục ứng dụng Nhân Nghĩa. Nói chung, kết quả rất màu nhiệm. Nhưng không phải là mọi lúc, mọi việc đều trơn tru. Không phải ngẫu nhiên mà ngay khi viết xong di chúc, Bác Hồ đã một thầy một trò, trốn mọi lễ nghi sinh nhật ở Hà Nội, ở Bắc Kinh, hai người đi viếng đền thờ Khổng Tử tại quê ông, và Bác tức cảnh: “Mười chín tháng Năm thăm khúc phụ, Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa. Uy quyền đạo Khổng, giờ đâu nhỉ? Lấp loáng bia xưa, chút ánh tà! (Thơ chữ Hán - Đặng Thai Mai dịch) * Trích: Vũ Đình Hoè - Pháp quyền Nhân nghĩa Hồ Chí Minh, NXB. Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001, tr. 327-338. 1. Pháp luật cũng “chia” ruộng cho cả địa chủ để họ kiếm sống bằng lao động và do đó được cải tạo.

thu

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã đem đến những biến đổi cực kỳ lớn lao cho cuộc sống của con người, trở thành động lực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Nhưng cũng chính ở thời điểm này, nhiều vấn đề tiêu cực và khủng hoảng về xã hội đã nảy sinh trong đời sống, buộc chúng ta phải nhìn nhận lại yêu cầu phát triển bền vững với vai trò, vị trí đặc biệt của văn hóa. Vì lẽ đó, trở lại với quan điểm văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang ý nghĩa thời sự quan trọng. 1 Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “ Nhật ký trong tù ” lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”(1). Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít và rất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đời sống tinh thần của con người - xã hội (theo cách phân khúc rời rạc), mà từ trong bản chất của mình, nó chính là linh hồn, là hệ thần kinh của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại. Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại. Nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phương thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Và đến lượt mình, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học - kỹ thuật - công nghệ, văn học - nghệ thuật. Năm 1970, nghĩa là gần 30 năm sau thời điểm Hồ Chí Minh viết những lời này, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), UNESCO đã thừa nhận khái niệm do Ph.Mây-ơ (F. Mayor) - nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Nếu so sánh, có thể thấy, khái niệm này của UNESCO về văn hóa có nội dung cơ bản như nội dung khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái khác nhau của hai khái niệm này là ở chỗ, khái niệm của ông Ph.Mây-ơ chỉ nhấn mạnh đến tính đặc thù của các giá trị văn hóa, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”. Còn trong khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn hóa không chỉ là cái tạo nên tính đặc thù của dân tộc, mà còn là những giá trị nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. “Nhu cầu đời sống” của con người luôn phát triển cũng như “đòi hỏi của sự sinh tồn” của xã hội loài người luôn luôn nâng cao, hoàn thiện. Cũng có nghĩa, nói đến văn hóa là nói đến giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ, tức là hướng tới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại. Nói đến văn hóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vận động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian. Từ nhận thức khái quát về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể về nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hóa dân tộc. Người viết tiếp: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc. 1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 2. Xây dựng luận lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4. Xây dựng chính trị: dân quyền. 5. Xây dựng kinh tế”(2) Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phân định nội hàm khái niệm văn hóa, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nền văn hóa dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống dân tộc như: “ tâm lý”, “luận lý”, “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”. Xây dựng văn hóa phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hóa trở thành phẩm chất tốt đẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó. Tóm lại, có thể nói rằng, ngay từ năm 1943, quan điểm về văn hóa và nền văn hóa dân tộc của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ tính hiện đại. Quan điểm này thể hiện tầm chiến lược thiên tài của Người trong việc xác định vai trò, vị trí và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam tương lai. 2 Hồ Chí Minh quan niệm, xây dựng về “tâm lý” là xây dựng “Tinh thần độc lập tự cường”, cũng có nghĩa là sự giáo dục, định hướng để hun đúc nên tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự cường. Đó chính là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự đoàn kết, đồng thuận dân tộc, điều kiện để tạo nên sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm lược, phá hoại từ bên ngoài. Lịch sử tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam đã là minh chứng hiển nhiên về bài học xương máu đó. Đối với các dân tộc khác trên thế giới, muốn tồn tại, vượt qua những nguy cơ xâm lược, đồng hóa hay chèn ép, xung đột để phát triển đều phải khẳng định một sức mạnh tinh thần to lớn từ độc lập tự cường. Chỉ có điều, biểu hiện của tinh thần độc lập tự cường ấy ở mỗi nước, tùy theo những điều kiện đặc điểm khác nhau mà thể hiện một cách sinh động, đa dạng. Đó cũng chính là một đặc tính văn hóa, một “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”. Có thể nói, quan điểm xây dựng văn hóa về “tâm lý” với nội dung là “tinh thần độc lập tự cường” là xuyên suốt và nhất quán trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Người nhận ra rằng, đó chính là con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức, lầm than. Sau này, cho dù trong những thời điểm thử thách khắc nghiệt nhất đối với quan điểm chính trị của mình hay trong thực tiễn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (3 ). Và chân lý nổi tiếng mà Hồ Chí Minh đã tổng kết từ thực tiễn lịch sử của thế giới và từ chính những bài học xương máu của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Càng nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu hơn ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính vì thế, Người đã khẳng định, một trong số bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga là: “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(4). Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động, là tấm gương sáng rõ nhất về sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, hoạt động như một chiến sỹ quốc tế nhưng tình yêu nước, thương nòi cùng những bản sắc con người Việt Nam của Người không những không phai nhạt đi mà càng sâu sắc, đậm đà hơn lên. Trong khi tận tâm, tận lực vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người cũng ý thức rất sâu sắc về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về sự đoàn kết của phong trào công nhân, cộng sản thế giới và đã xử lý vô cùng khéo léo, có trách nhiệm mối quan hệ giữa các đảng cộng sản, các quốc gia và dân tộc khác trên thế giới. Từ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học sâu sắc về quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó như một trong những điều kiện hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhưng trở lại yêu cầu về xây dựng văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đặt ra là phải giáo dục, quán triệt nhận thức đó, bài học đó thành tư tưởng, tình cảm, thành hành vi, lối sống của mỗi con người, thành một giá trị xã hội của Việt Nam. Đó cũng chính là một kết quả, hướng tới của sự phát triển con người Việt Nam, đồng thời là một điều kiện sống còn bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 3 Xây dựng văn hóa về mặt “luận lý”, theo cách hiểu của Hồ Chí Minh, chính là sự hình thành và không ngừng hoàn thiện về tư tưởng, lối sống mà nội dung trung tâm, quan trọng nhất của nó là “biết hy sinh làm lợi cho quần chúng”. Đó cũng chính là nội dung quan trọng nhất của những chuẩn mực đạo đức xã hội mà con người chúng ta nói chung hay mỗi cán bộ cách mạng nói riêng cần hướng tới. Tiêu chuẩn con người cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chính là sự phát triển đầy đủ hơn từ tiêu chí xây dựng văn hóa này. Đây cũng chính là yêu cầu sống còn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vì như sau này Hồ Chí Minh đã nhắc lại rất nhiều lần rằng, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” mà yêu cầu đầu tiên, quyết định của con người xã hội chủ nghĩa phải “đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân" (5) . Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3-2-1969, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa... Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật... Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Chính vì thế, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” (6) . Nói cách khác, xây dựng văn hóa về “luận lý” chính là xây dựng văn hóa sống của con người. Trong các chế độ xã hội dựa trên nền tảng của chế độ tư hữu thì chính quan hệ bóc lột, bất công bằng giữa người với người tạo thành những yếu tố, điều kiện một cách tự nhiên, thúc đẩy con người đi tới chủ nghĩa cá nhân, hình thành lối sống vụ lợi, ích kỷ. Sự thắng thế của quan hệ nhân đạo, của chủ nghĩa nhân văn, của sự hy sinh, xả thân cho lợi ích cộng đồng, đồng loại chỉ có ý nghĩa nhất thời, gắn với các giá trị yêu nước, dân tộc và về tổng thể, luôn chỉ giữ thế yếu so với sự vụ lợi, với chủ nghĩa cá nhân. Nếu chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng thì ý nghĩa cách mạng sâu sắc nhất, cũng là gay gắt nhất chính là sự biến đổi trong văn hóa sống của con người, là sự giải thoát con người khỏi chủ nghĩa cá nhân để hình thành và dần dần hoàn thiện văn hóa sống nhân văn cao cả, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước và của chế độ lên trên hết, đặt lợi ích cá nhân trong sự hài hòa với lợi ích của tập thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng của nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(7). Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa của con người mà chủ nghĩa xã hội hướng tới, là điều kiện, cơ sở cho sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. ý nghĩa cách mạng vô cùng sâu sắc của sự biến đổi này chính là do sự phức tạp, gay cấn trong cuộc đấu tranh tư tưởng của mỗi cá nhân con người cũng như cả xã hội để vượt qua những tập quán sống đã hình thành, khắc sâu vào lối sống xã hội con người trong suốt chiều dài lịch sử đã qua, để hình thành và dần hoàn thiện một thang giá trị mới mẻ trong mỗi con người và trong cả cộng đồng xã hội. Đến lượt nó, chính sự hình thành văn hóa sống trở thành tiêu chí để đánh giá những kết quả của cách mạng, thành điều kiện của sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. 4 Bàn đến nội dung xây dựng văn hóa về “xã hội”, Hồ Chí Minh coi đó là “ Một sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội”. Ở bình diện này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cả “một sự nghiệp”. Điều ấy có thể hiểu là việc phấn đấu cho phúc lợi của nhân dân là yêu cầu quyết định, thể hiện tính bản chất của chế độ. Nó phải được phản ánh trong mục tiêu, trong mô thức xây dựng, trong cơ chế vận hành của cả chế độ. Nó đồng thời phải trở thành một thể hiện tất yếu xã hội trong mỗi thành viên, mỗi bộ phận hợp thành của chế độ xã hội. Đây cũng chính là một nhận thức nhất quán, chỉ đạo hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8). Khi nói về chủ nghĩa xã hội, nhiều lần Hồ Chí Minh đã đặt “phúc lợi của nhân dân” như là ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm này. “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”(9); “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ”(10)... Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “phúc lợi” không đơn thuần là những giá trị vất chất, đương nhiên đó là những giá trị đầu tiên không thể thiếu. Đó còn là những yêu cầu về “tư do”, “dân chủ”, “học hành”, “nghỉ ngơi”, những điều kiện cần và đủ cho con người phát triển một cách toàn diện. Từ nhận thức về văn hóa trong nội dung xây dựng về xã hội , càng thấy rõ ý nghĩa nhân văn như là cốt cách, là bản chất, quán xuyến trong tất cả các bình diện tư tưởng của Hồ Chí Minh. Xây dựng văn hóa về nội dung xã hội cũng có nghĩa là mang lại cho xã hội ý nghĩa nhân văn cao cả ấy. Điều ấy cũng có nghĩa không đơn thuần là đạt được những kết quả về phúc lợi xã hội, mà hơn thế, bao gồm cả cách thức đạt được những phúc lợi ấy như thế nào, sử dụng những phúc lợi ấy ra sao, những phúc lợi ấy mang lại gì cho sự phát triển tốt đẹp của con người. Sinh thời, khi nói đến vấn đề phân phối hàng hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Ở đây, phương thức phân phối “công bằng” được đánh giá về tầm quan trọng cao hơn số lượng nhiều hay ít sản phẩm phân phối. Đương nhiên, nói như thế không có nghĩa là số lượng sản phẩm không quan trọng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng cách phân phối sẽ quyết định mối quan hệ và thái độ của những người được tham gia phân phối. Đó cũng chính là một biểu hiện cụ thể của ý nghĩa văn hóa. Đất nước ta còn không ít khó khăn, nền kinh tế chưa phát triển đến mức đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu phúc lợi phong phú của nhân dân. Chính vì thế, việc thúc đẩy phát triển kinh tế, làm giàu, không ngừng tăng thêm phúc lợi cho nhân dân là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta quên đi việc giáo dục về văn hóa trong phân phối, hưởng thụ các nguồn phúc lợi xã hội. Bởi chính văn hóa sẽ tạo nên chất kết dính các mối quan hệ xã hội, quy tụ và nhân lên những tiềm lực của xã hội. Việc tạo ra những của cải và mang lại những phúc lợi cho con người đã là khó khăn, đòi hỏi sự phát triển về lực lượng sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu. Nhưng việc phân phối những của cải vật chất và phúc lợi ấy lại mang ý nghĩa văn hóa, mang triết lý xã hội đặc trưng, đòi hỏi một quá trình giáo dục, trải nghiệm và hoàn thiện thì càng phức tạp, khó khăn hơn. Điều ấy lý giải tại sao ngày nay, không phải cứ ở những nước giàu có nhất thì người dân cảm nhận cuộc sống hạnh phúc nhất và xã hội hòa hợp nhất. Sự chia sẻ, tính tiết kiệm, sự công bằng, thái độ vô tư, ý thức cộng đồng, những điều ấy ở nghĩa sâu xa của nó, chính là sự biểu hiện sâu sắc của giá trị văn hóa, sự kết tinh văn hóa trong xã hội. Nó trở thành nền tảng cho việc sử dụng của cải, phúc lợi xã hội hợp lý nhất, mang lại nhiều hạnh phúc nhất cho con người. Ngày nay, đó cũng là một đòi hỏi của sự phát triển bền vững khi nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất càng ngày càng cạn kiệt và môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng. Từ nhận thức ấy càng thấy ý nghĩa thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng nền tảng văn hóa xã hội liên quan đến phúc lợi của nhân dân. 5 Về nội dung xây dựng “ chính trị”, theo Hồ Chí Minh, đó chính là “dân quyền”. Văn hóa chính trị chính là mang lại và bảo đảm được “ dân quyền”. Ở đây, dân quyền không chỉ là những quyền trên các lĩnh vực đời sống mà người dân được hưởng ngày càng đầy đủ, càng có ý nghĩa tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện, mà còn là những quyền lợi - lợi ích mà xã hội mang lại cho nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, ngày càng giúp cho cuộc sống của người dân hạnh phúc hơn, tiến bộ hơn. Có thể nói, toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng chính là lịch sử đấu tranh, phấn đấu để mang lại cho người dân nhiều dân quyền hơn, nhiều tự do hơn. Chủ nghĩa xã hội về bản chất của nó, là chế độ xã hội bảo đảm đầy đủ nhất “ dân quyền” , bởi vì đó là xã hội của dân, do dân và vì dân. Nhưng việc xây dựng một chế độ như thế không thể ngày một, ngày hai, mà là cả một quá trình phức tạp với không ít khó khăn. Bởi vì, dân quyền có được không chỉ do cơ chế quyền lực, chế độ chính trị, mà còn phụ thuộc vào sự tự giác, trình độ nhận thức của người dân và những điều kiện của môi trường xã hội. Có nghĩa là, hiểu dân quyền theo nhận thức văn hóa không chỉ là những quyền và lợi mà nền chính trị mang lại cho người dân, đó còn là cách mà những quyền đó được mang lại như thế nào và ý nghĩa của những quyền và lợi ấy ra sao, có ý nghĩa tốt đẹp đến đâu đối với xã hội. Văn hóa chính là nền tảng để phát triển, mở rộng dân quyền , đồng thời dân quyền cũng tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển các giá trị văn hóa của xã hội. Trong thiết chế xã hội nói chung, một mặt, vấn đề dân quyền gắn bó chặt chẽ hữu cơ với vấn đề nhà nước, là hệ quả của nhà nước, phản ánh tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển của nhà nước; mặt khác, dân quyền không thể tách rời những điều kiện khách quan của tồn tại xã hội như: trình độ nhận thức của người dân, những tập quán và đặc điểm văn hóa của cộng đồng, các cơ sở kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Trong mối quan hệ thứ hai, các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền là những điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Đối với mối quan hệ thứ nhất, vấn đề thực chất chính là nội dung, nhiệm vụ của việc xây dựng nhà nước. Khẳng định tính chất nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên nó phải thể hiện ý chí của dân, bảo vệ các quyền và lợi ích của dân, phục vụ cho các nhu cầu xã hội của dân. Khi nói về tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” (11) . Ở đây, “quyền dân chủ” gắn với “sinh hoạt chính trị của toàn dân” là yêu cầu đặt ra với Nhà nước như một đòi hỏi khách quan về quyền công dân. Nhưng đến lượt nó, “quyền dân chủ” và “sinh hoạt chính trị của toàn dân” lại trở thành điều kiện cho Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình với việc làm cho nhân dân tham gia tích cực giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của Nhà nước. Từ bình diện văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự phát triển dân quyền vừa có ý nghĩa như đòi hỏi, điều kiện cho sự phát triển văn hóa, vừa thể hiện mục đích phục vụ cho con người công dân và sự phát triển toàn diện con người. Hơn thế nữa, có thể nhận thấy rất rõ rằng, quán xuyến trong toàn bộ tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa trọng dân, ý thức tôn trọng, yêu thương, bảo vệ nhân dân. Đó cũng chính là lý tưởng, hoài bão, là mục đích sống của Hồ Chí Minh - Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa sống Hồ Chí Minh. Vấn đề dân quyền chỉ là một bình diện của tư tưởng ấy, một điều kiện để thực hiện mục đích phục vụ nhân dân, một thể hiện của văn hóa sống nhân văn cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trở lại mối quan hệ thứ hai, tức là xem xét các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền như: điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, nội dung, mức độ, hình thức và khả năng thực thi dân quyền không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống của các cộng đồng người, các dân tộc trong các thời đoạn lịch sử. Điều ấy cũng có nghĩa là, cùng với việc Nhà nước mang lại ngày càng nhiều quyền cho nhân dân thì cũng đồng thời phải tiến hành giáo dục, nâng cao nhận thức, không ngừng cải thiện môi trường xã hội cho nhân dân. Văn hóa chính là một yếu tố tạo nên môi trường xã hội. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, “trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân còn thấp, do đó, còn hạn chế nhiều kết quả trong công tác, trong sản xuất” và nhiệm vụ đặt ra là “nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân”(12). Khi trình độ văn hóa của nhân dân được nâng lên thì những điều kiện cho dân quyền cũng được cải thiện. Việc này đồng nghĩa với việc không được áp đặt vô điều kiện những nội dung dân quyền mà không tính đến những dị biệt về trình độ, tính chất và năng lực của những chủ thể khác nhau. 6 Đối với nội dung “ xây dựng kinh tế”, Hồ Chí Minh không đặt ra tiêu chí định hướng như những lĩnh vực khác. Nhưng theo cách đặt vấn đề từ những điểm trước đó có thể thấy, văn hóa được Hồ Chí Minh coi là mục tiêu của xây dựng kinh tế, đồng thời văn hóa cũng là nội lực mạnh mẽ của việc xây dựng nền kinh tế đó. Truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa trong nguồn nhân lực, trong trình độ tổ chức lao động sản xuất, quản lý kinh tế xã hội, văn hóa trong kinh doanh, trong quan hệ doanh nghiệp là động lực bên trong của quá trình kinh tế, của sự phát triển xã hội và con người. Một nền kinh tế phát triển tốt đẹp, bền vững chỉ khi nó gắn bó với những giá trị văn hóa, kết tinh trong nó những giá trị văn hóa, làm giàu có thêm và thúc đẩy sự phát triển của những giá trị văn hóa của dân tộc, của đất nước. ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy tư tưởng phát triển các lĩnh vực văn hóa của Hồ Chí Minh rất gần gũi với quan điểm phát triển bền vững hiện đại. Từ năm 1953, trong bài “ Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A - Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B - Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D - Tư bản của tư nhân. E - Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(13). Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận từ rất sớm mô hình nền kinh tế đa thành phần sở hữu trong chế độ của chúng ta. Sự đa thành phần trong nền kinh tế tất yếu kéo theo những yếu tố văn hóa vốn có, vốn đang tồn tại cùng những mối quan hệ xã hội giữa các thành phần kinh tế đó. Vậy thì cái gì làm nên sự phân biệt giữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với một chế độ xã hội phát triển kinh tế đa thành phần khác? Phải chăng đó chính là yêu cầu, đòi hỏi về xây dựng văn hóa, hướng con người tới một đời sống văn hóa cao thượng, nhân văn, một lối sống theo chủ nghĩa tập thể ở ý nghĩa tích cực của khái niệm đó. Mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, mang lại cho con người cuộc sống tự do, sự phát triển toàn diện và vì thế mà mang lại cho con người nhiều hạnh phúc nhất. Đó là một mục tiêu cao cả, nhân văn nhất. Nhưng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”(14). Nói cách khác, cần phải phát triển kinh tế để bảo đảm “cơm ăn”, đời sống vật chất cho nhân dân. Nhưng nền kinh tế ấy không tách rời các nội dung, ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa và nói cho cùng thì nó phải phục vụ cho mục đích phát triển văn hóa của nhân dân. Và để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đấu tranh, xây dựng, phát triển, phải tiến hành một cuộc cách mạng thật sự. Trong cuộc cách mạng đó, văn hóa luôn có ý nghĩa trọng yếu, quyết định. Đó vừa là điều kiện, nền móng cho sự xây dựng, phát triển của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu hướng tới trong quan hệ hài hòa với đời sống vật chất. * Tóm lại, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa sâu xa, đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Nó không chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống mà còn có vai trò nền tảng và sức mạnh động lực hết sức to lớn trong phát triển các bình diện đời sống xã hội. Văn hóa là sức sống của sự phát triển kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sống của con người. Những quan điểm về văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam”(15), mà còn có ý nghĩa thời sự, là chỗ dựa, sự chỉ dẫn cho chúng ta trong nhận thức và giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay./.
Bác Hồ đã từng nói: " Muốn Đoàn thanh niên củng cố và phát triển thì các đoàn viên : - Phải gương mẫu - Phải giữ vững đạo đức cách mạng , phải khiêm tốn , cần cù , hăng hái , dũng cảm. Phải tránh tư tưởng công thần tự tư , tự lự - Phải cố...
(Xem thêm)

Kim

Để làm tốt tiểu luận về đề tài này, bạn vào Google, gõ 6 bài lí uận chính trị của Đoàn viên mà tham khảo. Trong đó có một số câu hỏi và đáp về Đoàn viên thanh niên. Chúc bạn thành công.
1.phân tích đạo đức cách mạng trong tư tưởng hồ Chí Minh, liên hệ bản thân của mình. 2. phân tích mối quan hệ cá nhân và tập thể, cho vd minh họa& rút ra bài học cho bản thân. 3. phân tích sức mạnh tương đối và sức mạnh cải tạo của hình thức xã...
(Xem thêm)

Pham ngoc mai

Một trong những triết lý sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn. Vì vậy, bên cạnh quan điểm xác định giáo dục, học tập như một phương thức chủ yếu để bồi dưỡng thế hệ trẻ, Người còn đòi hỏi thế hệ trẻ phải luôn tự rèn luyện, tu dưỡng trong thực tiễn nhằm xây dựng, phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết để sau này có thể cống hiến được nhiều nhất cho quê hương, cộng đồng và xã hội. Theo Người, việc tự rèn luyện, tu dưỡng đó cần tuân theo nguyên tắc nhất quán: điều gì phải thì cố làm cho kỳ được; điều gì trái thì hết sức tránh, dù nó là nhỏ. Cách đây 60 năm (năm 1947), trong 'Thư gửi thanh niên', Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà... Thanh niên muốn làm chủ tương lai một cách xứng đáng thì ngay từ bây giờ phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải tích cực làm việc để chuẩn bị cho tương lai. Việc giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội, nhằm giúp họ tránh những cái độc hại, tiêu cực và tiếp thu, học hỏi những cái hay, tiến bộ trong cuộc sống. Thanh niên phải có tinh thần sẵn sàng: 'đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm'; phải đoàn kết chặt chẽ, kiên trì phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thi đua học tập và lao động sản xuất, góp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. 3 - Để thanh, thiếu niên và nhi đồng xứng đáng là thế hệ cách mạng của đời sau, họ cần được bồi dưỡng những gì? Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn trọng trách người chủ tương lai của đất nước, thế hệ trẻ phải được giáo dục, bồi dưỡng một cách thường xuyên và toàn diện. Có như vậy, họ mới hội đủ các phẩm chất, năng lực cần thiết, cả về trí tuệ lẫn bản lĩnh chính trị, cả về nhân cách, đạo đức lẫn sức khỏe, để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo đó, việc bồi dưỡng thế hệ trẻ phải tập trung vào những nội dung cơ bản sau: Một là, bồi dưỡng đạo đức cách mạng: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nội dung quan trọng hàng đầu là xây dựng đạo đức cách mạng, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa và gột rửa chủ nghĩa cá nhân. Không phải ngẫu nhiên mà Người đặt tư cách đạo đức của người cách mạng là nội dung trước tiên của cuốn sách 'Đường kách mệnh'. Tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng chứa đựng nhân sinh quan và giá trị quan hết sức sâu sắc đối với việc xác lập nhân cách, lý tưởng cũng như chuẩn mực lối sống cho thế hệ trẻ. Đạo đức cách mạng là đạo đức mới, là phẩm chất không thể thiếu và là cái gốc của con người xã hội chủ nghĩa. Bởi, 'Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân'(7). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung cốt lõi nhất của đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Những phẩm chất này giống như bốn mùa của trời đất; nếu thiếu một trong bốn phẩm chất đó thì con người không thể trở thành người theo đúng nghĩa. Nhưng, đạo đức cách mạng không phải là cái có sẵn, không phải từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của sự đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày của mỗi người. Do vậy, Người cho rằng, đối với thế hệ trẻ, phải luôn nỗ lực rèn luyện đạo đức cách mạng: thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; sống trong sạch, có chí tiến thủ và đoàn kết, không kiêu ngạo; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; phê phán những thói hư, tật xấu; thường xuyên tiến hành phê bình và tự phê bình... để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Hai là, bồi dưỡng tri thức lý luận và văn hóa, khoa học - kỹ thuật: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên phải vừa có đức, vừa có tài. Bởi vì, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó; người có tài mà không có đức sẽ trở nên vô dụng. Hơn nữa, chính sự dốt nát là một trong những nguyên nhân cơ bản kìm hãm sự phát triển: 'Dốt thì dại, dại thì hèn'(8). Vì vậy, để trở thành người có trí tuệ, có tri thức, tức là có tài, bên cạnh việc trau dồi đạo đức cách mạng, thanh niên còn phải hăng hái học tập, trong đó có học tập lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu, học tập lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm trang bị và nâng cao trình độ lý luận cách mạng - ngọn đèn pha soi sáng cho hoạt động thực tiễn. Cùng với việc học tập lý luận cách mạng, các thế hệ trẻ còn phải tích cực học tập văn hóa, khoa học - kỹ thuật...; sử dụng những tri thức đó để xây dựng xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ này quan trọng hơn bao giờ hết, bởi chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu. Cụ thể hóa mục tiêu, nội dung giáo dục phù hợp với từng cấp học, Người viết: 'Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công'(9). Có như vậy, thế hệ trẻ mới có thể tích lũy được những tri thức cần thiết, tạo tiền đề phát huy năng lực sáng tạo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc. Ba là, bồi dưỡng thể chất: Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, tương lai của loài người hoàn toàn tùy thuộc vào việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự phát triển toàn diện của thanh, thiếu niên và nhi đồng Việt Nam, trong đó có sự phát triển về mặt thể chất. Theo Người, việc giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, thực hiện đời sống mới... tất thảy đều phải có sức khỏe thì mới thành công. Bởi vì, 'Mỗi một người dân yếu ớt, tứ --------------------- Tìm từ đồng nghĩa
Dear các anh Chị, mình làm bên agency quảng cáo digital, evetns và ý tưởng làm tvc, công ty mình hiện tại đang phát triển khá là tốt trong miền nam và cũng có khá nhiều nhãn hàng bánh kẹo, dược là khách quen (kinhdo,vinabico,topcake...) bên mình có...
(Xem thêm)

Nguyễn Thị Thủy

Không sao đâu bạn ơi, phát triển khách hàng là tốt cho công ty bạn thôi. Mình Thạch bên Rich Media, hiện tại bên mình cũng là một đơn vị truyền thông ngoài Bắc, nhưng cũng có rất nhiều khách hàng miền Nam. Bên mình hiện tại mạnh về Online, Báo điện tử, Truyền Hình, Radio, Ambient, ... Có gì alo mình để hai bên có cơ hội hợp tác nhé: Thạch - Rich Media Mobile: 0942 804 638 Email:thachnguyen242@richmedia.com.vn
" Từ lập trường phép biện chứng duy vật, anh chị hãy làm rõ sự khẳng định của Hồ Chí Minh:[i] Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhấn. Ky-tô giáo có ưu điểm là lòng bác ái. chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm chính là...
(Xem thêm)

Lại Thị Thu Huyền

tớ cũng đang càn ng làm đêy
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới làm sáng tỏ luận điểm sau của Hồ Chí Minh : Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản .

Dương Anh Tuân

Bạn nên lên thư viện nghiên cứu kỹ lịch sử dân tộc, sau đó nghiên cứu về TT HCM. Thực ra, tư tưởng cốt lõi ở đây là Bác muốn nhấn mạnh con đường giải phóng dân tộc duy nhất, đó chính là cách mạng vô sản. Vì sao???Vì ....bạn kể các mốc lịch sử VN ta từ thời Pháp thuộc ra, nào là nông dân Yên Thế, nào là mượn Nhật đánh Tây, nào là Duy Tân...Nhưng tất cả có thành công không???Trong khi đó, trên thế giới, chúng ta vừa chứng kiến cuộc CM T10 Nga vĩ đại. Ui, mỏi tay quá. Bạn tham khảo thêm nhé. Chúc may mắn!!!
Chào mấy pro. em chuẩn bị ôn thi tốt nghiệp môn tư tưởng ở trường ĐH kinh tế TP HCM, em thi đề mở. các pro nào đã từng thi hoặc có nhiều kinh nghiệm thì chỉ em cách làm bài ntn để đạt được điểm mà trường yêu cầu. em xin cảm ơn và hứa sẽ hậu ta...
(Xem thêm)

hoidaptructuyen.vn

Có đáp án hết chưa bạn ơi?
[font_4]Phân tích đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chi công vô tư trong tư tưởng Hồ Chí Minh.Liên hệ bản thân.

Trần Thị Thanh Hòa

Trích dẫn: Từ bài viết của dcdien35 null
Ai giúp e với ,e đang làm tiểu luận tư tưởng hồ chí minh: " Vai trò của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam ". Mong mọi người giúp đỡ càng nhanh càng tốt.hix....thanks very much!!!

Trung Dũng

Bạn hãy tìm đọc Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh của nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. CHương 4 phần I mục 2: Vai trò của Đảng thì có đấy!!!
Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay?

roi biet

GÓP PHẦN TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM NGÔ QUANG ĐỊNH (*) Sau khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã xúc tiến thành lập một chính Đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam và Người đã cùng Trung ương Đảng ta trực tiếp lãnh đạo cách mạng, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, cho đất nước, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, giải phóng nhân loại cần lao, thoát khỏi mọi áp bức, bất công, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Cũng chính vì vậy mà vần đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam đã được Người quan tâm, nung nấu suốt cả đời. Đề cập đến tư tưởng của Người về vấn đề nêu trên, chúng tôi xin trình bày khái quát một số quan điểm lớn sau đây: Thứ nhất, giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược, đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà bình và thống nhất đất nước. Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏng của người dân mất nước. Bởi, mất nước là mất tất cả. Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, mọi quyền lực nằm trong tay quân xâm lược và bọn tay sai thì quyền sống của con người cũng bị đe doạ chứ nói gì đến quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của mọi người. Nếu có, đó chỉ là thứ tự do cướp bóc, bắt bớ, giết hại và tù đày của quân xâm lược và bọn tay sai. Chính vì vậy mà “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, một trong những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam đã trở thành chân lý của dân tộc Việt Nam và của cả nhân loại có lương tri. Độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân – tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó được quán triệt trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam và nó được thể hiện nổi bật trong các thời điểm có tính bước ngoặt lịch sử. Khi trả lời câu hỏi của nữ đồng chí Rôdơ, thư ký Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, họp ngày 29 tháng 12 năm 1920: Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất giản đơn. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” (1) Cũng ngay tại nước Pháp, giữa năm 1922, sau khi làm việc với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Anbe Xarô, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với ông ta mong muốn của mình và của nhân dân Việt Nam rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập…” (2) Năm 1945, đứng trước thời cơ mới của cách mạng nước ta, khi nói chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập.” (3) Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do.” (4) Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con người và độc lập là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi người dân của đất nước mình. Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới và các dân tộc trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hoà thuận và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Thứ hai, sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân tộc. Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi có độc lập, có tự do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hồ Chí Minh đã thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời thực dân, phong kiến. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh là phải xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Đó là ước nguyện, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh và là ước nguyện mong mỏi bao đời nay của nhân dân các dân tộc Việt Nam. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” (5) Thực hiện được ước nguyện đó, theo Hồ Chí Minh chính là nhằm giải quyết một cách triệt để và thiết thực vấn đề dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thế nhưng đi về đâu và xây dựng một xã hội như thế nào để thực hiện được ước nguyện đó nhân dân các dân tộc Việt Nam cũng như cho cả nhân loại bị áp bức, bóc lột? Đó là điều trăn trở, ưu tư không chỉ ở Hồ Chí Minh mà ở tất cả những người có lương tri, trọng đạo lý, trọng nghĩa tình khác. Sự bắt gặp và điểm tương đồng trong tư duy giữa Hồ Chí Minh với những người sáng lập ra học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại cũng chính là ở chỗ đó. Chứng kiến cảnh sống lầm than, khổ cực, bị bóc lột tới thậm tệ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc, chứng kiến cảnh sống trái ngang của bọn tư sản, thực dân giàu có và gian ác, nên con đường giải phóng xã hội, giải phóng con người mà cả Hồ Chí Minh và C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin đều khẳng định là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, càng không phải là quay trở lại chế độ phong kiến. Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định trước sau như một, là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực. Tức là thực hiện được đầy đủ các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người. Cũng chính vì vậy mà con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và độc lập phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hai phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau. Xuất phát từ hoàn cảnh của Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, hậu quả của bọn thực dân, phong kiến để lại rất nặng nề nên Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội.” (6) Thứ ba, phải thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Lịch sử của Việt Nam đã chứng minh trong cộng đồng các dân tộc ở nước ta khồng hề có dân tộc lớn (dân tộc nhiều người) đi áp bức, bóc lột dân tộc nhỏ (dân tộc ít người), mà quan hệ giữa các dân tộc với nhau là quan hệ anh em, ruột thịt. Truyền thống quý báu đó của dân tộc Việt Nam như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Êđê, Xơđăng hay Bana… đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, nó đói giúp nhau.”(7) Bên cạnh việc lên án thủ đoạn đê hèn của bọn thực dân, phong kiến dùng chính sách “chia để trị” nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam và để kìm hãm các dân tộc trong vòng nghèo nàn và dốt nát, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính ưu việt của chế độ mới để nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Việt Nam: “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt.” (8) Hậu quả của chế độ thực dân phong kiến và các thế lực thù địch chống phá cách mạng để lại ở Việt Nam là rất nặng nề; để khắc phục hậu quả đó nhằm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào miền xuôi cũng như miền ngược, Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc anh em ở trong nước. Bởi, chỉ có trên cơ sở đoàn kết mới tạo nên sức mạnh to lớn cho cách mạng Việt Nam để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng đã đề ra. Sau khi chủ trì Hội nghị Trung ương lần thức Tám (5 – 1941), nhận thấy cơ hội cứu nước đang đến gần, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào cả nước, trong thư Người viết: “…Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương! Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng.” (9) Hồ Chí Minh chẳng những là người quan tâm đến đoàn kết dân tộc, mà chính Người là hiện thân của sự đoàn kết đó, là người trực tiếp tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện gây chia rẽ, hiềm khích, kỳ thị dân tộc để thực hiện tình đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bài học kinh nghiêm về đoàn kết trong cách mạng Việt Nam được Người tổng kết thành 14 chữ vàng như sau: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Để thực hiện quyền bình đẳng và xây dựng tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, xuất phát từ hoàn cảnh và điều kiện sống của các dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, sống ở miền núi, vùng sâu và vùng xa của đất nước. Bởi, theo Người so với đồng bào sống ở miền xuôi, vùng đồng bằng và đô thị, thì đời sống của đồng bào ở miền núi, xét trên mọi phương diện, còn thấp và gặp rất nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy, miền núi và vùng sâu, vùng xa của đất nước ta, là nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, trình độ sản xuất và văn hoá của nhân dân nơi đây còn rất thấp. Nơi ăn, chốn ở, trường hợc, cơ sở y tế và giao thông đi lại còn nhiều khó khăn và thiến thốn. Bên cạnh đó, do trình độ dân trí thấp nên những thủ tục lạc hậu, mê tín, di đoạn còn rất nặng nề. Hơn nữa, khu vực miền núi nước ta – nơi làm ăn sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc ít người, là nơi giáp biên giới với số nước láng giềng, xa đồng bằng, địa bàn hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhiều vùng vốn là căn cứ địa cách mạng quan trọng của cách mạng Việt Nam trước đây. Bởi vậy, quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh trong chế độ mới, vừa có ý nghĩa kinh tế và quốc phòng to lớn đối với cả hiện tại và tương lai của đất nước. Sự quan tâm, giúp đỡ đối với đồng bào các dân tộc ít người theo Hồ Chí Minh, là trách nhiệm của toàn Đảng và toàn dân, của tất cả các cấp, các ngành, từ Trung ương đến địa phương, bằng những việc làm cụ thể và thiết thực. Thứ tư, phải đoàn kết, thương yêu người Việt Nam sống ở nước ngoài và thân thiện với người nước ngoài sống ở Việt Nam. Vì nhiều lý do khác nhau, dẫn đến một thực tế của đời sống thế giới, là người dân của nước này đến cư trú và làm ăn sinh sống ở nước khác và ngược lại. Giải quyết thực trạng đó ở mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi chính đảng, thậm chí với từng nhà lãnh đạo có những quan điểm và chủ trương chính sách khác nhau. Đối với người Việt Nam sống xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết, thương yêu họ, kêu gọi họ hướng về quê hương đất nước, nơi quê cha, đất tổ của mình, vì tất cả bà con đều là “con Lạc cháu Hồng” của đất Việt. Đồng thời, Người cũng kêu gọi và khuyên nhủ bà con phải giữ mối quan hệ thân thiện với nhân dân các nước và thực hiện tốt luật pháp của họ. Trong những năm chiến tranh và cách mạng, với lòng yêu nước, thương dân, Hồ Chí Minh đã thu phục được nhiều trí thức tài ba về nước phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, trong đó có người đã trở thành anh hùng của Việt Nam. Đối với người nước ngoài sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện thái độ ôn hoà và thân thiện với họ. Trong Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về (23 tháng 10 năm 1946), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Người Pháp ở Pháp đối với ta rất thân thiện, thì người Việt ở Việt đối với người Pháp cũng nên thân thiện. Đối với quân đội Pháp ta phải lịch sự. Đối với kiều dân Pháp ta phải ôn hoà. Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh. Để cho số người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để cho những kẻ thù khiêu khích muốn chia rẽ, không có thể và không có cớ mà chia rẽ. Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta chóng thành công.” (10) Đối với người Hoa sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng thể hiện quan điểm trước sau như một là đoàn kết, thân thiện và bảo vệ tài sản, tính mạng cũng như quyền làm ăn chính đáng của họ trên đất nước Việt Nam, như công dân Việt Nam. Theo Người, chẳng phải hôm qua hôm nay người Hoa kiều mới đến Đông Dương. Họ đã ở đây, họ đã luôn giữ một địa vị rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người Việt Nam với người Hoa trên đất nước Việt Nam. Trong “Thư gửi anh em Hoa kiều” nhân ngày Độc lập 2 – 9 – 1945, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hai dân tộc Trung - Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em; hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi vớI răng che chở cho nhau. Ngót trăm năm nay, đế quốc xâm lược Viễn Đông, giặc Pháp cưỡng chiếm nước ta, lấy đó làm bàn đạp xâm lược Trung Quốc. Hai dân tộc anh em phương Đông chúng ta lại chịu chung nổi khổ cực bị áp bức và xâm lược.” Xuất phát từ quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc và hai nước anh em, trong thư, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với bà con Hoa Kiều đang làm ăn, sinh sống ở Việt Nam: “Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam đã lập tức tuyên bố xoá bỏ mọi luật pháp của Pháp trước đây áp đặt lên Hoa kiều, xác định chính sách cơ bản là bảo đảm tự do, hoan nghênh Hoa kiều cùng nhân dân Việt Nam chung sức xây dựng nước Việt Nam mới. Mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giải quyết với nhau theo nguyên tắc hợp pháp lý với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau, không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân tộc…” (11) Ngoài ra, đối với các dân tộc và quốc gia khác trên thế giới, quan điểm của Hồ Chí Minh là tôn trọng nền độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc khác, đồng thời thực hiện quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Quan điểm đó của Người được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, ngày 2 – 9 – 1945 rằng: “… tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (12) Chẳng đường lịch sử hơn 70 năm qua kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc đề ra chính sách dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Chính sách đó vừa phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại, nên nó đã được cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam đón nhận với niềm phấn khởi và đầy tin tưởng, cũng bởi lẽ đó mà cách mạng Việt Nam có được sức mạnh to lớn để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Mr Tuấn Anh 0975173020 yêu cầu tạm ban

Chào bạn nếu bạn có ý muốn nghiên cứu chuyên sâu về chủ tịch hồ chí minh thì bạn xem website: http://hochiminhhoc.com , ở đó có rất nhiều tư liệu quý về Bác! chúc bạn tìm được cái mình cần.

fghgfshh

Hồ Chí Minh là người đầu tiên nêu khái niệm “cách mạng dân tộc dân chủ” (cách mạng phản đế và thổ địa) ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam. Xét cho cùng, Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước cũng là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ. Người cho rằng, nếu không giải quyết được hai vấn đề này, thì nhân dân Việt Nam mãi mãi là vong quốc nô. Theo Người, dân tộc được thể hiện ở độc lập dân tộc. Dân chủ được thể hiện ở vấn đề ruộng đất cho nông dân và tự do cho nhân dân. Hai vấn đề này hợp thành dân tộc và dân chủ trong chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nếu chỉ giải quyết vấn đề dân tộc mà không giải quyết vấn đề dân chủ, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa già, khi nhân dân vẫn mất quyền tự do dân chủ. Người nói: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Đó là chân lý của dân tộc. Năm 1949, Hồ Chí Minh viết bài: Dân vận. Đây là một tác phẩm rất có giá trị về phẩm chất tư tưởng cao cả. Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ”. Nội dung của một nước dân chủ theo quan điểm của Người là: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Việt Nam chưa có truyền thống dân chủ, cũng chưa trải qua nền dân chủ tư sản bởi do thực dân, đế quốc, phong kiến bưng bít. Chính vì vậy, chúng ta hiện đang vẫn còn trong tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ bề ngoài. Nhiều cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý do chưa nghiên cứu về dân chủ, chưa nắm được thực chất của nền dân chủ, nên sa đà vào tập trung quan liêu, cửa quyền, ban phát theo lối chủ quanduy ý chí. Đây là một điểm yếu kém của đội ngũ cán bộ chúng ta mà còn lâu mới có thể khắc phục được.
Cảm nhận về bài thơ " Cảm tưởng đọc thiên gia thi " của Hồ Chí Minh " Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong " Cho mình xin mấy gợi ý cũng được...
(Xem thêm)

djghjfdg

Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã bàn về quan điểm nghệ thuật mới mẻ, hiện đại và cách mạng đó của Hồ Chí Minh. Sau đây là ý kiến phê bình của nhà văn Hoài Thanh: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải tìm hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép”. Hoài Thanh đặt vấn đề tìm hiểu thế nào là “thép” trong thơ Bác là cần thiết vì đây là quan điểm văn nghệ cách mạng của Bác. Theo Bác thì thơ xưa thiên về miêu tả cảnh thiên nhiên, biểu hiện tình yêu đối với thiên nhiên: “Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng , hoa, tuyết, núi , sông;” Người quan niệm thơ ngày nay trước hết phải có chất cách mạng, có tính chiến đấu thể hiện tinh thần của người chiến sĩ cách mạng. “Nay ở trong thơ nên có thép” “chữ “thép” chỉ xuất hiện một lần trong tập thơ nhưng trong “Nhật kí trong tù” bài nào cũng có “thép”, câu nào cũng có “thép””. Nhà thờ Quách Mạt Nhược (Trung Quốc) đã nhận định như vậy. Ông Trường Trinh cũng nói trong thơ Hồ Chủ Tịch đều mang chất thép, đều toát ra tư tưởng và tình cảm của một chiến sĩ vĩ đại. Trong “Nhật kí trong tù” một mặt ta thấy có những bài trực tiếp nói đến cách mạng và thể hiện tinh thần cách mạng: “Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần phải càng cao.” (Bài thơ đề từ tập Nhật kí). Hay là: “Thà chết chẳng cam nô lệ mãi Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền Xót mình giam hãm trong địa ngục Chưa được xông ra giữa trận tiền.” (Việt Nam có biến động) Có thể kể thêm một số bài nữa như “Nghe tiếng giã gạo”, “Tự khuyên mình”, “Học đánh cờ” đã trực tiếp nói nên tinh thần cách mạng, đã “lên giọng thép”. Mặt khác, có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện “ thép”, lên giọng “thép”, mới có tinh thần “thép”. Trong tập thơ có nhiều bài thơ không hề nói đến cách mạng, tinh thần chiến đấu. Có nhiều bài thơ chỉ ghi lại sinh hoạt trong tù như “Nhà lao Nam Ninh”, “Tiền đèn”, “Tù cờ bạc”, “Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”, “Linh ngục đánh mất chiếc gậy”, “Chiếc khăn giấy của người bạn tù”… Có nhiều bài thơ thể hiện xúc cảm của nhà thơ trước hiện thực trong và ngoài tù. Nhân vật trữ tình ở đây là một thi sĩ nhạy cảm với những cảnh ngộ trớ trêu trong tù, với vẻ đẹp thiên nhiên trên đường giải tù như “Đi đường”, “Chiều tối”, “Giải đi sớm”, “Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh”, “Hoàng hôn”, “Nắng sớm”… Có nhiều bài thể hiện tinh thần trào lộng, cười cợt với đau khổ của Bác như: “Pha trò”, “Đi Nam Ninh”, “Hụt chân ngã”, “Ghẻ”, “Báo động”, “Dây trói”, “Đáp xe lửa đi Lai Tân”. Những bài thơ trên rõ ràng là không “nói chuyện thép”, không “lên giọng thép” nhưng lại có “tinh thần thép”, tinh thần kiên cường bất khuất của một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Xin dẫn ra đây một bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù” của Bác không “nói chuyện thép” không “lên giọng thép” mà có “tinh thần thép”: “Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.” Bài thơ không nói gì đến thép, chỉ nói đến rượu và hoa, chỉ có hai nhân vật là nhà thơ (thi gia) và trăng (nguyệt). Giọng điệu lại trữ tình , tha thiết. Trước trăng sáng , Bác muốn có rượu và hoa để thưởng trăng. Đó là cái thú của các thi nhân xưa nay. Lí Bạch đã từng “nâng côc mời trăng sáng” (cử bôi yêu minh nguyệt). Nguyễn Khuyến đã từng say dưới trăng thu “mắt lao không vầy cũng đỏ hoe”. Bác cũng là thi gia , sao không được tự do mà thưởng nguyệt? Tất nhiên trong cái nhà tù “rệp bò lổm ngổm như xe cóc , muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay” ấy thì nói gì đến “rượu” và “hoa”. Vì thiếu những điều kiện thưởng trăng cho xứng với trăng nên Bác hơi bối rối. Vì vậy khó có thể dịch được cái tâm trạng bối rối thoảng qua trong mấy chữ “nại nhược hà”. Một chút băn khoăn bối rối rất thi sĩ. Nhưng rồi Người lại làm chủ được tình thế. Thôi thì thưởng trăng với tất cả tấm lòng yêu mến và ngưỡng mộ vậy: “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.” Tôi tưởng tượng thấy nhà tù bấy giờ tối mịt , vài tia trăng lọt vào khe cửa sắt , Bác hướng về phía khe cửa ngắm trăng , mà Bác đã tiều tuỵ đi rất nhiều. Cái cảnh một cụ giả răng rụng , tóc bạc ,chân bị cùm ngồi ngắm trăng qua khe cửa tù , chao ôi , thơ Bác có thể làm kinh động lòng người là ở cái sự thật này đây. Trong hoàn cảnh ấy mà vẫn có được cảm hưng thơ , vẫn giữ được tư thế ung dung thì người làm thơ phải có tinh thần “thép” để vượt lên mọi gian khổ khủng khiếp của nhà tù. Chất thơ ấy , trước hết phải là chất thép. Hình tượng thi sĩ ấy bản chất phải là một chiến sĩ “uy vũ bất năng khuất”. Bài thơ tứ tuyệt hai mươi tám chữ không có chữ nào là chữ “thép” nhưng chữ nào cũng có “thép”. Giọng điệu thơ trữ tình , mượt mà , uyển chuyển mà có “tinh thần thép” , chất thép ấy , “tinh thần thép” ấy đã toát ra từ nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh.
Bạn hãy chứng tỏ rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sụ vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Giúp minh voi cac ban oi

Kim

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Chính trên cơ sở của lý luận Mác-Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác-Lênin có vai trò to lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu nhất. ( Bạn tham khảo thêm: http://vietmarine.net/forum/cac-van-de-khac/3194-van-dung-chu-nghia-mac-lenin-trong-tu-tuong-ho-chi-minh.html http://www.vatgia.com/hoidap/4024/86627/cau-hoi:-tai-sao-noi-chu-nghia-mac-lenin-la-nguon-goc-chu-yeu-tu-tuong-ho-chi-minh-cam-on.html )
các bạn ơi cho mình hoi vấn đề này với: theo bạn cơ sở , quá trình nào để đưa nguyễn Tất Thành trở thành nhà tư tưởng Hồ Chí Minh.trả lới giúp mình vớ i

Kim

Bạn tham khảo nhá ! 1. Nguồn gốc: Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc chủ yếu sau: a. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Chính trên cơ sở của lý luận Mác-Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác-Lênin có vai trò to lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu nhất. b. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc, tạo lập cho dân ta một nền văn hoá phong phú, đa dạng và thống nhất bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp, cao quý, trong đó chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang cao nhất của văn hoá Việt Nam. Đây là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, là động lực giúp Người vượt qua mọi gian nan thử thách, hiểm nguy. Đây là nguồn gốc, là một cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. c. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của văn hoá phương Đông trong Nho giáo và Phật giáo, như lòng vị tha, tư tưởng từ bi bác ái, tình yêu thương con người; triết lý hành đạo giúp đời, tu thân dưỡng tính, truyền thống hiếu học… Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ và phong cách dân chủ, nhân quyền của văn hoá phương Tây… Như vậy, trên con đường hoạt động cách mạng Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng trí tuệ của thời đại: Đông, Tây, kim, cổ…, vừa thu hái, vừa gạn lọc, suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa, vận dụng, phát triển góp phần làm phong phú, tạo nên tư tưởng của Người. d. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh. Trước hết, đó là tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng, phát huy tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn qua các phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động quốc tế. Đó là tâm hồn, ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành, một trái tim yêu nước thương dân, thương yêu con người, sẵn sàng chịu đựng những gian khổ hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chính những phẩm chất cá nhân hiếm có đó đã quyết định việc Hồ Chí Minh tiếp nhận, chọn lọc chuyển hoá, phát triển những tinh hoa của dân tộc và của thời đại thành tư tưởng đặc sắc của Người. 2. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải đã hình thành ngay một lúc mà trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện gắn với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Người, gồm 5 giai đoạn sau: - Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng (từ năm 1890 - 1911). - Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911 - 1920). - Giai đoạn hình thành cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam (1921 – 1930). - Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của cách mạng Việt Nam (1930 - 1941). - Giai đoạn phát triển và hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 - 1969).

Phố mùa đông

Bạn tham khảo tại link http://www.ctu.edu.vn/departments/dra/journal/vol05/02.pdf
chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh về dôc lập tự do gắn với chủ nghĩa xã hội trong tiến trình cách mạng việt nam

Chita

Bạn tham khảo tài liệu của Vũ Hiền như sau nhé Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu rõ : "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng của nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc". Và tại Đại hội IX của Đảng lần này, khi tổng kết những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới, Báo cáo Chính trị đã chỉ rõ bài học thứ nhất là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX vừa qua, chúng ta càng thấy rằng sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có thừa trí dũng, không thiếu quyết tâm nhưng họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho chế độ phong kiến, cả giai cấp tư sản và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc ở nước ta. Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong "tình hình đen tối như không có đường ra". Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó ? Nhưng rồi chính lịch sử lại có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định : chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành "trung tâm vũ trụ", chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người. Nhưng chính thời điểm mà chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một "định mệnh", như một "trật tự vĩnh hằng", thì sau Tháng Mười - 1917, không ai không thấy, cái "then" hãm thế giới ấy đã bị bẻ gẫy, điều định mệnh ấy thành ảo tưởng, cái trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Rõ ràng, tới những năm 20 của thế kỷ XX với những biến động to lớn và sâu sắc, đặc biệt với Cách mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới", đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi. Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính "sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc biệt Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nói như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại : năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố : "Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một thứ chủ nghĩa nào khác, bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi từ đó dọc thế kỷ XX, và tiếp tục đi cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hòa bình, hạnh phúc của con người. Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam ta hôm nay và mai sau. Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp. Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là : Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết không có sự can thiệp từ bên ngoài. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xóa bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng. Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế, sự phát triển phong phú đa dạng về văn hóa, tinh thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới chân giá trị của nó ở chỗ nó hướng tới phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và cuộc sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ và mạnh mẽ. Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, 71 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng ta đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, một điển hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với "hai đế quốc to", mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên thế giới. Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị thế mới trong khu vực và thế giới. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Như thế, đối với Việt Nam ta, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau. Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị ấy - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lư tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bước vào thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Tải toàn file ở đây [url=http://kmacle.duytan.edu.vn/Upload/file/D%E1%BB%98C%20L%E1%BA%ACP%20D%C3%82N%20T%E1%BB%98C%20G%E1%BA%AEN%20LI%E1%BB%80N%20V%E1%BB%9AI%20CH%E1%BB%A6%20NGH%C4%A8A%20X%C3%83%20H%E1%BB%98I.doc.]http://kmacle.duytan.edu.vn/Upload/file/D%E1%BB%98C%20L%E1%BA%ACP%20D%C3%82N%20T%E1%BB%98C%20G%E1%BA%AEN%20LI%E1%BB%80N%20V%E1%BB%9AI%20CH%E1%BB%A6%20NGH%C4%A8A%20X%C3%83%20H%E1%BB%98I.doc.[/url]
thầy cho về nhà làm câu: hãy nêu rõ ý nghĩa và giá trị câu nói của HCM "không có gì quý hơn độc lập tự do".ai có tài liệu về câu hỏi này không cho mình với??? [:(]

Nguyễn Đức Đoàn

Minh cung sap thi het mon,ko hieu la thi ve van de gi,thi nhu the nao.that la kho hieu mon nay,chan that day. Ban vao google seach di. chuc lam bai tot nhe. hiiiiiiiiiiii
1: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập ngày, tháng, năm nào ? Ở đâu ? Ai làm đội trưởng và chính trị viên đầu tiên ? Tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải...
(Xem thêm)

nguyễn thị ngọc phương

Theo mình nghĩ bạn tự tìm hiểu lịch sử sẽ hay hơn nhiều đó
Giúp mình làm bài thu hoạch Tư tưởng Hồ Chí Minh đi các bạn? " Từ lập trường phép biện chứng duy vật, anh chị hãy làm rõ sự khẳng định của Hồ Chí Minh: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhấn. Ky-tô giáo có ưu điểm là...
(Xem thêm)

Nguyễn Hoàng Phúc

Chỉ cần đọc câu hỏi của bạn "Giúp mình làm bài thu hoạch Tư tưởng Hồ Chí Minh đi các bạn?" thì cũng hiểu rằng: - Nếu bạn là Chồng (Vợ) thì bạn là người không có trách nhiệm với gia đình (cha, mẹ, ông, bà...). - Nếu bạn là cha (mẹ): thì bạn là người suốt đời không thể giáo dục được con cái mình tốt hơn, không thể dayh con cái học hành đàng hoàn. - Nếu bạn là một Cán bộ, công chức, viên chức: Thì chắc rằng: bạn là 1 ông (bà) quan tham ô, tham nhũng và lãng phí. Vì: Bạn hoàn toàn không tự lực bản thân. Bác Hồ rất câm phẩn những người như bạn. Nguyễn Hoàng Phúc.

NGUYEN NGOC HOANG

Tu tuong hcm trong giao duc Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực. Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa "hồng" vừa "chuyên", có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ... Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành qủa của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống. Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau. Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: "Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam, Hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão và Ba là, những tư tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội đung và phương pháp giáo dục. Về vai trò và mục đích của giáo dục. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Người nói: "Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên". Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Người kêu gọi: "Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh nước giàu, Mọi người Việt Nam... phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ". Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho "ngu dân dễ trị". Bằng ngòi bút với lời lẽ sắc bén, Người đã chỉ rõ bộ mặt thực của cái gọi là "khai hoá văn minh" của thực dân Pháp: những người đến trường được "đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp", những người không đến trường thì bị đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện. Do vậy, theo Người, để khẳng định chính mình, mỗi người phải thẳng thắn đấu tranh với cái lỗi thời, lạc hậu và các tệ nạn xã hội. Người viết: "Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân". Thật vậy, ngay từ những năm đầu bước vào đời, khi tham gia giảng dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, tại đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hoá, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc. Nhưng mục đích cao cả của Hồ Chí Minh - mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu - là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người, "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Suốt đời, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản Chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, "trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa "chuyên" trong thời đại mới. Và như vậy, "con người xã hội chủ nghĩa", con người toàn diện, "nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện "tài", rèn "đức" cho cán bộ. Bởi, theo Người, "có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa.

Thành viên tích cực

1

Bitty Ngọc

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

Quách Hiếu

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn