Cảm nhận về đoạn trích trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Mình về mình có nhớ ta,rn...Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Giới thiệu: Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, quê hương cách mạng đầu tiên của Việt Nam, gồm các tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà, nơi gắn bó tình nghĩa keo sơn của TW Đảng và chính phủ thời kì kháng chiến chống Pháp.1. Hoàn cảnh sáng tác7.1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miềnBắc hoàn toàn giải phóng.Tháng 10/1954, TW Đảng và Chính phủ rời VB trở về HN. Nhân sự kiện ấy TH sáng tác bài Việt Bắc.Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần hai gợi viễn cảnh tươi sáng, ca ngợi công ơn của Đảng của Bác Hồ.SGK trích học phần đầu.Bài thơ được kết cấu theo lối đối đáp trong ca dao trữ tình truyền thống.Phân Tích:1. Hai mươi câu đầuPhân tích đoạn thơ trích trong Việt Bắc của Tố Hữu:"Mình về mình có nhớ ta (...) Tân trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:"Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng /Mình về mình có nhớ không /Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?"Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ. Cách xưng hô "mình - ta" mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: "Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ". "15 năm" là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn. Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều - Mười lăm năm bằng thời gian Kim - Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao - Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình). Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều. Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Việt Bắc hỏi về: "Mình về mình có nhớ không - Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?". Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng.Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:"Tiếng ai tha thiết bên cồn/ Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi /Áo chàm đưa buổi phân li /Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay""Bâng khuâng, bồn chồn" là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong... lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả."Áo chàm đưa buổi phân li" là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc - tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể "áo chàm", chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.Câu thơ "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..." đầy tính chất biểu cảm - biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng...12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:"Mình đi, có nhớ những ngày/ Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù /Mình về, có nhớ chiến khu /Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?/ Mình về, rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng măng mai để già/ Mình đi, có nhớ những nhà/ Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son/ Mình về, có nhớ núi non /Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh/ Mình đi, mình có nhớ mình/ Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"Điệp từ "nhớ" lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương theo cách:"Thuyền về có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn."Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?""Miếng cơm chấm muối" là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói "mối thù nặng vai" nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta.

Le Mai

VẤN ĐỀ HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN: LÝ LUẬN VÀ TÍNH THỜI SỰ Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, cả những học trò của C.Mác - Ph.Ăngghen lẫn bất kỳ độc giả nào cũng đều không tìm thấy thuật ngữ hình thái kinh tế - xã hội theo nguyên dạng của nó. Thuật ngữ này, như ghi nhận của giới chuyên môn, xuất hiện muộn hơn khá nhiều. Lần đầu tiên, vào năm 1859, tức là sau Tuyên ngôn đến hơn 10 năm, nó được Mác sử dụng trong Lời tựa cho cuốn sách Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, một trong những dạng thức “tiền thân” của bộ Tư bản. Tuy nhiên, khi nắm bắt thực chất tinh thần câu chữ trong văn bản và phân tích đối chiếu với cấu trúc nội hàm khái niệm ở trình độ hoàn thiện, chín muồi của nó thì có thể khẳng định rằng, vấn đề hình thái kinh tế - xã hội nằm trong số những nội dung cơ bản quan trọng hàng đầu của Tuyên ngôn. Thật thế, ngay ở phần đầu tác phẩm, Mác - Ăngghen đã khái quát, phân định toàn bộ lịch sử phát triển xã hội loài người theo các cặp giai cấp tiêu biểu đặc thù, đối kháng nhau về cơ sở kinh tế - xã hội và đấu tranh quyết liệt với nhau trên bình diện chính trị - xã hội, từ đó rút ra các chế độ xã hội, loại hình xã hội tương ứng. Theo trình tự thời gian lịch sử, lần lượt đó là: 1- xã hội thời kỳ tiền sử, chưa “thành văn”, tức công xã nguyên thuỷ; và các xã hội thời kỳ “thành văn”, bao gồm: 2- xã hội cổ đại, chiếm hữu nô lệ, với các giai cấp đối kháng cơ bản là người tự do và nô lệ, quý tộc và bình dân; 3- xã hội trung cổ phong kiến với chúa đất và nông nô, thợ cả và thợ bạn; 4- xã hội tư bản hiện đại với tư sản và vô sản; 5- xã hội cộng sản văn minh tương lai sẽ ra đời từ sự diệt vong của xã hội tư bản. Trong những phần sau, Mác - Ăngghen tập trung tiến hành việc nghiên cứu, “giải phẫu” sâu sắc xã hội tư bản trước hết ở nền tảng kinh tế - xã hội và phương thức sản xuất của nó. Từ đây các ông đã vạch ra được quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của xã hội này nói riêng, quy luật vận động phổ biến, chung nhất của tất cả các loại hình xã hội trong lịch sử nói chung. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, xác định rằng, sự phát triển tới hạn của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến chỗ phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thúc đẩy phương thức sản xuất phát triển lên một trình độ mới cao hơn, cách mạng hoá toàn bộ đời sống xã hội… Như vậy, cấu trúc nội dung chung của quan niệm duy vật lịch sử đã được xác lập hoàn chỉnh ở Tuyên ngôn bao gồm hai bộ phận hợp thành chính: Một là, hệ thống lô gíc lý luận có tính khái quát, tổng hợp và trừu tượng cao gồm các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm triết học duy vật lịch sử phản ánh toàn bộ kết cấu “cơ thể” xã hội nói chung; Hai là, những khảo sát, phân tích cụ thể sinh động từ góc độ tiếp cận của các khoa học chuyên ngành lịch sử, xã hội, kinh tế… Hai hợp phần nội dung này là kết quả của hai tuyến nghiên cứu độc lập tương đối với nhau, nhưng vẫn thống nhất với nhau trong một tiến trình chung, vừa làm tiền đề cho nhau, vừa là hệ quả của nhau để đạt tới nhận thức khoa học sâu sắc, đúng đắn và chính xác về hệ thống quy luật phổ biến, chung nhất của lịch sử, xã hội. Ở đây thể hiện rõ phương pháp biện chứng khoa học đặc sắc “đi từ cái cụ thể (trong hiện thực) - đến cái trừu tượng - trở về cái cụ thể (trong tư duy)”. Phương pháp đó được Mác cắt nghĩa và trình bày trực tiếp sáng tỏ về sau, trong tiểu mục Phương pháp của khoa kinh tế chính trị, ở Lời nói đầu (1857) cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị. Tư tưởng về hình thái kinh tế - xã hội của Mác - Ăngghen trong Tuyên ngôn, được rút ra từ quá trình nghiên cứu theo phương pháp đầy hiệu lực và duy nhất đúng đắn ấy (xét ở cấp độ tiếp cận khái quát triết học), chính là “cái cụ thể” xét trên cả hai phương diện trong cấu trúc chung của quan niệm duy vật lịch sử: Thứ nhất, với tính cách là “cái cụ thể trong hiện thực”, hình thái kinh tế - xã hội phản ánh lịch sử xã hội loài người bao gồm các thời kỳ, giai đoạn với các loại hình, chế độ cơ bản khác nhau, kế tiếp và tương đối tách biệt nhau. Trong đó, mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử, mỗi loại hình, chế độ này lại có những nội dung, tính chất, đặc điểm riêng biệt khác nhau nhất định về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về cơ cấu và mâu thuẫn giai cấp xã hội, về hệ thống chính trị và đời sống tinh thần. Thứ hai, với tính cách là “cái cụ thể trong tư duy”, hình thái kinh tế - xã hội thống nhất, kết hợp, tổng hợp với hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm triết học duy vật lịch sử để tạo thành một quan niệm duy vật lịch sử có nội dung chung vừa khái quát vừa sinh động, vừa mang tính lô gíc vừa mang tính lịch sử, vừa bao hàm cái chung vừa thể hiện cái riêng, vừa khẳng định cái phổ biến vừa phản ánh cái đặc thù… Với nội hàm ý nghĩa như thế, quan niệm duy vật lịch sử này trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học thực sự để nhận thức và định hướng đúng đắn cho hoạt động cải tạo thế giới. Nó khác biệt về chất so với những triết học - lịch sử mang “đức tính cao cả nhất là ở tính siêu lịch sử”, tách rời khỏi mọi hoàn cảnh thực tiễn cụ thể, có cao vọng trở thành chìa khoá vạn năng để hiểu biết toàn bộ đời sống lịch sử, xã hội[2]. Hình thái kinh tế - xã hội với tính cách là một đối tượng nghiên cứu chỉnh thể cũng được Mác - Ăngghen đi sâu phân tích kỹ lưỡng hơn cũng theo phương pháp “cụ thể - trừu tượng - cụ thể”, giống như đối với quá trình nghiên cứu toàn bộ cấu trúc “cơ thể” đời sống xã hội, toàn bộ lịch sử nhân loại nói chung. Nhờ vậy các ông đã phác hoạ, khái quát toàn bộ lịch trình tiến triển xã hội loài người thành “mô hình”, “sơ đồ” mang tính “chuẩn hóa” gồm 5 hình thái kinh tế - xã hội. Trong đó, sự vận động, phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội cũng như bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác đều tuân theo các quy luật duy vật lịch sử chung nhất, phổ biến, tất yếu. Đồng thời, Mác - Ăngghen cũng luôn xem xét, khảo sát một cách cụ thể chi tiết và sâu sắc diễn biến, nội dung đời sống lịch sử hiện thực trực tiếp của nhiều loại hình xã hội đã từng tồn tại ở Tây Âu và các nước, khu vực khác trên thế giới. Từ đó hai ông đã đạt tới nhận thức toàn diện về cả cái lịch sử lẫn cái lô gíc, cái đặc thù lẫn cái phổ biến, cả cái riêng lẫn cái chung, cả cái bộ phận lẫn cái toàn thể…, tức là cả “cái cụ thể trong hiện thực” lẫn “cái trừu tượng”. Kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu theo phương pháp này là sự thống nhất, hợp nhất, tổng hợp của chúng thành “cái cụ thể trong tư duy” vừa sinh động phong phú hơn, vừa sâu sắc đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. Đáng chủ ý rằng, đây là điều không phải tất cả đều thấy. Trong khi đó, các nhà “phê phán Mác - Ăngghen” cả trước lẫn nay thì thường bỏ qua để rồi quay lại quy kết các ông là “giáo điều”, coi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một loại quyết định luận mang tính “kinh viện”, “định mệnh”, “khuôn mẫu”, “cứng nhắc” và chỉ có ý nghĩa “hạn hẹp”, “cục bộ”…(!). Hình thái kinh tế - xã hội và phát triển vượt cấp Sự quan tâm nghiên cứu toàn diện như thế của Mác - Ăngghen đối với cái lịch sử, cái đặc thù, cái riêng, cái bộ phận (“cái cụ thể trong hiện thực”), đã đem lại những số kết quả quan trọng vừa mang tính khoa học lý luận đặc sắc độc đáo, vừa mang tính thời sự trực tiếp cấp thiết đối với tiến trình chủ nghĩa xã hội thế giới cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI nói chung, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp Đổi mới ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Đáng chú ý trong số đó là tư tưởng về việc cần phải “hạn chế tính tất yếu lịch sử” của sự phát triển chủ nghĩa tư bản mà chính các ông đã vạch ra, chỉ trong phạm vi những nước Tây Âu[3] và tư tưởng về phát triển vượt cấp đặc thù, “phi chuẩn hóa” của các hình thái kinh tế - xã hội bên cạnh tiến trình phát triển chung nhất, phổ biến của chúng. Phép biện chứng của đời sống thực tiễn ở đây là: cái chung, cái phổ biến, cái trừu tượng không phải luôn luôn đồng nhất với cái riêng, cái đặc thù, cái cụ thể cũng như không phải đồng nhất với tất cả cái riêng, cái cụ thể. Trái lại, trong sự vận động phát triển của hiện thực lịch sử xã hội, cái đặc thù, cái riêng, cái cụ thể và cái chung, cái phổ biến, cái trừu tượng có thể không đồng nhất với nhau nhưng vẫn hoàn toàn thống nhất với nhau. Ngay trong Tuyên ngôn, tư tưởng về hình thái kinh tế - xã hội đã gắn liền với tư tưởng về phát triển vượt cấp. Bởi vì thực ra những tư tưởng đó cùng với nhiều tư tưởng cơ bản quan trọng khác trong tổng thể nội dung chung của quan niệm duy vật lịch sử, đều đã được Mác - Ăngghen nêu lên và tiếp tục đề cập đến trong suốt những năm 40 thế kỷ XIX, tức là trong giai đoạn các ông mới hình thành thế giới quan duy vật biện chứng - duy vật lịch sử, lập trường cộng sản chủ nghĩa của mình. Ngoài ra, phát triển vượt cấp cũng cần được xem là vấn đề thuộc về chính nội dung của Tuyên ngôn nếu chú ý rằng, nó đã được Mác - Ăngghen trực tiếp nhắc tới trong Lời tựa cuối cùng mà hai ông cùng soạn thảo, viết cho Tuyên ngôn xuất bản bằng tiếng Nga lần thứ hai vào năm 1882. Tư tưởng của Mác - Ăngghen về phát triển vượt cấp bao gồm một số nội dung chính như sau: - Trong một số điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, hình thái kinh tế - xã hội thấp (thứ nhất) có thể phát triển vượt cấp lên một trình độ cao hơn hẳn (thứ ba), bỏ qua giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp liền kề (thứ hai). Hiện tượng “lệch chuẩn” so với “sơ đồ mẫu 5 hình thái” này thực ra vẫn không mâu thuẫn mà còn thống nhất với sự phát triển tuần tự qua “sơ đồ” chung đó của lịch sử toàn thế giới. Còn bản thân “sơ đồ mẫu” cũng không loại trừ mà lại bao hàm chính những bước nhảy vượt cấp, bỏ qua. Đây chính là phép biện chứng sinh động giữa cái chung và cái riêng, cái trừu tượng và cái cụ thể, cái phổ biến và cái đặc thù, cái tổng thể và cái bộ phận trong sự vận động, phát triển của lịch sử hiện thực của xã hội loài người. - Những điều kiện cơ bản cho sự phát triển vượt cấp bao gồm: Một là, xã hội thứ nhất phải vừa có mối liên hệ trực tiếp ít nhiều sâu rộng chặt chẽ, đồng thời vừa có vị thế độc lập tương đối nhất định đối với xã hội thứ hai. Hai là, xã hội thứ hai không chỉ là phải đang tồn tại, mà còn phải phát triển đến một mức độ chín muồi nhất định của chính nó. Ba là, tuy xã hội thứ nhất có trình độ kinh tế - xã hội thấp hơn, phương thức sản xuất kém phát triển hơn, nhưng vẫn phải có được những nhân tố vật chất - xã hội nội tại nhất định có sức sống mạnh mẽ và mang tính tích cực bền vững, để có thể tham gia được vào quá trình kết hợp tổng hợp hình thành nên kết cấu kinh tế - xã hội mới của xã hội thứ ba. Theo sự khảo sát, phân tích lịch sử của Mác - Ănghen, thì phát triển vượt cấp đã từng diễn ra với một số trường hợp. Chẳng hạn xã hội công xã nguyên thuỷ của người Giéc - manh và xã hội chiếm hữu nô lệ của người người La Mã thời kỳ cuối cổ đại chuyển sang đầu trung đại. Lúc đó người Giéc - manh có trình độ phát triển thấp hơn, nhưng lại chinh phục được đế quốc La Mã phát triển cao hơn. Kết quả là các xã hội này đã thống nhất, hợp nhất với nhau và cùng đi lên xã hội phong kiến. Ở đây, phương thức sản xuất mới hình thành chính là kết quả của việc kế thừa, kết hợp, tổng hợp, cải biến hai yếu tố chính: lực lượng sản xuất của người La Mã và tổ chức quân sự của người Giéc - manh. Hoặc ngay trong thời hiện đại, có liên quan đến chủ đề này là nước Nga phong kiến chuyên chế nửa cuối thế kỷ XIX. Trong cuộc đời và hoạt động của mình, Mác - Ăngghen đã sớm quan tâm đến nước Nga. Đây là một cường quốc Âu - Á có kiến trúc thượng tầng phong kiến chuyên chế và cơ sở hạ tầng tư bản chủ nghĩa phát triển không cao, được hai ông đề cập riêng đến khá nhiều trong khoảng vài ba thập niên cuối đời. Mác - Ăngghen không chỉ chú ý đến tình thế cách mạng đang ngày càng gay gắt tại Nga nói chung, mà còn nhìn thấy ở nước này những khả năng nhất định cho sự phát triển bỏ qua xã hội tư bản vượt cấp lên xã hội cộng sản. Theo Mác – Ăngghen, từ những tiền đề cơ bản như: ở đây có kết cấu công xã nông thôn tồn tại khắp cả nước, cộng thêm vị thế độc lập thuận lợi của một nước lớn trong cục diện quốc tế đương thời, đặt trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở châu Âu, thì nước này có thể thực hiện bước chuyển vượt cấp lên xã hội cộng sản, bỏ qua “khe sâu Cáp-đi-a” là những nỗi tai ương, đau khổ của chủ nghĩa tư bản. Trên cơ sở các tài liệu cụ thể, sinh động đó, hai ông cũng củng cố, khẳng định và khái quát vững chắc thêm nội dung lô gíc lý luận chung trong tư tưởng về phát triển vượt cấp vốn sớm hình thành từ thời kỳ mới viết “những tác phẩm đầu tay” cho đến Tuyên ngôn. Trong giai đoạn từ Tuyên ngôn trở đi, với thực tiễn của chủ nghĩa tư bản nửa cuối thế kỷ XIX, trong đó có tình hình nước Nga phong kiến chuyên chế đã bước vào con đường tư bản hóa từ năm 1861, hai ông lại tiếp tục tiến hành việc nghiên cứu khoa học chuyên biệt về vấn đề phát triển vượt cấp với sự vận dụng phương pháp biện chứng “cụ thể - trừu tượng - cụ thể”. Theo đó, Mác - Ăngghen đã bổ sung thêm vào các tài liệu lịch sử cụ thể đã có từ thời cổ - trung đại và cận đại về phát triển vượt cấp bằng những tài liệu mới của nước Nga đương thời. Qua đấy “cái cụ thể trong hiện thực” về hiện tượng lịch sử đặc biệt này được làm phong phú thêm, đồng thời “cái trừu tượng” (lô gíc lý luận chung về hiện tượng đó) cũng được củng cố, khẳng định thêm. Cuối cùng quá trình nhận thức đạt đến “cái cụ thể trong tư duy” vừa khái quát hơn vừa sinh động hơn. “Cái cụ thể trong tư duy” này chính là tiền đề nhận thức, lý luận dẫn đến tư tưởng về sự phát triển vượt cấp trong thời hiện đại với nội dung bỏ qua xã hội tư bản quá độ lên xã hội cộng sản như một khả năng mới mẻ có tính hiện thực trực tiếp cao. Khả năng này có thể còn không phải là ngoại lệ cá biệt, xét trong bối cảnh mới của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX đã công nghiệp hóa và quốc tế hóa mạnh mẽ, bắt đầu vượt ra khỏi phạm vi Tây Âu để vươn sang địa bàn Đông Âu, châu Á, Bắc Mỹ và toàn thế giới. Như vậy, tư tưởng của Mác - Ăngghen trong Tuyên ngôn và từ Tuyên ngôn về hình thái kinh tế - xã hội, gồm cả nội dung đặc sắc về phát triển vượt cấp, đã bao quát toàn diện hiện thực xã hội tư bản kể từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi ở cả vùng trung tâm vốn vẫn tiến triển tuần tự theo “khuôn mẫu” điển hình lẫn vùng ngoại vi diễn biến “bất thường” theo mô hình phát triển vượt cấp. Những tư tưởng cách mạng khoa học thiên tài ấy của các ông đã dự báo, dự kiến chính xác cả hai tuyến vận động chuyển hoá phổ biến và đặc thù diễn ra đồng thời, thống nhất biện chứng với nhau trong sự vận động, phát triển chung của hệ thống tư bản thế giới từ khi bước vào thời hiện đại. Đó là quá trình chuyển biến lên xã hội cộng sản từ các xã hội tư bản phát triển cao, điển hình; và quá trình chuyển biến lên xã hội cộng sản từ các xã hội tư bản phát triển không cao, không điển hình, kể cả các xã hội tiền tư bản như sẽ diễn ra về sau trong thế kỷ XX.[4] Tuyên ngôn và thời đại ngày nay Vấn đề hình thái kinh tế - xã hội trong Tuyên ngôn với những nội dung phong phú toàn diện hoàn chỉnh như đã nêu, trong đó đặc biệt là tư tưởng của Mác – Ăngghen về phát triển vượt cấp, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng. Về mặt khoa học, tư tưởng này trước hết làm cho nội hàm khái niệm hình thái kinh tế - xã hội thêm đầy đủ sinh động và bản thân nó trở thành một khái niệm mang tính biện chứng khoa học sâu sắc. Đồng thời tư tưởng đó mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ độc đáo và thiết thực cho cả lý luận lẫn sự vận dụng lý luận duy vật lịch sử. Về mặt thực tiễn, sự vận động của lịch sử toàn thế giới 160 năm qua trên những nét cơ bản đã làm sáng tỏ và minh chứng hùng hồn giá trị vượt thời đại của Tuyên ngôn nói chung, tư tưởng về hình thái kinh tế - xã hội trong đó nói riêng. Chỉ vài thập niên sau khi Tuyên ngôn ra đời, Công xã Pa-ri bùng nổ và đứng vững hơn 70 ngày. Sự kiện này chứng tỏ rằng mâu thuẫn cơ bản nội tại trong xã hội tư bản là hết sức gay gắt, rằng chế độ này không phải là “hoàn hảo”, “vạn năng”, “vĩnh cửu”. Trái lại, kể từ đó một vết rạn nứt sâu sắc không gì xoá nhoà được của hệ thống tư bản đã hiển hiện rõ ràng trước mắt mọi người. Tròn 70 năm sau thời điểm Mác – Ăngghen khởi thảo Tuyên ngôn, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917 đã giành thắng lợi tại nước Nga, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của Liên Xô và sau đó là của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ cuối những năm 40 thế kỷ XX kéo theo thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trong suốt 3/4 thế kỷ XX, đã xác nhận rực rỡ giá trị khoa học vạch thời đại của Tuyên ngôn và của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Thực tế này cho thấy tính đúng đắn của những tư tưởng của Mác - Ăngghen về mâu thuẫn nội tại và sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; về sự chuyển biến, ra đời và thắng lợi tất yếu của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản, cũng như của bản thân xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đặc biệt, nếu chú ý tới tình hình là tất cả các nước trên đều đi lên chủ nghĩa xã hội từ xuất phát điểm là các xã hội tư bản phát triển không cao, không điển hình, kể cả tiền tư bản, thì đó cũng chính là lời khẳng định mạnh mẽ đầy thuyết phục cho tính hiện thực khả thi trực tiếp của sự phát triển vượt cấp lên xã hội cộng sản trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới ngày nay. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cuối thế kỷ XX là thuộc về nhân tố chủ quan. Đó là tình trạng các đảng cộng sản và công nhân cầm quyền tại đây chậm đổi mới mô hình chủ nghĩa xã hội, mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong việc tiến hành cải tổ. Nhưng chính bởi vậy mà sự kiện này lại không hề bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, lý tưởng cộng sản. Trái lại chúng chỉ chứng minh cho sự đúng đắn của tư tưởng mác xít về tính phức tạp, khó khăn lâu dài của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản nói chung, sự phát triển vượt cấp bỏ qua xã hội tư bản quá độ lên xã hội cộng sản nói riêng. Thực tiễn của Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác hiện nay vẫn đang vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới và cải cách, mở rộng giao lưu hội nhập và hợp tác quốc tế chính là bằng chứng sinh động, vững chắc khẳng định cho tính chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Mác - Ăngghen về hình thái kinh tế - xã hội và về phát triển vượt cấp. Tại Đại hội X vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “giá trị định hướng và chỉ đạo có ý nghĩa to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)”1. Đường lối, quan điểm của Đảng ta coi cách mạng Việt Nam đang ở “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” mà chưa phải đã ở trong chủ nghĩa xã hội “phát triển” hay ở “giai đoạn đầu” của chủ nghĩa xã hội, là xuất phát từ chính tình hình thực tiễn đất nước ta. Đường lối, quan điểm đó cũng là duy nhất đúng đắn và phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng hồ Chí Minh, với tư tưởng của Mác - Ăngghen trong Tuyên ngôn về hình thái kinh tế - xã hội và về phát triển vượt cấp. Sự thắng thế và lan rộng của phong trào cánh tả ở Mỹ la-tinh, nơi từ hàng trăm năm nay vốn là sân sau của chủ nghĩa tư bản Bắc Mỹ, với những tuyên bố công khai mạnh mẽ về con đường xã hội chủ nghĩa trong khoảng 10 năm trở lại đây, đã thể hiện rõ rệt xu hướng phản kháng quyết liệt chống chủ nghĩa đế quốc áp đặt cường quyền, chống chủ nghĩa tư bản tự do mới ở vùng trung tâm, phương Bắc và phương Tây. Cho dù đây có thể chưa phải là sự khẳng định thật sự đối với chủ nghĩa xã hội, thì nó cũng đã là sự phản ánh và phê phán những hạn chế, bế tắc, kém thuyết phục của chủ nghĩa tư bản xét trên quy mô hệ thống toàn thế giới của hình thái xã hội đó. Còn chính ở địa bàn quê hương của chủ nghĩa tư bản, nơi mà nó vẫn duy trì tiến trình, nhịp độ chuyển biến tuần tự tiệm tiến theo “chuẩn mẫu” điển hình hoá thì tình hình ra sao? Tại đây, thực tế là các nước tư bản hàng đầu Tây Âu, Bắc Mỹ vẫn tiếp tục phát triển lên những tầng cấp, mức độ đáng kể mới về kinh tế, sản xuất, khoa học - công nghệ, năng suất lao động, tổng sản phẩm quốc dân, thu nhập bình quân đầu người… Tuy nhiên, đó thật ra chỉ là sự tăng trưởng về lượng hơn là sự phát triển theo nghĩa một sự tiến bộ về chất. Bản chất của các quan hệ kinh tế - xã hội cơ bản mà giai cấp tư sản thống trị ở những nước này ra sức quyết liệt củng cố, duy trì vẫn hoàn toàn không thay đổi. Sự xuất hiện của những nhân tố mới mẻ, mà về mặt nào đó có thể coi là mang “tính chất xã hội chủ nghĩa” (chẳng hạn như chế độ cổ phần hoá cho đông đảo người lao động), không hề nằm trong chủ trương thúc đẩy, khuyến khích của chính thể tư sản. Cùng lắm thì các nhân tố đó cũng chỉ được một hay một số cá nhân nhà tư bản áp dụng, thực thi. Một số hiện tượng nổi trội trong thế giới tư bản từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây, như cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hoá, tuy có mặt gắn với sự tiến bộ của toàn thế giới, toàn nhân loại, nhưng về nhiều mặt khác lại bộc lộ rõ rằng, chúng chính là những cứu cánh cho chế độ tư bản, quan hệ sản xuất tư bản, hơn là những thành quả đạt được từ hiệu năng tự thân nội tại của chế độ và quan hệ sản xuất đó. Rõ ràng, ngay trong một thế giới “hậu chiến tranh lạnh” bước vào thế kỷ XXI hiện nay, khi không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa như trong “cục diện lưỡng cực” cũ, thì Tuyên ngôn vẫn sống, những tư tưởng về hình thái kinh tế - xã hội và phát triển vượt cấp gắn với tác phẩm này vẫn sống. Thế giới đã bước vào một thời kỳ mới, một thời cuộc mới. Nhưng thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 vẫn đang tiếp diễn và không thể đảo ngược được. Tiến trình quá độ vượt cấp lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam cũng vẫn đang tiếp diễn và không thể đảo ngược được. Tuyên ngôn bất hủ với những tư tưởng thiên tài vạch thời đại của Mác – Ăngghen vĩ đại vẫn đang soi sáng, thúc đẩy tiến trình cách mạng vô sản thế giới và con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam./. *PGS.TS., Phó Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam **TS., Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền [1] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, trang 596-597, 603. [2] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, trang 177. [3] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, trang 359-360. Luận điểm này của Mác về sau, vào khoảng đầu những năm 20 thế kỷ XX, đã được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đề cập đến trong quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. [4] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen Tuyển tập, gồm sáu tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, trang 273, 354 – 357; tập II, năm 1981, trang 611; C.Mác – Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi, 1994, trang 172, 360, 432-434, 572-603. Xem thêm: Vấn đề “phát triển vượt cấp” trong lý luận tiến bộ xã hội mác xít. Tạp chí Cộng sản, số 8-4/1997, trang 29-32, 46. 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 20.
Khu resort mới của xếp cần mua xe điện sân golf chở khách du lịch. Ai biết chỉ giùm với nha!

Phùng Bá Tỏa

Có cái clip nè, vào xem thử coi dc ko nha. Xe điện chở khách
Toi muon hoi gia ve may bay 1chieu hang Thai airways tu viet nam sang san bay Gothenburg _Thuy Dien la bao nhieu.Va mua o dau la re nhat.Ai biet lam on chi giup toi va cho toi biet thong tin dia chi so dien thoai van phong lam viec cua hang may bay...
(Xem thêm)

nguyen quang phap

0914075971
Em định sang Sing 1 vài ngày tới,muốn mua vài thứ cho máy tính như RAM,VGA...rẻ mà ngon thi mua.:[D] Bà con cô bác nào đã từng mua đồ ở Sing rồi xin cho ít kinh nghiệm với! Thanks nhiều.

hoangtra

Kinh Nghiệm Mua Sắm Khi Đi Du Lich Singapore Mùa khuyến mãi Các cửa hàng và trung tâm mua sắm ở Singapore đều có chương trình giảm giá hàng tuần nhưng 2 mùa khuyến mãi lớn và rầm rộ nhất trong năm (Mega sales) là vào tháng 6- 7 hoặc mùa Giáng sinh. Nếu bạn muốn hưởng nhiều khuyến mãi nhất thì nên đến Singapore vào thời gian này. Phương tiện đi lại Bạn nên đặt sớm vé máy bay của các hãng hàng không như Tigerairways, Airasia, Vietnam airlines. Nếu mua vé đúng đợt có chương trình khuyến mãi thì giá sẽ rất rẻ. Đến Singapore, bạn có thể sử dụng tàu điện ngầm để đi đến mọi khu mua sắm hoặc đi theo nhóm đông người thì sử dụng taxi cũng rất tiện lợi và rẻ. Cập nhật thông tin mua sắm Trước khi đến Singapore, bạn hãy tìm hiểu và lựa chọn những trung tâm mua sắm cũng như tìm các chương trình khuyến mãi thường xuyên cập nhật tại một số website. Bạn có thể tìm kiếm thông tin khuyến mãi mới được đăng trên các tờ báo địa phương. Hãy nhận những bản đồ, tờ rơi giới thiệu trung tâm mua sắm, chương trình khuyến mãi... luôn sẵn có tại sân bay hay các trung tâm thông tin trong thành phố. Những chiêu thức giảm giá, khuyến mãi Tại các trung tâm mua sắm lớn hay cửa hàng của nhà phân phối chính thức đều có chương trình giảm giá 60 – 70% một số sản phẩm, kể cả hàng hiệu như: Mango, Giordano, Bosini, Lancôme, Clinique, Charles & Keith… Nơi khác có thể giảm giá theo cách mua 2 sản phẩm thì được mua sản phẩm thứ 3 giá rẻ, giảm 30 – 70%, hay chỉ bằng 1/3 giá chiếc thứ nhất, mua chiếc thứ 4, thứ 5 còn được giảm nhiều hơn nữa. Siêu thị hay trung tâm bán đồ dùng gia đình, nhà bếp có thể tổ chức ngày bán hàng đồng giá chỉ vài đô la Sing, áp dụng cho tất cả các mặt hàng hoặc mua hàng theo giá trị qui định sẽ được tặng phiếu mua hàng, phiếu giảm giá (voucher) hấp dẫn… Địa điểm nên đến Orchard Road: con đường mua sắm lớn nhất Singapore có rất nhiều cao ốc và trung tâm mua sắm hội tụ đầy đủ các mặt hàng thời trang, mỹ phẩm, hàng điện tử, giày dép, đồ nội thất… Riêng thứ 7, các trung tâm mua sắm và cửa hàng ở đường Orchard thường mở cửa đến 11 giờ đêm. Khu Ả Rập: với những đồ trang trí, hương liệu… theo phong cách “Nghìn lẻ một đêm”. Khu mua sắm này hoạt động 24/24 giờ. Khu Tiểu Ấn bán hàng thêu, đá quý, túi xách, dầu và nước hoa tự nhiên và đa dạng hàng thủ công mỹ nghệ Ấn Độ. Chinatown với nhiều món đồ cổ, vải vóc, thủ công mỹ nghệ, quần áo, giày dép… Các khu Singapura plaza, VivoCity, Wisma, Sim Lim Square, Raffle, Lucky plaza, Funan… Một số khu như Bugis, Jurong East, các cửa hàng nhỏ ven đường… là những nơi bạn có thể thoải mái trả giá. Cẩn thận khi mua hàng Theo kinh nghiệm của anh P.Q.B, hướng dẫn viên tour Singapore của một công ty du lịch tại TP.HCM, khi mua hàng tại những cửa hàng lẻ, đặc biệt ở nơi có trả giá bạn nên hỏi kỹ về sản phẩm, giá niêm yết bao gồm những phụ kiện gì để tránh bị mua “hớ”. Rất có thể người bán hàng không trung thực sau khi đồng ý giá bạn đã mặc cả sẽ chỉ đưa cho bạn duy nhất sản phẩm mà không kèm theo phụ kiện nào với lý do “anh/chị chỉ trả giá cho sản phẩm chứ không hỏi về phụ kiện”. Ngoài ra, một số du khách từng mua sắm ở Singapore phản ảnh một số nơi bán hàng điện tử đã “mông má” lại, chẳng hạn điện thoại cũ thay lớp vỏ của Trung Quốc để bán giá mới…Cần lưu ý những nơi bán hàng Trung Quốc nhái hàng hiệu và hàng giá rẻ nhưng chất lượng kém. Vì vậy, khi mua bất kỳ món hàng nào, bạn nên kiểm tra kỹ sản phẩm, đọc nhãn mác, so sánh với sản phẩm tương đương trong nước. Với hàng điện tử, gia dụng cần có những kiến thức để nhận biết nguồn gốc và chất lượng sản phẩm (đọc số seri, nhãn mác), và nên thử sản phẩm trước khi mua. Lưu ý khác Muốn đổi tiền, bạn hãy đến nơi có trưng bảng hiệu “Licensed Money Changer” (Quầy đổi tiền hợp pháp). Một số nơi có chính sách hoàn thuế cho người mua với giá trị 100 đô la Sing trở lên, giá trị hoàn thuế từ 4 – 5 % tùy theo mặt hàng. Thuế có thể hoàn lại tại sân bay hay một số trung tâm trong thành phố. Khi mua sắm hãy nhớ yêu cầu người bán hàng cấp phiếu hoàn thuế cho bạn. Hãy kiểm tra xem phiếu bảo hành cho món hàng bạn mua, phạm vi áp dụng chỉ tại Singapore hay trên toàn thế giới. Một số mặt hàng giá rẻ có thể không được bảo hành. Du Lich Malaysia , Du Lich Han Quoc , Du Lich Trung Quoc
Hiện nay thế giới đang phải đối phó với rác thải điện tử như sau : http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2013/01/dai-vang-tu-rac-thai-dien-tu/ Vậy tại sao người ta không phát minh ra máy ghi hình quá khứ ( http://vietbao.vn/The-gioi/Nguoi...
(Xem thêm)
Suzuki Thailand mới ra xe Hayate 125 DCP-FI cách đây vài tháng và xe này đang trong tình trạng cháy hàng, cung không đủ cầu ở ngay tại Thailand, không rõ bao giờ thì có ở VN nhỉ? Xem topic bên Thái họ thảo luận ở đây thì biết là xe này rất...
(Xem thêm)

đinh hạnh

hôm nay (12/7/2011) mình mới đi hỏi ở hãng thì người ta kêu tháng 9 sẽ có. không biết có chém không nữa đây.
xin các bác cho biết cách phân biệt điều hòa Malayxia xuất sang Việt và xuất Thái

Tôi yêu VN

Đơn giản nhất là phân biệt mã hàng.ví dụ có sự khác biệt hàng nhập khẩu nguyên chiếc vào thị trường Việt Nam năm 2008 thì có mã là KC-9HKH;KC-12HKH.... Còn hàng xuất sang thị trường Thái Lan thì có mã hàng là PC-9HKT;PC-12HKT..... Hơn nữa hàng xuất Thái luôn có tem tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu tại Thái Lan,như tem 7 màu của nhà nhập khẩu tại Việt Nam như Thiên Thuận Tường chẳng hạn. Riêng loại máy công suất 12.000 BTU thì cục nóng xuất sang Thái Lan to hơn cục nóng loại 12.000 BTU xuất sang Việt Nam.(to bằng cục nóng 18.000 1 chiều). Hàng theo tiêu chuẩn của thị trường Thái chắc chắn là được kiểm nghiệm tốt hơn khi xuất khẩu sang Việt Nam rồi.Tuy nhiên sử dụng Panasonic của Malaysia thì cũng có thể gọi là sài sang bậc nhất rồi.Hàng của Thái đa số các sếp nhiều xiền dùng thôi.Vì mẫu mã giữa 2 loại vẫn thế ,có loại 12.000 BTU thì có sự khác biệt lớn là cục nóng xuất Thái to hơn cục nóng xuất Việt.
Tôi Mua tủ lạnh nhập khẩu của thái lan model: B231M 230Lít tại Siêu thị điện máy sài gòn nhưng tủ lạnh này đã chạy không ổn định hay bị ngắt nguồn lạnh nhưng làm cho thức ăn bên trong ngăn lạnh và ngăn đông bị rã đá, mặc dù tôi đã thử test nhiệt độ...
(Xem thêm)

ngoc quynh

mình nhớ ko nhầm thì model và dung tich 230l trở xuống thì ko phải hang nhập thái và nó ko có khay đá xoay.mình nhớ rõ như vậy là nhờ hồi mình mua tủ pấno nic mình cũng để ý tủ giong cua bạn nhưng chưc năng ko hay bằng tủ hiện giờ của mình nên đã ko mua tủ đó.

ha anh tuyen

http://i604.photobucket.com/albums/tt125/snack466464/Image296-1.jpg hiện nay mình có 30 cuốn sách từ điển thái việt của tác giả Nguyễn Chí Thông ai cần,xin liên hệ snack_cua_ngon_ngon@yahoo.com số đt ở thái 0832909090 tên thanh http://s604.photobucket.com/albums/tt125/snack466464/ cám ơn các bạn đã xem tin !
Sản phẩm nổi bật

Thành viên tích cực

1

Linh Hong

3 lượt cảm ơn
2

Dang Anhs

1 lượt cảm ơn
3

Nguyen Van Cuong

1 lượt cảm ơn
4

Nguyê n Thi Nga

1 lượt cảm ơn
5

Hương Trịnh

1 lượt cảm ơn