Thắm Thủy

Làm giúp e bài này với " viết một bài văn nghị luận xã hội bày tỏ ý kiến về nét đẹp học đường "
Lập dàn ý chi tiết, viết đoạn mở, kết, chọn 1 luận điểm phụ hoặc luận cứ để viết : " Tự hào thế hệ trẻ Việt Nam "

Pham Minh

Văn nghị luận luôn làm khó mình thời đi học cấp 3.
Các bạn giúp mình về vấn đề này nhé! Hoặc đưa tài liệu về vấn đề này cho mình tham khảo với. Xin chân thành cám ơn!

Quang Thái Trịnh

Đặt câu hỏi về vấn đề liên qan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, chủ yếu về hàng rong. Chỉ là câu hỏi để phỏng vấn các sinh viên thích ăn ở hàng rong<br>Giúp mình với !!!<br>Xin cảm ơn !!!
Ảnh minh hoạ: Media Purge Thời gian vừa qua, trên Facebook , đã có nhiều cuộc tranh luận về chuyện nhà anh Nghị. Và khi mọi thứ dường như đã đi đến đỉnh điểm, mình cũng muốn viết một bài để bày tỏ một số suy nghĩ liên quan đến dư luận...
(Xem thêm)
Hảy viết một bài văn nghị luận để nêu rỏ tác hại của một trong các tệ nạn xả hội mà chúng ta cần phài kiên quyết và nhanh chóng bài trừ như cờ bạc, tiêm chích ma túy, hoặc tiếp xúc với văn hóa phẩm ko lành mạnh.
(Xem thêm)

Min Zu

Cũng hay
Văn nghị luận, giúp em với!Anh (chị) có suy nghĩ gì về hiện tượng học sinh vẫn còn gian lận trong các kỳ thi ?

ai có bài viết nghị luận hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp chỉ em với
Dựa vào tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyẻn Dữ, em hãy hãy viết một đoạn văn nghị luận có câu chủ đề: Vũ Nương là một ngơởi phụ nữ đáng thương

Đáng thương thay cho nàng Vũ Nương. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ đã cho người đọc thấy hình ảnh của một người vợ phải sống xa chồng khi bụng mang dạ chửa. Đó có lẽ là một sự khó khăn lớn. Ở bất kỳ thời đại nào, những người phụ nữ luôn cần có người chồng của mình ờ bên cạnh để cùng sẻ chia và gánh vác công việc gia đình. Nhưng ở Vũ Nương, người đọc thấy rõ trên đôi vai nàng là gia đinh, mẹ già va con nhỏ. Nhưng, dường như để phải đặt mình vào vị trí của Vũ Nương mà cảm nhận nỗi đau thì phải nói tới cái tủi khổ mà nàng phải chịu lựng dưới xã hội phong kiến đầy bất công. Trong xã hội đó, người chồng là người nắm quyền, người quyết định tất thảy mọi việc, nơi chế độ đa thê tồn tại. Dưới chế độ phong kiến ấy, người đọc thực sự cảm thấy xót xa cho Vũ Nương khi nàng cất tiếng than bên bến Hoàng Giang: "Thiếp nay trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ". Nếu như lời than làm cho mọi người thương xót thì cái chết đã chứng minh tấm lòng trinh bạch cùa Vũ Nương. Qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương,Nguyễn Dữ đã thực sự để lại trong người đọc sự thương cảm sâu sắc đối với thân phận người phụ nữ dưới chê độ phong kiến.
các bạn giống mình với .làm hô mình bài này đi mình suy nghĩ mãi mà không ra .tuần sau mình nộp bài mất rồi

Sống đẹp...
Nêu cảm nhận của em về đoạn trích" chiếc lược ngà" của NQS. nghị luận về tác phẫm truyện.

Võ Hoài Thương

- thiếu mất đoạn kết rồi :3 :3

Cà Phê Sữa Chua

Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm Nhà thơ nhà văn Nguyễn Khoa Điềm không có nhiều tác phẩm nhưng những tập thơ của ông luôn được độc giả đón nhận và yêu thích.Trong đó không thể không nhắc đến trường ca “Mặt đường khát vọng” vô cùng nổi tiếng mà ta thường biết đến thông qua bài thơ “Đất Nước”.Bài thơ này được trích từ chương V của trường ca.Đây đuợc xem là chương hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ, mỗi khổ ứng với một luận điểm,nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư tưởng: “Đất nước này là Đất Nước Nhân dân”.Chính luồng tư tưởng này đã thôi thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia chiến đấu giành độc lập cho nước nhà.Không những thế, nó đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta.Bên cạnh đó, Nguyễn Khoa Điềm trình bày rất nghệ thuật nhiều cảm nhận, lý giải mới về đất nước. Từ đó, ta hiểu thêm tính chính luận - trữ tình của thơ ông nói riêng và thơ chống Mỹ nói chung. Câu thơ đầu của đoạn rất đỗi nhẹ nhàng,bình dị nhưng lại vô cùng hàm súc: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..”mẹ thường hay kể” .Bốn từ “ngày xửa ngaỳ xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta.Nó xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích bà kể,trong những lời ru tha thiết của mẹ mỗi khi đêm về.Từ lâu nó đã như là một yếu tố không thể thiếu dể tạo nên không gian riêng của nàng Tấm,Hoàng Tử,của Mai An Tiêm…Nay,nó đã đi vào văn chương Việt Nam tạo nên một định nghĩa rất bất ngờ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.Trong Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt,đất nước hiện ra thông qua hình ảnh “Vua chúa” và “sách trời”: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư” (Nam Quốc Sơn Hà) Hay như trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu: “Một mối xa thư đồ sộ,há để ai chém rắn đuổi hươu;hai vầng nhật nguyệt chói loà đâu dung lũ treo dê bán chó” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) Những từ như “ mối xa thư đồ sộ” hay “ hai vầng nhật nguyệt chói loà” đã trang trọng hoá đất nước.Nó thể hiện sự kì vĩ và cao cả nhưng cũng tạo một khoảng cách thiêng liêng của con người đối với Đất Nước.Nhưng với Nhuyễn Khoa Điềm thì lại khác.Nhà thơ đã xoá bỏ khoảng cách đó.Đất nước đã hoá thân vào những câu chuyện cổ tích hay những câu ca dao rất đỗi quen thuộc và hiện ra thật bình dị và gần gũi. “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa.Và Đất Nước cứ lớn dần lên cùng các truyền thống như trồng tre,trồng lúa,đánh đuổi giặc ngoại xâm. “Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” Tác giả đã dành một lời ngợi ca ,một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng khi nói đến “cha mẹ”.Sự thuỷ chung son sắt trải bao gian khó nhọc nhằn được ông đề cao.Vì cuộc sống bấp bênh,đủ mọi khó khăn vất vả ,chỉ có “gừng cay” và “muối mặn” chứ ít khi ngọt ngào.Tuy nhiên “cha mẹ” vẫn dành cho nhau sự yêu thương là một điều rất đáng quý.Ở câu thơ này,thay vì dùng chữ “yêu” tác giả lại chọn từ “thương” để đưa vào.Bởi vì ông muốn thơ của mình giản dị và gần với văn học bình dân hơn,gần với nhân dân hơn.Cũng như tác giả mượn hình ảnh “gừng cay muối mặn” từ câu ca dao: “Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” để thể hịên tình cảm vợ chồng. Rồi đến khi “Cái kèo cái cột thành tên” thì dân tộc ta đã bước sang một sự phát triển mới.Ngành nông nghiệp lúa nước ra đời giúp cho cuộc sống nhân dân bớt cơ cực mặc dù cũng phải “một nắng hai sương” theo từng hạt gạo. Câu cuối của khổ thơ này,tác giả đúc kết và khẳng định lại một lần nữa về sự ra đời cùa Đất Nước: “Đất Nước có từ ngày đó…” Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác và sử dựng triệt để vốn văn hoá dân gian sẵn có,sáng tạo lại khiến cho người đọc cảm thấy rất gần gũi và bất ngờ.Trong suốt quá trình phát triển của Đất Nước,ta dều thấy bóng dáng của những con người. Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau. Một không gian khác được tác giả mở ra vô cùng khéo léo khi ông tách đôi 2 âm tiết “Đất Nước”. “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao đảo ngược. Nếu thay đổi dưới dạng : Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm, cảm hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một câu văn xuôi rất đỗi bình thường. Văn hoá dân gian là của nhân dân.Để khẳng định tư tưởng của mình tác giả đã vận dụng chất liệu dân gian vào trong văn thơ của mình.”Đất nước là của nhân dân” nên việc đưa chất trữ tình của dân gian tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng hình tượng đất nước,qua đó ta thấy được sự sáng tạo cũng như độc đáo trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm.Câu thơ :” Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là một ví dụ.Hẳn ta chưa quên câu ca dao rất đỗi ngọt ngào: “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt…” Vận dụng ý từ câu ca dao trên,tác giả đã viết nên dòng thơ đậm chất dân gian nhưng không kém phần độc đáo,tạo nên một phong cách rất riêng của nhà thơ. Hai câu thơ tiếp theo hình tượng Đất Nước được biến hoá vô cùng sinh động : “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Con chim phượng hoàng và cá ngư ông là hai con vật linh thiêng được nhân dân ta thờ phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi.Giữa người và thần dường như không hề có sự ngăn cách,tất cả như hoà vào nhau bình đẳng.Một lần nữa , nhà thơ đã đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất Nước của nhân dân.Và chính tư tưởng đó đã giúp tác giả khám phá Đất Nước trên những khía cạnh khác nhau.Mở đầu là “Thời gian đằng đẵng”.Xuôi theo dòng lịch sử,Nguyễn Khoa Điềm ghi lại những truyền thuyết,phong tục dân gian vốn rất quen thuộc với chúng ta. “Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hàng năm ăn đâu ở đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Song song với quá trình tách - hợp, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” - “em” thành “ta” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân - Âu Cơ. Qua các câu thơ, tác giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hình thành, “lớn lên” như những mối tình thân thiết, yêu thương.Dây là quãng thời gian thấm đẫm cội nguồn,thể hiện ước muốn ngược dòng thời gian trở về cội nguồn,lịch sử hình thành Đất Nước.Nó khoác lên “Đất Nước” một vẻ đẹp lạ lùng,lấp lánh chất huyền thoại.Đất Nước không đơn thuần chỉ là núi song.Đó là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ yêu nhau,đó là nơi dân mình được sinh ra và đoàn tụ. Từ đó, đất nước thành không gian của mọi người,của cộng đồng. Bên cạnh đó,tác giả còn đánh thức tình cảm tổ tiên tình yêu quê hương đất nước.Thấm thía nhất là hai câu thơ: “Hàng năm ăn đâu ở đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Mùng 10 tháng 3 hàng năm , người Việt ta có phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương để tôn vinh những ông vua có công dựng nước.Nhà thơ sử dụng 2 chữ “cúi đầu” với vẻ tôn kính và ngưỡng mộ.Nó như một bàn tay khẽ chạm vào tiềm thức của mỗi người con yêu nước,dù ở phương nào cũng phải biết thờ phụng ông bà tổ tiên mình.Nguyễn Khoa Điềm đã rất ý nhị trong việc khơi gợi lòng yêu Đất Nước trong mỗi con người. Qua khổ thơ thứ hai, đất nước được cảm nhận như sự thống nhất hài hòa giữa cái hàng ngày và vĩnh hằng, trong mỗi cá nhân và toàn dân tộc, trong quá khứ, hôm nay và mai sau. Từ suy ngẫm trên, Nguyễn Khoa Điềm kết luận: “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng” Trong mỗi chúng ta đều có bóng hình của Đất Nước , gắn bó rất chặt chẽ.Thế nên chúng ta phải biết giữ gìn và bảo vệ nó.Đất Nước trọn vẹn khi dân mình biết chở che cho nhau,đoàn kết lại.Lúc ấy Đất Nước sẽ vô cùng mạnh mẽ,bất khuất.Nhà thơ mong muốn thế hệ sau này cũng sẽ yêu quý Đất Nước ,phát triển nó như những gì thế hệ trước đã và đang làm.Kết lại khổ thơ,tác giả nhắn nhủ đến mọi người: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và chia sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…” Đó không chỉ là mong muốn của riêng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà đó còn là những gì tổ tiên ,ông bà trông đợi nơi ta,những người con của thế hệ sau sẽ cố gắng thực hiện.Từ “phải” như là một mệnh lệnh.Nhưng đó là mệnh lệnh của trái tim,của ý thức trong mỗi chúng ta. Ở khổ thơ thứ 3,tư tưởng “đất nước nhân dân” còn được thể hiện qua cách cảm nhận sâu sắc, độc đáo về phương diện địa lý. “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước nhựng núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên những hòn Trống mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao hồ để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học tró nghèo góp cho Đất Nước núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình,một ao ước,một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…” Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái rồi Hạ Long... chỉ thành thắng cảnh khi gắn liền với đời sống văn hóa dân tộc, được cảm thụ qua tâm hồn quần chúng và lịch sử đất nước. Theo lối quy nạp, từ những dẫn chứng cụ thể, nhà thơ đi đến nhận xét tổng quát: “Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…” Trong không gian địa lý, trên khắp ruộng đồng gò bãi, Nguyễn Khoa Điềm đều thấy dấu tích nhân dân để lại... Chính diều này đã thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân và đất nước. Bốn nghìn năm đối với Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là thời gian.Với con mắt sắc sảo của mình,nhà thơ còn nhìn thấy những điều tưởng chừng như rất bình dị nhưng lại vô cùng quan trọng. “Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái,con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh va em đều nhớ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái ,con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” Nếu ở khổ 2 và 3 là cái nhìn gần, thời hiện tại thì ở đây là cái nhìn xa, nhìn về quá khứ , theo dòng thời gian trở về buổi đầu dựng nước.Trong “Bình Ngô Đại Cáo”,Nguyễn Trãi đã tổng kết lịch sử bằng các triều đại: “Từ Triệu,Đinh,Lý,Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán,Đường,Tống,Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương” Nhưng Nguyễn Khoa Điềm không làm như vậy. Ông nhấn mạnh vai trò của những người trẻ tuổi vô danh.Những người đã giữ gìn, truyền lại cho con cháu mọi giá trị tinh thần, vật chất. Không chỉ bảo vệ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã tên làng qua các cuộc đi xa mà họ còn quyết tâm đánh giặc bảo vệ quê hương Đất Nước.Bằng cách này,tác giả đã trả lại Đất Nước cho những người chủ chân chính,những người đã góp bao công sức trong thầm lặng xây dựng nên Đất Nước.Đây là một cách nhìn rất mới trong thơ văn yêu nước,củng cố thêm cho tư tưởng của tác giả. “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ truyền lửa qua mỗi nhà,từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã,tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho ngừơi sau trồng cây hái trái” Đại từ “họ” được lặp đi lặp lại ,đặt ở đầu câu làm nổi bật vai trò của nhân dân,những ai đã làm ra sản phẫm vật chất,tinh thần cua Đất Nước.Hàng loat dộng từ như “ giữ”,”truyền”,”gánh” được tác giả sử dụng để tạo nên hình tượng người dân thật lực lưỡng,khỏe mạnh không hề mệt mỏi trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ Quốc.Nhân dân đã đem cả cuộc đời đóng góp ,phát triển và bảo tồn mọi giá trị vật chất cũng như tinh thần cho con cháu.Vậy nên nói “Đất Nước là của Nhân dân “ chẳng hề sai. Thơ của Nguyễn Khoa Điềm là một thế giới nên thơ,mộc mạc và rất dân dã.Nó lấp lánh những câu ca dao,những câu chuyện cổ tích khi xưa.Cũng chính nhờ điều đó mà ta thấy nhân dân hiện diện xuyên suốt toàn bài thơ.Từ nền văn hoá dân gian ấy,tác giả khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn,tính cách người Việt Nam chung thuỷ,có nghĩa có tình nhưng lại rất cứng rắn trước quân thù. “Dạy anh biết “yêu em từ thưở trong nôi” Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi nagỳ thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò,kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm năm dáng sông xuôi…” Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” đã có quá trình phát triển lâu dài nhưng chỉ đến văn học Việt Nam hiện đại,nhận thức ấy mới đạt tới đỉnh cao,mang một sắc thái mới lạ và thuýêt phục. “Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Hai câu thơ , hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa mới về đất nước. Đỉnh cao của tính chính luận và cảm xúc trữ tình hội tụ trong câu: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Chân lý ấy thể hiện đầy đủ trong ca dao. Bởi vậy, ngoài việc nhấn mạnh qua từ “để”, tác giả còn láy lại điệp khúc “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Đây là kết quả tất yếu của một thời đại nhân dân thực sựlàm chủ đời mình,làm chủ Đất Nước. Qua đoạn thơ, ta thấy sự vận dụng sáng tạo văn học dân gian của Nguyễn Khoa Điềm. Ông ít lặp lại nguyên văn mà thường sử dụng từng ý, từng hình ảnh thơ của người xưa. Giọng chính luận - trữ tình phù hợp với nội dung tác phẩm. Thực ra, tư tưởng đất nước nhân dân đã hình thành từ lâu. Nguyễn Khoa Điềm chỉ nâng cao tầm tư tưởng ấy và diễn đạt nó bằng ngôn từ, giọng điệu mới, độc đáo. Ông tạo được một đoạn thơ hiện đại đậm đà bản sắc dân gian. Bởi vậy, thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa quen vừa lạ và có sức thuyết phục cao. [b]Theo canhdieumouoc's blog[/b]

Nguyen Ha My

Bạn làm theo dàn ý dưới đây nhé! Chúc bạn thành cống Trong một xã hội ngày càng phát triển thì tâm lý con người ta ngày càng phức tạp.Đáng quan tâm là nạn bạo hành diễn ra phổ biến ở nhiều nơi và nạn nhân của nó thì không chừa bất kì độ tuổi nào. Có một câu chuyện nói về tình yêu thương dành cho cha mẹ của con cái: Một làng có tục hễ người nào đã quá già ,không còn đỡ đần được gia đình sẽ được đưa bỏ vào núi .Và núi đó được gọi là" núi người già "... Không biết em có biết câu chuyện này không? Nhưng nhìn vào hành động vứt bỏ cha mẹ của con cái ta có thể thấy nạn bạo hành không phải trong xã hội hiện đại mới có. Bạo hành là thái độ bạo lực đáng phê phán trong xã hội.Có một bộ phim Việt Nam nói về lối cư xử bất hiếu của con cái đối với cha mẹ :3 người con phân công nhau thay phiên nuôi mẹ .Họ thống nhất mỗi tháng phải nuôi mẹ tăng thêm bao nhiêu .Và cứ mỗi tháng ,những người con bỏ thêm đá vào túi áo mẹ để đem bà đi cân... ---<Rõ ràng nạn bạo hành không chỉ diễn ra trong xã hội mà ngay cả cấp độ tế bào của xã hội. Có những nhà trẻ trá hình được xây dựng nên và không may cho nhiều em bé bị gửi vào đấy :bị ăn đòn thường xuyên -->những tổn thương mà các em phải chịu đựng vào lứa tuổi ấy là hết sức nghiêm trọng về lâu dài. Có thể để ý thấy trên báo chí ,các phương tiện truyền thông,...không ngày nào lại không có những "nạn bạo hành " kể trên. (Chồng đánh vợ,mẹ kế hành hạ con riêng,bóc lột sức lao động của trẻ em ,nạn mua bán phụ nữ và trẻ em ,...) Có những em gái tuổi đời chưa qua mười năm mà đã bị bán cho nhà chứa ."Nạn bạo hành " dường như càng ngày càng đe dọa Xh ,đạo đức ,văn hóa con người một cách tinh vi ,xảo quyệt. Cách trá hình của nó cũng vô cùng phong phú ,đa dạng... Phát biểu ý kiến của em về nạn "bạo hành" :VD:làm suy đồi đạo đức Xã hội ,đe dọa cuộc sống ,nhân quyền . Theo pháp luật ,"Nhân quyền "của mỗi con người là "bất khả xâm phạm" -->những kẻ đi trái cần bị trừng trị đích đáng ...vv...
[size_4]Hãy viết bài nghị luận xã hội ngắn( khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh chị về câu :" Khi đã biết tha thứ bạn sẽ mỉm cười nhiều hơn, biết cảm nhận sâu sắc và dẽ cảm thông với người khác".[/size_4] Thanks mí bạn nhìu lám ^^
(Xem thêm)

hao

hước thay người nào có tài kết bạn, vì đó là một trong những quà tặng quý nhất của Thượng đế. Món quà này bao gồm nhiều điều hay, nhưng trên hết là khả năng vượt khỏi chính mình Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự thầm kín. Một ngày cho công việc cực nhọc, một giờ cho thể thao, cả cuộc đời cho bạn bè vẫn còn quá ngắn ngủi Có một định mệnh biến chúng ta thành anh em: Không ai đi đường một mình, tất cả những gì ta gửi vào cuộc đời của người khác sẽ quay trở về cuộc đời của ta Người bạn chân thực luôn luôn là: Khi bạn lầm lỗi, người đó không nghĩ là bạn thường xuyên làm như vậy Người ta thường cô đơn bởi vì người ta thường chỉ lo xây tường chứ không lo xây dựng những nhịp cầu Lòng trung thành là điều tốt đẹp nhất bạn có thể đem trao tặng một người: Sự thật, lòng tin cậy, tình bạn và tình yêu đều tùy thuộc vào điều đó cả. Không người nào có thể tự nhiên trưởng thành trên đời này và có một cuộc sống hoàn hảo mà không có ít nhất một người hiểu mình Cách duy nhất để có bạn bè là chính bản thân mình phải là một người bạn. Anh là kẻ thù ghê gớm của chính anh nếu anh là kẻ hèn nhát; nhưng nếu anh là người dũng cảm, anh lại là người bạn tốt nhất của chính bản thân anh. Nếu anh không thể nói với bạn một cách thẳng thắn, công khai, thậm chí gay gắt nữa, tất cả những gì anh nghĩ về bạn, hành vi của bạn hoặc nếu anh không thể nghe bạn nói một sự thật như thế về bản thân anh thì các anh chưa thật sự tin nhau, chưa hiểu nhau, chưa tôn trọng nhau Khó khăn là một phần của cuộc sống, và nếu bạn không chia sẻ nó, bạn sẽ không mang lạ cho người yêu mến bạn cơ may để yêu bạn nhiều hơn Đừng che giấu tình yêu và sự dịu dàng của mình cho đến khi bạn lìa đời. Hãy làm cuộc đời bạn tràn đầy sự ngọt ngào. Hãy nói những lời nói thân thương khi bạn còn nghe được và khi tim bạn còn rung động.....................
các anh chị giúp em lập dàn ý chi tiết cho bài nghị luận xã hội này nha. hok thì nếu có thể thì anh chị viết hoàn chỉnh dùm em lun nha Thank các anh chị trước nha

Phan Hung Son

MỞ BÀI: Trong suốt dòng lịch sử con người, đã có những người phải vất vả chống lại tính nghiện ngập, nào là nghiện rượu, nghiện ma túy, cũng như những thói quen không thể bỏ được, chẳng hạn như bài bạc. Giờ đây, các nhà tâm lý học ở nhiều quốc gia lại lưu ý đến tình trạng khẩn cấp phải đối phó của một chứng tật ham mê mới, đó là nghiện Internet. THÂN BÀI: Ý 1. THỰC TRẠNG VỀ CĂN BÊNH NGHIỆN INTERNET TRONG GIỚI TRẺ Với nhiều người, Internet là một thứ không thể thiếu; một thói quen không kiểm soát nổi. Riêng tại Mỹ đã có khoảng 15-20 triệu người mắc "bệnh” này. Theo giáo sư Jerald Block của ĐH Khoa học và y tế Oregon, bốn triệu chứng nghiện Internet chính là: quên thời gian, sao lãng ăn uống và ngủ; tức giận, căng thẳng, bồn chồn khi không thể lên mạng; cần trang bị máy tính mạnh hơn, nhiều phần mềm mới; biểu hiện trầm cảm, hay cáu giận và tách biệt với xã hội. Nghiện Internet – một hành vi gây căng thẳng cho cuộc sống của chính nạn nhân và cho cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – là một căn bệnh tâm lý đang lan tràn trên toàn thế giới. Hiện nay, có khoảng 5-10% người Mỹ (tức khoảng 15-20 triệu người) có thể đã bị nghiện Internet, Kimberly Young, giám đốc Trung tâm Cai nghiện Internet của Mỹ, nói. Số người nghiện net có thể lên từ 18-30% ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Coleen Moore, điều phối viên tại Viện Phục hồi Nghiện Illinois, cho biết bà có những khách hàng từ độ tuổi học sinh cho đến độ tuổi trưởng thành, trong đó có những người dành đến 14-18 giờ mỗi ngày trên mạng. Chơi game trực tuyến là một dạng của nghiện Internet và đang lan tràn nhanh chóng trong giới trẻ. Brian Robbins, một thành viên của Hiệp hội các nhà phát triển Game quốc tế, cho biết số người nghiện chơi video game trực tuyến ngày càng tăng. “Có đến 90-95% các trò chơi trên web đều miễn phí”, Robbins nói. Ý 2: HẬU QUÁ CỦA NGHIỆN INTERNET Internet mang theo cùng nó những lợi ích nhưng cả các tác hại. Trong đó có tình trạng vì quá mê mệt Internet mà các con nghiện xao lãng chuyện học hành, thậm chí bỏ học. Họ giảm tiếp xúc với gia đình, bè bạn, sống cô lập trước màn hình máy tính, lặn vào những "chatroom" hay chơi những trò chơi bạo lực. Nói về các con nghiện này, giám đốc bệnh viện Tao Ran, chuyên gia điều trị các loại nghiện thâm niên 20 năm, cho rằng các thiếu niên mắc bệnh này thường là những em có vấn đề về thái độ hành xử, mặc cảm. Họ lên Internet để củng cố sự tự tin. Chính ở trên thế giới mạng, họ có cảm giác chín chắn, thành công. Các con nghiện Internet thường đau khổ vì trầm uất, sợ sệt và không sẵn lòng giao tiếp với người khác. Nhiều em mắc bệnh rối loạn giấc ngủ, tê cóng hai tay. Tuy nhiên, Internet chỉ là chất xúc tác chứ không phải là nguyên nhân gây nghiện. Hầu hết những em gặp trục trặc trong cách hành xử hay thiếu tự tin chỉ bị cơn nghiện Internet làm trầm trọng thêm, mà trong quá khứ, không có Internet, chúng có thể tìm tới tội ác, ma túy, có khi tự tử để đối phó với những vấn đề của mình. 3. GIẢI PHÁP Để xử lý vấn đề này, chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một mạng lưới 140 trung tâm tư vấn về nghiện Internet, cùng với các chương trình điều trị ở gần 100 bệnh viện và gần đây nhất là trại "Giải thoát khỏi Internet" - mới được mở hồi hè năm nay. Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một danh sách để chẩn đoán chứng nghiện Internet và kết luận độ nghiêm trọng của nó, gọi là K-Scale (K là viết tắt của Korea). Rồi tháng 9 vừa rồi, Hàn Quốc cũng tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về chứng nghiện Internet. "Trại giải thoát" ở Hàn Quốc nằm tại một vùng rừng ở phía Nam Seoul, là nơi để điều trị những ca nghiêm trọng nhất. Năm nay, trại đã tổ chức hai kỳ điều trị đầu tiên, mỗi kỳ kéo dài 12 ngày, mỗi lần có 16-18 học viên nam (các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nói rằng đa số những user nghiện net là nam giới). "Trại" này được chính phủ tài trợ hoàn toàn, tức là ai cũng được điều trị miễn phí. Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói rằng "trại" có thể "cai nghiện" được cho những người tham gia không, nhưng họ liên tục nhận được đơn đăng ký. Để đáp ứng nhu cầu, các nhà tổ chức nói rằng năm sau họ sẽ tăng gấp đôi số khoá điều trị. Còn, giải pháp cho bệnh nghiện internet ở Vn, theo bạn? KẾT BÀI: Cũng giống như nghiện rượu hay ma tuý vậy, nghiện Internet mang lại những hậu quả nhất định về tâm lí, thể xác và các mối quan hệ xung quanh. Đừng để thành quả được coi là có ý nghĩa nhất đối với xã hội loài người lại huỷ hoại chính bạn - công dân của thời đại @.
Dê` bai: giữa một vùng sỏi đá khô cằn, vẫn mọc và nở những chùm hoa thật đẹp.em hãy viết một bài văn nghị luận về hiện tượng đời sống trên. Giúp tớ với!!!

hay lắm bai nay danh cho h/s thcs khoi 8/9
Nghị luận xã hội bài : Cái nết đánh chết cái đẹp

ban oi lam cho minh cai dan bai duoc k?
Giá trị của nó không tùy thuộc vào số câu mà tùy thuộc vào nội dung" văn nghị luận xã hội trich những vòng tay âu yếm..ai giúp mình với

minmin

Hjx cảm ơn bạn , nhưng bạn ơi đây là văn nghị luận. ý nghĩa câu này là nói về giá trị của đời người , sống sao cho ra sống, có ý nghĩa, không phải bàn về thơ bạn ạ. mình cũng ko biết câu này nằm ở đâu nữa, trong cuốn sách nào , bạn nào biết không? giúp mình với . cảm ơn các bạn !
Mọi người chỉ giúp mình cách làm bài văn nghị luận văn học để đạt điểm cao với, mình dốt văn quá, không biết có qua nổi kỳ thi này không nữa

Đỗ Xuân Trường

Mình sẽ chỉ giúp bạn cách làm bài văn nghị luận văn học để đạt điểm cao nhé A. KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN - Văn nghị luận là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục được ý kiến phải đúng và thái độ phải đúng. Có thể gọi ý kiến là lý còn thái độ là tình. Có khi ý kiến đúng mà thái độ không đúng thì cũng kém giá trị và tác dụng. Có ý kiến đúng và thái độ đúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lý nữa. - Yêu cầu bài văn nghị luận: Phải đúng hướng, phải trật tự, phải mạch lạc, phải trong sáng, phải sinh động, hấp dẫn, sáng tạo. - Những thao tác chính của văn nghị luận: giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ, so sánh,… - Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học,… - Khi hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận văn học cần chú ý các yêu cầu sau đây: + Củng cố cho học sinh nắm chắc các thao tác nghị luận về đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích, tác phẩm văn xuôi. + Củng cố kiến thức cơ bản ở mỗi tác phẩm văn học như: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, giá trị tư tưởng,… + Đối với thơ, cần chú ý đến hình thức thể hiện (hình ảnh, nhịp điệu, cấu trúc, biện pháp tu từ,..). + Đối với tác phẩm văn xuôi: cú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, các dẫn chứng chính xác, giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, tình huống truyện,… B. CÁCH LÀM MỘT BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC I. Tìm hiểu đề - Cần khắc sâu cho học sinh tầm quan trọng của việc tìm hiểu đề, cần trả lời cho được 4 câu hỏi sau đây: 1. Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết? Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy. Có 2 dạng đề: - Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. - Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận đề. 2. Đề yêu cầu nghị luận theo kiểu bài nào? Dưới đây là dạng đề thường gặp: - Bình giảng một đoạn thơ - Phân tích một bài thơ. - Phân tích một đoạn thơ. - Phân tích một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi. - Phân tích nhân vật. - Phân tích một hình tượng - Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật,… 3. Cần sử dụng những thao tác nghị luận nào, thao tác nào chính? 4. Để giải quyết vấn đề cần sử dụng những dẫn chứng nào? Ở đâu? II. Tìm ý và lập dàn ý 1. Tìm ý: - Tự tái hiện lại kiến thức đã học về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đang bàn đến. - Tự suy nghĩ và trả lời các câu hỏi: + Xác định giá trị nội dung, tư tưởng: tác phẩm ấy chứa đựng bao nhiêu nội dung. Đó là những nội dung nào?; Qua mỗi nội dung, tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì? Nhà văn muốn gởi gắm thông điệp gì đến người đọc? + Xác định giá trị nghệ thuật: để làm bật lên giá trị nội dung, nhà văn đã sử dụng những hình thức nghệ thuật nào?; Thủ pháp nghệ thuật quan trọng nhất mà tác giả sử dụng để gây ấn tượng cho người đọc là thủ pháp gì?; Chi tiết nào, hình ảnh nào,…làm em thích thú nhất? Vì sao? Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật gì ở đó? (Cần lưu ý, việc phân chia hai vấn đề nội dung, hình thức để dễ tìm ý, nhưng khi phân tích thì không nên tác rời giá trị nội dung và nghệ thuật.) 2. Lập dàn ý: Dựa trên các ý đã tìm được, học sinh cần phát họa ra 2 dàn ý sơ lược. Cần chú ý học sinh: khi lập dàn ý và triển khai ý phải đảm bảo bốc cục 3 phần của bài văn, nếu thiếu một phần, bài văn sẽ không hoàn chỉnh và bị đánh giá thấp. Dưới đây là dàn ý cơ bản của một bài văn phân tích tác phẩm. * Mở bài: - Giới thiệu vài nét lớn về tác giả. - Giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm, xuất xứ tác phẩm. - Giới thiệu luận đề cần giải quyết. (cần bám sát đề bài để giới thiệu lau65n đề cho rõ ràng, chính xác. Luận đề cần dẫn lại nguyên văn yêu cầu của đề). * Thân bài: - Nêu luận điểm 1 – luận cứ 1 – luận cứ 2,…(Các luận điểm, luận cứ này chính là các ý 1,2,3…ý a, ýb,..mà các thầy cô đã giảng dạy trong bài học về tác phẩm ấy). Học sinh cần chỉ ra giá trị nội dung thứ nhất là gì, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì?, giá trị tư tưởng tình cảm gì?,… - Nêu luận điểm 2 – luận cứ 1 – luận cứ 2,…Cần chỉ ra giá trị nội dung thứ 2, trong đó chứa đựng giá trị nghệ thuật gì, giá trị tư tưởng tình cảm gì?,… ------------- - Nhận định chung: khắc sâu giá trị tư tưởng – chỉ ra thành công về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm (so sánh với các tác phẩm khác cùng thời) và nêu hạn chế của nó (nếu có). * Kết bài: Khẳng định giá trị văn học của tác phẩm ở 2 mặt nội dung và nghệ thuật. Sau khi đã có dàn ý, học sinh cần phải biết dựng đoạn dựa theo các luận điểm vừa tìm ra. 3. Cách dựng đoạn và liên kết đoạn: * Dựng đoạn: Cần nhận thức rõ mỗi luận điểm phải được tách ra thành một đoạn văn nghị luận (Phải xuống dòng và lùi đầu dòng, chữ đầu tiên phải viết hoa) Một đoạn văn nghị luận thông thường cần chứa đựng một số loại câu sau đây: - Câu chủ đoạn: nêu lên luận điểm của cả đoạn, câu chủ đoạn cần ngắn gọn rõ ràng. - Câu phát triển đoạn: gồm một số câu liên kết nhau: câu giải thích, câu dẫn chứng, câu phân tích dẫn chứng, câu so sánh, câu bình luận,… - Câu kết đoạn: là câu nhận xét, đánh giá vấn đề vừa triển khai, tiểu kết cả đoạn. * Liên kết đoạn: Các đoạn văn trong bài văn đều cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Có 2 mối liên kết: liên kết nội dung và liên kết hình thức. - Liên kết nội dung: + Tất cả đoạn văn trong bài văn bắt buộc phải có liên kết nội dung, nghĩa là mỗi đoạn văn đều phải hướng vào luận đề, làm rõ luận đề. Nếu không thì bài văn sẽ trở nên lan man, xa đề, lạc đề. + Có thể thấy sự liên kết nội dung qua những từ ngữ xuất hiện trong mỗi đoạn văn. Các từ ngữ quan trọng trong luận đề (hoặc những từ ngữ trong cùng một trường từ vựng ấy) thường xuất hiện nhiều lần, lặp đi lặp lại nhiều lần trong các đoạn văn. - Liên kết hình thức: + Bên cạnh sự liên kết nội dung ở các đoạn văn, giáo viên cần chỉ ra cho các em cách liên kết hình thức để giúp cho việc triển khai ý thêm dễ dàng, làm cho bài văn trở nên dễ đọc, dễ hiểu, có tính mạch lạc, rõ ràng. + Liên kết hình thức có thể thấy rõ qua các câu nối hoặc từ ngữ liên kết đoạn nằm đầu mỗi đoạn văn. + Tùy theo mối quan hệ giữa các đoạn văn mà ta có thể dùng các từ ngữ liên kết đoạn khác nhau, dưới đây là một số từ ngữ mà tần số xuất hiện rất nhiều trong các bài làm văn. (Trước tiên, tiếp theo đó, ở khổ thơ thứ nhất, sang khổ thơ thứ hai,…; Bên cạnh đó, song song đó, không những thế, song, nhưng,…; Về cơ bản, về phương diện, có thể nói, cũng có khi, rõ ràng, chính vì, tất nhiên,…; Nếu như, nếu chỉ có thể, thế là, dĩ nhiên, thực tế là, vẫn là, có lẽ,…; Cũng cần nói thêm, trở lại vấn đề,…; Cho dù, mặc dù vậy, nếu như ở trên,…; Nhìn chung, nói tóm lại,…) C. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC I. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Thường có các nội dung sau: - Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ. - Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật cảu bài thơ, đoạn thơ. - Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ. 1. Yêu cầu. - Đọc kĩ một đoạn thơ, bài thơ nắm: hoàn cảnh, nội dung, vị trí,… - Đoạn thơ bài thơ có những hình ảnh, ngôn ngữ gì đặc biệt. - Đoạn thơ, bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của tác giả như thế nào? 2. Các bước tiến hành a. Tìm hiểu đề: - Đọc kĩ đề, xác định nội dung nghị luận trong bài thơ, đoạn thơ? - Thao tác lập luận. - Phạm vi dẫn chứng. b. Tìm ý: có nhiều cách tìm ý: * Tìm ý bằng cách lập câu hỏi: tác phẩm hay ở chỗ nào? Nó xúc động ở tình cảm, tư tưởng gì? Cái hay thể hiện ở hình thức nghệ thuật nào? Hình thức đó được xây dựng bằng những thủ pháp nào? * Tìm ý bằng cách đi sâu vào những hình ảnh, từ ngữ, tầng nghĩa của tác phẩm,… c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (hoàn cảnh sáng tác, vị trí,…) - Dẫn bài thơ, đoạn thơ. * Thân bài: - Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ (dựa theo các ý tìm được ở phần tìm ý). - Bình luận về vị trí đoạn thơ, đoạn thơ. * Kết bài: Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. II. Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. 1. Yêu cầu. - Nắm rõ nhận định, nội dung của nhận định đề cập đến. - Nghị luận cần phải có những hiểu biết về văn học. - Nắm rõ tính hiện thực, tính nhân đạo, ngôn ngữ văn học. - Thành thạo các thao tác nghị luận. 2. Các bước tiến hành: a. Tìm hiểu đề: - Xác định luận đề: nội dung ý kiến, nhận định. - Xác định thao tác. - Phạm vi tư liệu. b. Tìm ý. c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu khái quát ý kiến, nhận định… - Dẫn ra nguyên văn ý kiến đó. * Thân bài: triển khai các ý, vận dụng các thao tác để làm rõ nhận định. * Kết bài: khẳng định lại vấn đề, nêu ý nghĩa, liên hệ bản thân. III. Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi 1. Yêu cầu: - Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận. - Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm đoạn trích. - Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích. 2. Các bước tiến hành a. Tìm hiểu đề: - Đọc kĩ đề, xác định vấn đề cần làm rõ. - Các thao tác nghị luận. - Phạm vi dẫn chứng. b. Tìm ý: c. Lập dàn ý: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác,…) - Dẫn nội dung nghị luận. * Thân bài: - Ý khái quát : tóm tắt tác phẩm - Làm rõ nội dung nghệ thuật theo định hướng của đề - Nêu cảm nhận, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích. * Kết bài: Nhận xét, đánh giá khái quát tác phẩm, đoạn trích (cái hay, độc đáo) 1. Nghị luận về một tình huống trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách). - Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm). - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác Tình huống truyện: Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại. Nó là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, ý đồ tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ đậm nét nhất. - Phân tích các phương diện cụ thể của tình huống và ý nghĩa của tình huống đó. + Tình huống 1....ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm. + Tình huống 2...ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm. ...... - Bình luận về giá trị của tình huống c. Kết bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về tình huống đó. 2. Nghị luận về một nhân vật, nhóm nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, vị trí văn học của tác giả. (có thể nêu phong cách). - Giới thiệu về tác phẩm (đánh giá sơ lược về tác phẩm), nêu nhân vật. - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Phân tích các biểu hiện tính cách, phẩm chất nhân vật. (chú ý các sự kiện chính, các biến cố, tâm trạng thái độ nhân vật...) - Đánh giá về nhân vật đối với tác phẩm c. Kết bài: - Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc. - Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó 3. Nghị luận về giá trị của tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. 3.1. Dàn bài giá trị nhân đạo. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu về giá trị nhân đạo. - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Giải thích khái niệm nhân đạo: Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người, sự nâng niu trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ. - Phân tích các biểu hiện của giá trị nhân đạo: + Tố cáo chế độ thống trị đối với con người. + Bênh vực và cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh con người. + Trân trọng khát vọng tư do, hạnh phúc và nhân phẩm tốt đẹp con người. + Đồng tình với khát vọng và ước mơ con người. - Đánh giá về giá trị nhân đạo. c. Kêt bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó 3.2. Dàn bài giá trị hiện thực. a. Mở bài: - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu về giá trị hiện thực - Nêu nhiệm vụ nghị luận b. Thân bài: - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác - Giải thích khái niệm hiện thực: + Khả năng phản ánh trung thành đời sống xã hội một cách khách quan trung thực. + Xem trọng yếu tố hiện thực và lí giải nó bằng cơ sở xã hội lịch sử. - Phân tích các biểu hiện của giá trị hiện thực: + Phản ánh đời sống xã hội lịch sử trung thực. + Khắc họa đời sống, nội tâm trung thực của con người. + Giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo (hay ca ngợi) xã hội, chế độ. - Đánh giá về giá trị hiện thực. c. Kết bài: - Đánh giá ý nghĩa vấn đề đối với sự thành công của tác phẩm - Cảm nhận của bản thân về vấn đề đó
Giúp em thu thập những bài văn nghị luận xã hội hay với ạ. Em chuẩn bị thi Đại học, đang dòm ngó ít bài hay để học hỏi kinh nghiệm viết bài với cả xem bố cụ dàn ý của họ thế nào. :D

Đỗ Xuân Trường

Đây là một trong những bài văn nghị luận xã hội hay nhất này bạn: Cuộc sống ngày càng vận động và phát triển theo chiều hướng mới. Để tồn tại và có một cuộc sống bền vững thì mỗi người chúng ta cần phải có một phương hướng sống nhất định, một lí tưởng mà ta sẽ hướng tới để thực hiện trong suốt cuộc đời. Nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi đã nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Vậy cuộc sống sẽ ra sao nếu mỗi người không có lí tưởng xác định?Cuộc đời sẽ ra sao nếu mỗi người chỉ sống vì những mục đích không rõ ràng và chỉ cho bản thân mình? Thoạt đọc qua, ta sẽ cảm thấy câu nói trên hơi khó hiểu. “Lí tưởng” là gì? Đó chính là cái đích của cuộc sống mà mỗi con người khát khao đạt được. Còn “ngọn đèn”, đó là một vật dùng để thắp sáng vào ban đêm, nhờ có nó mà ta thấy được rõ đường đi và những vật xung quanh. “Phương hướng kiên định” chính là mục tiêu, là đường lối xác định sẽ thực hiện một cách quyết tâm và không thay đổi. "Cuộc sống" là cuộc đời thực tiễn của mỗi người, nhưng đó sẽ là cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời tươi đẹp khi mà con người sống chứ không phải tồn tại. Cuộc sống đó là thành quả rực rỡ của một cuộc sống có lí tưởng. Qua đó, ta thấy câu nói của Lép Tôn-xtôi mang một ‎nghĩa rất rõ ràng: sống trên đời, mỗi con người cần phải có riêng cho mình một lí tưởng sống, đó chính là ngọn đèn chỉ phương rõ ràng nhất. “Lí tưởng” rất quan trọng với chúng ta. Vì nếu sống mà không có lí tưởng thì chúng ta sẽ khó mà xác định những việc nên làm, còn nếu có xác định được thì cũng không có quyết tâm để thực hiện cho tới nơi chốn. Như trong học tập, nếu không chắc chắn mục tiêu học để làm gì thì khi gặp khó khăn, ta dễ buông xuôi và không chịu cố gắng. Bên cạnh đó, khả năng thực hiện sai hướng hay cảm thấy khó khăn hơn khi không xác định được lí tưởng là rất lớn. Chẳng hạn ta muốn trở thành bác sĩ nhưng không xác định được là sẽ trở thành bác sĩ gì, thì khi dấn thân vào con đường học vấn ta sẽ cảm thấy lạc lõng với chính mục tiêu mình đề ra. Và cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao khi con người ta sống thiếu “lí tưởng”. Thiếu lí tưởng, ta dễ nản chí, ta dễ cảm thấy buồn chán với chính cuộc đời của mình. Vậy một người có lí tưởng là người như thế nào? Đó chính là người luôn xác định rõ mục tiêu sống và tận tuỵ với những việc mà mình cần hoàn thành, thể hiện rõ thái độ quyết tâm vươn tới sự hoàn thiên bản thân, mong muốn cống hiến cho sự nghiệp chung. Hơn thế nữa đó là một người sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng của mình, chấp nhận sự thất bại và khó khăn để đạt đến cái đích cuối cùng của cuộc đời. Đôi khi lí tưởng của một người chỉ là kiếm được việc làm ổn định và có một gia đình đầm ấm nhưng để thực hiện được thì người đó cũng phải trải qua nhiều khó khăn. Và dù cho đó chỉ là một lí tưởng tưởng chừng như rất đơn giản nhưng vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì người đó đã có được lí tưởng riêng để thực hiên chứ không như nhiều người sống hơn nửa cuộc đời vẫn chưa biết đâu là lí tưởng của đời mình và vẫn còn đang quẩn quanh…Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi với một lí tưởng suốt đời “tìm ra con đường giải phóng đất nước, quyết tâm vì Tổ quốc độc lập, vì dân tộc Việt Nam tự do và bền vững”. Đó cũng chính là lí tưởng của tất cả thanh niên trong thời chiến. Nhưng ngày nay khi đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và đang trên đà phát triển nhanh thì lí tưởng của thanh niên đã khác đi rất nhiều. Tất nhiên mỗi thanh niên sẽ có cho mình một lí tưởng riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh sống, địa vị và cách sống của mỗi người nhưng nếu lí tưởng đó chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân thì đó không hoàn toàn là lí tưởng mà đó chính là lối suy nghĩ ích kỉ và cá nhân. Vì thế thanh niên ngày nay cần có một lí tưởng chung là: không ngừng phấn đấu vì một đất nước Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Mà muốn có được những lí tưởng có ‎ nghĩa cho bản thân và cho xã hội như vậy thì mỗi người nhất là thanh niên học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã xác định được cho mình mục đích của việc học tập, phân biệt được mục đích đó là đúng hay sai và xác định xem khả năng của mình có thực hiện được hay không. Bên cạnh đó cần biết lắng nghe lời khuyên của những người xung quanh như cha mẹ, thầy cô để có một “phương hướng kiên định” cho chính mình. Một xã hội sẽ phát triển vững bền khi có những con người có chung một lí tưởng cao đẹp là sống vì Tổ quốc, vì mọi người. Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều ‎nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khi ông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lí tưởng đối với mỗi người qua việc ví lí tưởng với phương hướng kiên định và cuộc sống. Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lí tưởng để thực hiện trong cuộc đời, em cũng vậy, em sẽ luôn phấn đấu để hoàn thành lí tưởng của mình: trở thành một công dân có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Để mỗi ngày trôi qua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lí tưởng cuộc đời..
Mấy bạn ơi, mình có con em chuẩn bị đi thi Đại học, muốn tham khảo những bài văn nghị luận xã hội lớp 12 hay nhất trong các kì thi tuyển sinh để học hỏi thêm kinh nghiệm làm bài, với có thêm nhiều kiến thức. Bạn nào biết không chia sẻ mình với? Năm...
(Xem thêm)

thanh hoa

Chị thấy bài này khá hay này em ơi. Em tham khảo xem nhé. Cách làm với cả bố cục khá hợp lí. Đề : Một triết học nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lònng thì chẳng là gì cả. Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” Các bạn đã từng nghe câu “Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” chưa?. Có lẽ câu nói thật lạ kì phải không các bạn, đây là câu nói của một nhà triết học, tuy thật khó hiểu nhưng nó lại hàm chứa một ý nghĩa vô cùng sâu sắc, nhà triết học có ý nhắc nhở chúng ta điều gì đây? Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu rõ ý nghĩa câu nói này nha các bạn. Không chỉ đơn giản bằng một câu ngắn gọn như vậy, nhà triết học còn nói :“Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả.Nó làm thế nào thì sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra’’.Đến đây một phần cánh cửa như được mở rộng. Tại sao lại nói “mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có”?.Mỗi con vật khi sinh ra đều biết ăn, biết đi lại , biết bắt mồi,……, tất cả đều là do bản năng sinh tồn của nó, giống như con mèo con, khi mới sinh ra là đã biết bò lại gần mẹ để bú , để hưởng chút hơi ấm ngọt ngào mà mẹ nó dành cho những đứa con yêu thương, rồi dần tự mở đôi mắt nhỏ xinh mèo con bắt đầu tập được những bước đi chập chững, rồi chạy nhảy, đến nô đùa, đến bắt chuột , tất cả đều là do tự nhiên mà có , không ai dạy bảo, mèo con trưởg thành và cả vòng đời mèo con vẫn như vậy, không thay đổi. Thật hay, tạo hoá đã ban tặng cho loài vật một bản năng đặc biệt để có thể thích nghi với cuộc sống thế nhưng “Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả’’.Đúng vậy, con người không hề có một chút bản năng đặc biệt nào ,tất cả mọi thứ hoàn toàn phụ thuộc vào người khác,phải trải qua sự rèn luyện, tập tành mới có được khả năng.Con người khi sinh ra vốn chẳng biết gì ,chỉ nhắm nghiền đôi mắt bé xiu và oa oa oà lên những tiếng khóc đòi bú mẹ, thật sự chẳng thể nào chạm được tới mẹ. Tất cả là nhờ mẹ nâng niu ,ôm ấp vào lòng hoà tan dòng sữa ngọt chạm vào môi hồng bé xinh thì mới tiếp tục sự sống được. Không chỉ vậy, làm sao con người có thể tự đi đứng, bò trườn được,tất cả phải qua quá trình rèn luyện ngay từ thuở ban đầu.Hai tháng biết lật, ba tháng biết bò, sáu tháng chập chững biết đi , mười tháng bắt đầu hoàn thiện bước đi của mình,……….Đâu phải tự nhiên! Đều do bàn tay nồng ấm của mẹ dìu dắt từng bước, từng bước một ,tạo nên khả năng sinh tồn, hoà nhập với cuộc sống cho một sinh linh bé nhỏ dần bước vào đời. Con người khác với con vật là có tri thức, có phẩm chất đạo đức nhưng đây cũng đâu phải là điều vốn sẵn có trong từng người mà nó được phát huy, phát triển qua những ngày học tập, những ngày được dạy dỗ. Cũng như chúng ta ngay từ nhỏ đã được dạy rằng phải biết hiếu thảo với cha mẹ, bên ngoài xã hội cần tôn trọng người khác, phải chân thành , công bằng, …….và nhiều điều khác nữa, những lời dạy đó ăn sâu vào tâm trí, nó lớn theo thời gian khi ta càng lớn, và được áp dụng ngay trong đời sống. Thử hỏi không có sự chui rèn , không có sự luyện tập thì làm sao ta có thể hoà nhập với cuộc sống hiện tại đựơc , bởi vậy “nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó”. Đó chính là lí do ta cần phải biết sống , biết hành động, biết nỗ lực .Cũng như khi muốn đánh được một bản nhạc hay thì ta phải tập đánh đàn, điều đó xuất phát từ lòng yêu thích , bắt nguồn từ sự tự nguyện , không hề bị cưỡng ép, ràng buột. Con người là một tờ giấy trắng, chỉ từng nét, từng nét bút mới vẽ lên bức tranh hoàn thiện, nên cần phải luyện tập từ thấp đến cao , từ dễ đến khó, mới có thể hấp thu kiến thức từ cuộc sống được. Giống như trong học tập đâu phải ai mới đầu cũng được ngồi trên chiếc ghế đại học, mà phải bắt đầu từ lớp một, trải qua mười hai năm rèn luyện gian khổ mới được ngồi vững trên chiếc ghế ấy. Tóm lại để đạt được thành công , ước muốn, nguyện vọng thì chính bản thân phải có sự nổ lực thực sự, cố gắng toàn vẹn thì thành công sẽ đến trong tầm tay thôi. Tuy nhiên đâu phải ai cũng đi được đến cùng của sự thành công. Có nhiều người đang học rất tốt nhưng vì mê chơi bỏ ngang việc học thế là mất tất cả qua một lúc nông nỗi, quả đúng thật họ làm thế nào thì sẽ nhận lại được kết quả như thế ấy thôi!.Chính vì vậy hãy luôn nhớ rằng “tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”, chỉ có ta mới quyết định được số phận của ta, con người ta thế nào thì do chính ta làm nên. Một người nếu biết gắng công học tập, biết chú trọng đến phẩm chất đạo đức, …. Thì sau này sẽ làm nên danh tiếng góp phần đưa đất nước đến một góc trời vinh quang, xây dựng đất nước ta thành toà lâu đài đẹp nhất mà không cường quốc nào có thể sánh bằng.Nhưng thật dáng tiếc xã hội ta ngày nay vẫn không thiếu những kẻ tự huỷ diệt mình ,những con người thân tàn ma dại do ăn chơi sa đoạ, dẫn đến bị AIDS,bị nghiện ngập là cũng do chính họ tự tạo ra, tự tạo cho họ một cuôc sống khổ sở , bị mọi người xa lánh.Bên cạnh là những kẻ chỉ biết trông chờ vào người khác , không biết tự nỗ lực bản thân trong hoc hành cũng như trong công việc .Thật đáng phê phán! Qua câu nói vô cùng đáng giá của nhà triết học, có lẽ đã làm thức tỉnh chúng ta , cho nên ngay từ bây giờ phải biết rèn luyện bản thân, học tập thật tốt, khắc phục chỗ hạn chế còn phải trông chờ vào người khác,để bản thân ta phát triển hơn, và hơn hết phải làm nên một con người hợp thời đại thì xã hội mới phát triển, đất nước mới giàu mạnh.Nhưng các bạn cũng hãy nhớ rằng chúng ta không hề cô độc chiến đấu với số phận mà bên cạnh đó còn có gia đình, xã hội nữa.Chính những tác động đócũng có thể tạo nên tôi của ngày mai. Câu nói của nhà triết học thật thú vị phải không các bạn? Biết bao điều ý nghĩa, vô giá được ẩn chứa trong câu nói này. Hãy tự khẳng định cái tôi của chính mình và làm nên cái tôi thật sự, thật giá trị cho xã hội này nha các bạn!!!! “Tôi chỉ có thể là kẻ do chính tôi làm ra”
Gần đây, cư dân mạng xôn xao trước bức tâm thư của một du học sinh Nhật. Trong thư, có đoạn: “Tôi có một nước Nhật để tự hào… Tôi tự hào vì đất nước tôi không có bề dày văn hiến lâu đời nên chúng tôi sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận...
(Xem thêm)

Đỗ Xuân Trường

Lâu nay ở Việt Nam hay có hiện tượng đám đông ùa vào tán thưởng khi có một người nước ngoài nào đó viết 'tâm thư' bình luận, phê phán yếu kém, thói hư tật xấu của người Việt. Người Việt cười nhiều quá Mấy ngày nay, bức "tâm thư" gửi người Việt có tên: "Việt Nam – Nhà giàu và những đứa con chưa ngoan" đang gây tranh cãi trên mạng xã hội. Bài viết này mở đầu bằng việc ca ngợi đất nước và con người Nhật Bản hết lời. Qua đó, tác giả chê bai những yếu kém, thói xấu của người Việt, như tự hào về rừng vàng biển bạc nhưng vẫn nghèo, hay ghen ăn tức ở... Rất nhiều người Việt vào tán dương ý kiến của du học sinh Nhật Bản và quay mũi dùi vào chỉ trích những thói xấu của người Việt, hài lòng trước mấy nhận xét chung chung của tác giả này. Và qua cuộc tranh luận này, ta lại thấy thêm một tính xấu của người Việt nữa là tâm lý đám đông: Cứ nhìn thấy nhận xét của người nước ngoài, của người Nhật (nước mà Việt Nam rất hâm mộ) là liền gật gù "nói chuẩn quá". Bản thân tôi cũng rất hâm mộ người Nhật. Và thực ra thì cậu sinh viên này nói chẳng sai từ nào cả. Nhưng, có một điều lạ là sao cùng là "góp ý" cho Việt Nam, mà bức ảnh dây điện chẳng chịt của Bill Gates lại "ăn gạch" nhiều vậy? Trong khi, nếu so về tuổi đời, tài năng, tầm ảnh hưởng ... thì Bill Gates đáng lẽ phải được chào đón hơn? Bài viết của sinh viên người Nhật này thực ra cũng chỉ tổng hợp những gì báo Việt nói thường xuyên và không có gì mới, nhưng lại được chào đón? Và, nếu nhận xét kỹ hơn, thì cậu ấy mới chỉ nêu ra được "thực trạng", chứ cũng chẳng thể nêu phần "giải pháp". Đây cũng là kiểu chung của Việt Nam mình, chỉ nêu thực trạng ra rồi để đấy. Bài viết sẽ được chia sẻ, bình luận, dậy sóng trong vài ngày, rồi sẽ chìm vào quên lãng. Rồi cái thực trạng được nêu ra sẽ đâu lại hoàn đó, còn lâu mới được thay đổi. Bao nhiêu người trong số các bạn bình luận "đúng quá", "chuẩn quá", sau khi đọc bài này sẽ tìm hiểu tiếp xem người Nhật làm thế nào để có ý thức như vậy mà học hỏi. Hay chỉ bình luận xong, ra đường đi vẫn lấn làn, làm sai vẫn ngại xin lỗi, rồi lại biện hộ "mọi người đều thế"? Và rồi mọi chuyện lại thành ném đá ao bèo. Vậy thì, sau khi bình luận "đúng quá", tôi nghĩ là nên hỏi tiếp: Làm thế nào mà người Nhật lại được như vậy? Đó mới là điều cần làm, thay vì chỉ ngồi tán đồng và gật gù
làm on chi tui cach lam bai van nghi luan xa hoi ve viec truong hoc than thien hoc sinh tich cuc dum cai[:(][:(]

Sakura Kinomoto

Thầy cô, mái trường, bạn bè và nhưũng kỉ niệm trong 2 năm qua, nó tồn tại và được cất giữ trong tim, nhẹ nhàng và đem nó ra ngồi nhìn lại, thực sự là những điều đpẹ đẽ. Một thời em nhớ về thầy cô, một thời em nhớ về mái trường và nơi ấy, em biết rằng cũng có những người bạn mà em yêu quý nhất. Mọi kỉ niệm đều là dĩ vãng, nhưng dĩ vãng đó sẽ luôn đọng lại trong lòng em như chính ngày hôm qua em đã làm được 1 điều gì đó cho cuộc sống này. Mái trường nơi đó, ngày đầu tiên em bước chân vào, đứng trước cánh cổng xanh một màu xanh mát mẻ, ươm một màu nắng nhẹ của buổi sớm mai em đến. Cái cảm giác bỡ ngỡ, em cứ tưởng mình sẽ ko có, bởi nó đã đến khi em bước chân vào lớp 1, còn bây giờ là lớp 6, đã 5 năm rồi, nghĩ rằng nó sẽ chẳng đến nữa đâu, nhưng vẫn là cảm giác ấy, sự bỡ ngỡ như những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, cũng bửoi cái mới, cái lạ. Rồi khi đã quen dần, bước vào cánh cổng ấy, sự bữo ngỡ ngày nào đó mãi là kỉ niệm đẹp. Rồi lớp 7, nhìn trường bằng ánh mắt thân thương quen thuộc, 2 năm nó ko phải là thời gian dài gắn bó, 2 năm ko phải là quá dài nếu như đem so sánh với những anh chị lớp 8, lớp 9, nhưng nó đủ để em cảm nhận được sự thân thương từ ngôi trường này đây, cảm nhận được sự yêu mếm của thầy cô, bạn bè, và cũng đủ để tìm kiếm được mọi ngóc ngách trong trường 1 cách dễ dàng. Khi đi xa ta nhớ, khi ở gần ta thương, những con người ngày đêm tận tụy, em quên sao được nụ cừoi của cô khi đứng trên bục giảng, em quên sao được ánh mắt của thầy khi chỉ dạy từng đứa cách làm bài. Cái lớp 7, nó chưa đủ để biến yêu thương thành hành động, nhưng đó là thời gian yêu thương được cất giấu và nung nấu. Rồi ve gọi hè, rồi phượng nở, rồi mùa chia tay,... nó đến khẽ khàng, nhẹ nhàng như tuổi già đến với con người. Đem đến bao nhiêu kỉ niệm và cũng đem đến bao sự nuối tiếc về những ngày cùng tung tăng với bạn đến trường, những giờ cùng bạn ôn bài, những giờ chơi vui vẻ huyên náo, những lầm em và bạn giận nhau,.... Hai năm, cũng đã đủ để viết nó vào trang kỉ niệm. Kỉ niệm đẹp - thầy cô, bạn bè, mái trường - nơi em đuợc sinh ra lần thứ hai.
Bàn Về Văn Học có ngưới cho rằng " " Yếu tố bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết cô đúc , có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết " Anh,chị hiểu thế nào về ý kiến trên đây và...
(Xem thêm)

Kim Ngân

Hôm trước bọn mình mới được chữa đề này, cùng tham khảo nhé. 1:Giải thích: i -Chi tiết nghệ thuật là bộ phận nhỏ nhất có ý nghĩa của mỗi tác phẩm mà nhờ bộ phận này thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện ra một cách cụ thể sinh động. Một cách định nghĩa khác: Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. -Cô đúc: ít về số lượng các chi tiết , dung lượng lưosn: ý tưởng ko nằm ở số lượng chi tiết mà vượt ra ngoài phạm vi của nó. Có thể hiểu là 1 chi tiết trong truyện ngắn có thể hiểu theo nhiều nghĩa. -Lối hành văn đầy ẩn ý: giọng điệu riêng, tiếng nói riêng góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn. ->Chi tiết nghệ thuật và cách hành văn của tác giả là 2 yếu tố quan trọng làmnên đặc trưng truyện ngắn. **Chứng minh.dùng truyện Chí phèo. -Một số chi tiết quan trọng và ý nghĩa của nó: +tiếng chửi: 1 phát hiện mới alj, sâu sắc về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người ngay cả từ nhu cầu giao tiếp. +Chi tiết bát cháo hành: có thể coi là chi tiết điển hình.ý nghĩa: hạnh phúc , sự thức tỉnh lương thiện được đánh thức trong Chí. +chi tiết cái bóng của Chí phèo: mang triết lí nhân sinh: con người bị hoàn cảnh làm cho thay đổi. cuộc đời con người chỉ mơ hồ như cái bóng. +cái lò gạch cũ: hình ảnh mở đầu và kết thúc tác phẩm::tạo kết cấu đầu cuối tương ứng. nd: sự quẩn quanh, bế tắc của người nông dân trước cách mạng., đồng thời tạo sự ám ảnh người đọc. -Giọng điêuj trong truyện ngắn: lạnh lùng, suồng sã, đay nghiến. Lí giải: +Giọng "trời phú" của tác giả. +Do vấn đề mà tác phẩm nói đến, phù hợp với đối tượng thể hiện
Bạn thử tham khảo cái này rồi tổng hợp thành bài viết nhé Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của những người anh hùng dân tộc vĩ đại . Tài năng kiệt xuất và đức độ cao cả của họ đã có ảnh hướng...
(Xem thêm)

loi anh muon noi

hay qua
Các bạn giúp tớ làm bài văn nghị luận: chứng minh bài " Chiếu dời đô" của Lý Công uẩn có sức thuyết phục do có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý và tình. cám ơn các bạn trước[:)]

Nguyễn Gia Phong

tui ko bit
Sản phẩm nổi bật

Thành viên tích cực

1

Pham Thi Hai Trang

4 lượt cảm ơn
2

Vũ Thị Lương

3 lượt cảm ơn
3

Dang Anhs

2 lượt cảm ơn
4

Nguyen Van Cuong

1 lượt cảm ơn
5

Nguyê n Thi Nga

1 lượt cảm ơn