Nêu cảm nhận của em về đoạn trích" chiếc lược ngà" của NQS. nghị luận về tác phẫm truyện.

Võ Hoài Thương

- thiếu mất đoạn kết rồi :3 :3

Cà Phê Sữa Chua

Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm Nhà thơ nhà văn Nguyễn Khoa Điềm không có nhiều tác phẩm nhưng những tập thơ của ông luôn được độc giả đón nhận và yêu thích.Trong đó không thể không nhắc đến trường ca “Mặt đường khát vọng” vô cùng nổi tiếng mà ta thường biết đến thông qua bài thơ “Đất Nước”.Bài thơ này được trích từ chương V của trường ca.Đây đuợc xem là chương hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ, mỗi khổ ứng với một luận điểm,nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư tưởng: “Đất nước này là Đất Nước Nhân dân”.Chính luồng tư tưởng này đã thôi thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia chiến đấu giành độc lập cho nước nhà.Không những thế, nó đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta.Bên cạnh đó, Nguyễn Khoa Điềm trình bày rất nghệ thuật nhiều cảm nhận, lý giải mới về đất nước. Từ đó, ta hiểu thêm tính chính luận - trữ tình của thơ ông nói riêng và thơ chống Mỹ nói chung. Câu thơ đầu của đoạn rất đỗi nhẹ nhàng,bình dị nhưng lại vô cùng hàm súc: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..”mẹ thường hay kể” .Bốn từ “ngày xửa ngaỳ xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta.Nó xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích bà kể,trong những lời ru tha thiết của mẹ mỗi khi đêm về.Từ lâu nó đã như là một yếu tố không thể thiếu dể tạo nên không gian riêng của nàng Tấm,Hoàng Tử,của Mai An Tiêm…Nay,nó đã đi vào văn chương Việt Nam tạo nên một định nghĩa rất bất ngờ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.Trong Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt,đất nước hiện ra thông qua hình ảnh “Vua chúa” và “sách trời”: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư” (Nam Quốc Sơn Hà) Hay như trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu: “Một mối xa thư đồ sộ,há để ai chém rắn đuổi hươu;hai vầng nhật nguyệt chói loà đâu dung lũ treo dê bán chó” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) Những từ như “ mối xa thư đồ sộ” hay “ hai vầng nhật nguyệt chói loà” đã trang trọng hoá đất nước.Nó thể hiện sự kì vĩ và cao cả nhưng cũng tạo một khoảng cách thiêng liêng của con người đối với Đất Nước.Nhưng với Nhuyễn Khoa Điềm thì lại khác.Nhà thơ đã xoá bỏ khoảng cách đó.Đất nước đã hoá thân vào những câu chuyện cổ tích hay những câu ca dao rất đỗi quen thuộc và hiện ra thật bình dị và gần gũi. “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa.Và Đất Nước cứ lớn dần lên cùng các truyền thống như trồng tre,trồng lúa,đánh đuổi giặc ngoại xâm. “Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” Tác giả đã dành một lời ngợi ca ,một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng khi nói đến “cha mẹ”.Sự thuỷ chung son sắt trải bao gian khó nhọc nhằn được ông đề cao.Vì cuộc sống bấp bênh,đủ mọi khó khăn vất vả ,chỉ có “gừng cay” và “muối mặn” chứ ít khi ngọt ngào.Tuy nhiên “cha mẹ” vẫn dành cho nhau sự yêu thương là một điều rất đáng quý.Ở câu thơ này,thay vì dùng chữ “yêu” tác giả lại chọn từ “thương” để đưa vào.Bởi vì ông muốn thơ của mình giản dị và gần với văn học bình dân hơn,gần với nhân dân hơn.Cũng như tác giả mượn hình ảnh “gừng cay muối mặn” từ câu ca dao: “Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” để thể hịên tình cảm vợ chồng. Rồi đến khi “Cái kèo cái cột thành tên” thì dân tộc ta đã bước sang một sự phát triển mới.Ngành nông nghiệp lúa nước ra đời giúp cho cuộc sống nhân dân bớt cơ cực mặc dù cũng phải “một nắng hai sương” theo từng hạt gạo. Câu cuối của khổ thơ này,tác giả đúc kết và khẳng định lại một lần nữa về sự ra đời cùa Đất Nước: “Đất Nước có từ ngày đó…” Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác và sử dựng triệt để vốn văn hoá dân gian sẵn có,sáng tạo lại khiến cho người đọc cảm thấy rất gần gũi và bất ngờ.Trong suốt quá trình phát triển của Đất Nước,ta dều thấy bóng dáng của những con người. Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau. Một không gian khác được tác giả mở ra vô cùng khéo léo khi ông tách đôi 2 âm tiết “Đất Nước”. “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao đảo ngược. Nếu thay đổi dưới dạng : Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm, cảm hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một câu văn xuôi rất đỗi bình thường. Văn hoá dân gian là của nhân dân.Để khẳng định tư tưởng của mình tác giả đã vận dụng chất liệu dân gian vào trong văn thơ của mình.”Đất nước là của nhân dân” nên việc đưa chất trữ tình của dân gian tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng hình tượng đất nước,qua đó ta thấy được sự sáng tạo cũng như độc đáo trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm.Câu thơ :” Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là một ví dụ.Hẳn ta chưa quên câu ca dao rất đỗi ngọt ngào: “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt…” Vận dụng ý từ câu ca dao trên,tác giả đã viết nên dòng thơ đậm chất dân gian nhưng không kém phần độc đáo,tạo nên một phong cách rất riêng của nhà thơ. Hai câu thơ tiếp theo hình tượng Đất Nước được biến hoá vô cùng sinh động : “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Con chim phượng hoàng và cá ngư ông là hai con vật linh thiêng được nhân dân ta thờ phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi.Giữa người và thần dường như không hề có sự ngăn cách,tất cả như hoà vào nhau bình đẳng.Một lần nữa , nhà thơ đã đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất Nước của nhân dân.Và chính tư tưởng đó đã giúp tác giả khám phá Đất Nước trên những khía cạnh khác nhau.Mở đầu là “Thời gian đằng đẵng”.Xuôi theo dòng lịch sử,Nguyễn Khoa Điềm ghi lại những truyền thuyết,phong tục dân gian vốn rất quen thuộc với chúng ta. “Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hàng năm ăn đâu ở đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Song song với quá trình tách - hợp, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” - “em” thành “ta” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân - Âu Cơ. Qua các câu thơ, tác giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hình thành, “lớn lên” như những mối tình thân thiết, yêu thương.Dây là quãng thời gian thấm đẫm cội nguồn,thể hiện ước muốn ngược dòng thời gian trở về cội nguồn,lịch sử hình thành Đất Nước.Nó khoác lên “Đất Nước” một vẻ đẹp lạ lùng,lấp lánh chất huyền thoại.Đất Nước không đơn thuần chỉ là núi song.Đó là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ yêu nhau,đó là nơi dân mình được sinh ra và đoàn tụ. Từ đó, đất nước thành không gian của mọi người,của cộng đồng. Bên cạnh đó,tác giả còn đánh thức tình cảm tổ tiên tình yêu quê hương đất nước.Thấm thía nhất là hai câu thơ: “Hàng năm ăn đâu ở đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Mùng 10 tháng 3 hàng năm , người Việt ta có phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương để tôn vinh những ông vua có công dựng nước.Nhà thơ sử dụng 2 chữ “cúi đầu” với vẻ tôn kính và ngưỡng mộ.Nó như một bàn tay khẽ chạm vào tiềm thức của mỗi người con yêu nước,dù ở phương nào cũng phải biết thờ phụng ông bà tổ tiên mình.Nguyễn Khoa Điềm đã rất ý nhị trong việc khơi gợi lòng yêu Đất Nước trong mỗi con người. Qua khổ thơ thứ hai, đất nước được cảm nhận như sự thống nhất hài hòa giữa cái hàng ngày và vĩnh hằng, trong mỗi cá nhân và toàn dân tộc, trong quá khứ, hôm nay và mai sau. Từ suy ngẫm trên, Nguyễn Khoa Điềm kết luận: “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng” Trong mỗi chúng ta đều có bóng hình của Đất Nước , gắn bó rất chặt chẽ.Thế nên chúng ta phải biết giữ gìn và bảo vệ nó.Đất Nước trọn vẹn khi dân mình biết chở che cho nhau,đoàn kết lại.Lúc ấy Đất Nước sẽ vô cùng mạnh mẽ,bất khuất.Nhà thơ mong muốn thế hệ sau này cũng sẽ yêu quý Đất Nước ,phát triển nó như những gì thế hệ trước đã và đang làm.Kết lại khổ thơ,tác giả nhắn nhủ đến mọi người: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và chia sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…” Đó không chỉ là mong muốn của riêng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà đó còn là những gì tổ tiên ,ông bà trông đợi nơi ta,những người con của thế hệ sau sẽ cố gắng thực hiện.Từ “phải” như là một mệnh lệnh.Nhưng đó là mệnh lệnh của trái tim,của ý thức trong mỗi chúng ta. Ở khổ thơ thứ 3,tư tưởng “đất nước nhân dân” còn được thể hiện qua cách cảm nhận sâu sắc, độc đáo về phương diện địa lý. “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước nhựng núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên những hòn Trống mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao hồ để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học tró nghèo góp cho Đất Nước núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình,một ao ước,một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…” Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái rồi Hạ Long... chỉ thành thắng cảnh khi gắn liền với đời sống văn hóa dân tộc, được cảm thụ qua tâm hồn quần chúng và lịch sử đất nước. Theo lối quy nạp, từ những dẫn chứng cụ thể, nhà thơ đi đến nhận xét tổng quát: “Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuôc đời đã hoá núi sông ta…” Trong không gian địa lý, trên khắp ruộng đồng gò bãi, Nguyễn Khoa Điềm đều thấy dấu tích nhân dân để lại... Chính diều này đã thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân và đất nước. Bốn nghìn năm đối với Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là thời gian.Với con mắt sắc sảo của mình,nhà thơ còn nhìn thấy những điều tưởng chừng như rất bình dị nhưng lại vô cùng quan trọng. “Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái,con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh va em đều nhớ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái ,con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” Nếu ở khổ 2 và 3 là cái nhìn gần, thời hiện tại thì ở đây là cái nhìn xa, nhìn về quá khứ , theo dòng thời gian trở về buổi đầu dựng nước.Trong “Bình Ngô Đại Cáo”,Nguyễn Trãi đã tổng kết lịch sử bằng các triều đại: “Từ Triệu,Đinh,Lý,Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán,Đường,Tống,Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương” Nhưng Nguyễn Khoa Điềm không làm như vậy. Ông nhấn mạnh vai trò của những người trẻ tuổi vô danh.Những người đã giữ gìn, truyền lại cho con cháu mọi giá trị tinh thần, vật chất. Không chỉ bảo vệ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã tên làng qua các cuộc đi xa mà họ còn quyết tâm đánh giặc bảo vệ quê hương Đất Nước.Bằng cách này,tác giả đã trả lại Đất Nước cho những người chủ chân chính,những người đã góp bao công sức trong thầm lặng xây dựng nên Đất Nước.Đây là một cách nhìn rất mới trong thơ văn yêu nước,củng cố thêm cho tư tưởng của tác giả. “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ truyền lửa qua mỗi nhà,từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã,tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho ngừơi sau trồng cây hái trái” Đại từ “họ” được lặp đi lặp lại ,đặt ở đầu câu làm nổi bật vai trò của nhân dân,những ai đã làm ra sản phẫm vật chất,tinh thần cua Đất Nước.Hàng loat dộng từ như “ giữ”,”truyền”,”gánh” được tác giả sử dụng để tạo nên hình tượng người dân thật lực lưỡng,khỏe mạnh không hề mệt mỏi trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ Quốc.Nhân dân đã đem cả cuộc đời đóng góp ,phát triển và bảo tồn mọi giá trị vật chất cũng như tinh thần cho con cháu.Vậy nên nói “Đất Nước là của Nhân dân “ chẳng hề sai. Thơ của Nguyễn Khoa Điềm là một thế giới nên thơ,mộc mạc và rất dân dã.Nó lấp lánh những câu ca dao,những câu chuyện cổ tích khi xưa.Cũng chính nhờ điều đó mà ta thấy nhân dân hiện diện xuyên suốt toàn bài thơ.Từ nền văn hoá dân gian ấy,tác giả khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn,tính cách người Việt Nam chung thuỷ,có nghĩa có tình nhưng lại rất cứng rắn trước quân thù. “Dạy anh biết “yêu em từ thưở trong nôi” Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi nagỳ thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò,kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm năm dáng sông xuôi…” Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” đã có quá trình phát triển lâu dài nhưng chỉ đến văn học Việt Nam hiện đại,nhận thức ấy mới đạt tới đỉnh cao,mang một sắc thái mới lạ và thuýêt phục. “Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Hai câu thơ , hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa mới về đất nước. Đỉnh cao của tính chính luận và cảm xúc trữ tình hội tụ trong câu: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Chân lý ấy thể hiện đầy đủ trong ca dao. Bởi vậy, ngoài việc nhấn mạnh qua từ “để”, tác giả còn láy lại điệp khúc “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Đây là kết quả tất yếu của một thời đại nhân dân thực sựlàm chủ đời mình,làm chủ Đất Nước. Qua đoạn thơ, ta thấy sự vận dụng sáng tạo văn học dân gian của Nguyễn Khoa Điềm. Ông ít lặp lại nguyên văn mà thường sử dụng từng ý, từng hình ảnh thơ của người xưa. Giọng chính luận - trữ tình phù hợp với nội dung tác phẩm. Thực ra, tư tưởng đất nước nhân dân đã hình thành từ lâu. Nguyễn Khoa Điềm chỉ nâng cao tầm tư tưởng ấy và diễn đạt nó bằng ngôn từ, giọng điệu mới, độc đáo. Ông tạo được một đoạn thơ hiện đại đậm đà bản sắc dân gian. Bởi vậy, thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa quen vừa lạ và có sức thuyết phục cao. [b]Theo canhdieumouoc's blog[/b]

Nguyen Ha My

Bạn làm theo dàn ý dưới đây nhé! Chúc bạn thành cống Trong một xã hội ngày càng phát triển thì tâm lý con người ta ngày càng phức tạp.Đáng quan tâm là nạn bạo hành diễn ra phổ biến ở nhiều nơi và nạn nhân của nó thì không chừa bất kì độ tuổi nào. Có một câu chuyện nói về tình yêu thương dành cho cha mẹ của con cái: Một làng có tục hễ người nào đã quá già ,không còn đỡ đần được gia đình sẽ được đưa bỏ vào núi .Và núi đó được gọi là" núi người già "... Không biết em có biết câu chuyện này không? Nhưng nhìn vào hành động vứt bỏ cha mẹ của con cái ta có thể thấy nạn bạo hành không phải trong xã hội hiện đại mới có. Bạo hành là thái độ bạo lực đáng phê phán trong xã hội.Có một bộ phim Việt Nam nói về lối cư xử bất hiếu của con cái đối với cha mẹ :3 người con phân công nhau thay phiên nuôi mẹ .Họ thống nhất mỗi tháng phải nuôi mẹ tăng thêm bao nhiêu .Và cứ mỗi tháng ,những người con bỏ thêm đá vào túi áo mẹ để đem bà đi cân... ---<Rõ ràng nạn bạo hành không chỉ diễn ra trong xã hội mà ngay cả cấp độ tế bào của xã hội. Có những nhà trẻ trá hình được xây dựng nên và không may cho nhiều em bé bị gửi vào đấy :bị ăn đòn thường xuyên -->những tổn thương mà các em phải chịu đựng vào lứa tuổi ấy là hết sức nghiêm trọng về lâu dài. Có thể để ý thấy trên báo chí ,các phương tiện truyền thông,...không ngày nào lại không có những "nạn bạo hành " kể trên. (Chồng đánh vợ,mẹ kế hành hạ con riêng,bóc lột sức lao động của trẻ em ,nạn mua bán phụ nữ và trẻ em ,...) Có những em gái tuổi đời chưa qua mười năm mà đã bị bán cho nhà chứa ."Nạn bạo hành " dường như càng ngày càng đe dọa Xh ,đạo đức ,văn hóa con người một cách tinh vi ,xảo quyệt. Cách trá hình của nó cũng vô cùng phong phú ,đa dạng... Phát biểu ý kiến của em về nạn "bạo hành" :VD:làm suy đồi đạo đức Xã hội ,đe dọa cuộc sống ,nhân quyền . Theo pháp luật ,"Nhân quyền "của mỗi con người là "bất khả xâm phạm" -->những kẻ đi trái cần bị trừng trị đích đáng ...vv...
Dê` bai: giữa một vùng sỏi đá khô cằn, vẫn mọc và nở những chùm hoa thật đẹp.em hãy viết một bài văn nghị luận về hiện tượng đời sống trên. Giúp tớ với!!!

hay lắm bai nay danh cho h/s thcs khoi 8/9
làm on chi tui cach lam bai van nghi luan xa hoi ve viec truong hoc than thien hoc sinh tich cuc dum cai[:(][:(]

Sakura Kinomoto

Thầy cô, mái trường, bạn bè và nhưũng kỉ niệm trong 2 năm qua, nó tồn tại và được cất giữ trong tim, nhẹ nhàng và đem nó ra ngồi nhìn lại, thực sự là những điều đpẹ đẽ. Một thời em nhớ về thầy cô, một thời em nhớ về mái trường và nơi ấy, em biết rằng cũng có những người bạn mà em yêu quý nhất. Mọi kỉ niệm đều là dĩ vãng, nhưng dĩ vãng đó sẽ luôn đọng lại trong lòng em như chính ngày hôm qua em đã làm được 1 điều gì đó cho cuộc sống này. Mái trường nơi đó, ngày đầu tiên em bước chân vào, đứng trước cánh cổng xanh một màu xanh mát mẻ, ươm một màu nắng nhẹ của buổi sớm mai em đến. Cái cảm giác bỡ ngỡ, em cứ tưởng mình sẽ ko có, bởi nó đã đến khi em bước chân vào lớp 1, còn bây giờ là lớp 6, đã 5 năm rồi, nghĩ rằng nó sẽ chẳng đến nữa đâu, nhưng vẫn là cảm giác ấy, sự bỡ ngỡ như những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, cũng bửoi cái mới, cái lạ. Rồi khi đã quen dần, bước vào cánh cổng ấy, sự bữo ngỡ ngày nào đó mãi là kỉ niệm đẹp. Rồi lớp 7, nhìn trường bằng ánh mắt thân thương quen thuộc, 2 năm nó ko phải là thời gian dài gắn bó, 2 năm ko phải là quá dài nếu như đem so sánh với những anh chị lớp 8, lớp 9, nhưng nó đủ để em cảm nhận được sự thân thương từ ngôi trường này đây, cảm nhận được sự yêu mếm của thầy cô, bạn bè, và cũng đủ để tìm kiếm được mọi ngóc ngách trong trường 1 cách dễ dàng. Khi đi xa ta nhớ, khi ở gần ta thương, những con người ngày đêm tận tụy, em quên sao được nụ cừoi của cô khi đứng trên bục giảng, em quên sao được ánh mắt của thầy khi chỉ dạy từng đứa cách làm bài. Cái lớp 7, nó chưa đủ để biến yêu thương thành hành động, nhưng đó là thời gian yêu thương được cất giấu và nung nấu. Rồi ve gọi hè, rồi phượng nở, rồi mùa chia tay,... nó đến khẽ khàng, nhẹ nhàng như tuổi già đến với con người. Đem đến bao nhiêu kỉ niệm và cũng đem đến bao sự nuối tiếc về những ngày cùng tung tăng với bạn đến trường, những giờ cùng bạn ôn bài, những giờ chơi vui vẻ huyên náo, những lầm em và bạn giận nhau,.... Hai năm, cũng đã đủ để viết nó vào trang kỉ niệm. Kỉ niệm đẹp - thầy cô, bạn bè, mái trường - nơi em đuợc sinh ra lần thứ hai.
viết 1 đoạn văn nghị luận xã hội ( khoảng 12 câu ) về các vấn dề sau : 1/ ứng xử đạo đức của học sinh trong nhà trường hiện nay 2/ vấn đề thái độ học tập của học sinh trong nhà trường hiện nay Cần theo dàn bài sau: _ dẫn dắt, giới thiệu _...
(Xem thêm)

pham ngoc quynh nhi

anh chi giup em cau nay voi [:(][:((]

thu

Lòng tự trọng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người. Đó là luôn chú ý giữ gìn phẩm giá, nhân cách của mình dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Người có lòng tự trọng là người có đạo đức, có thiên lương, có tư tưởng nhân nghĩa, không bao giờ làm điều xấu, việc ác. Xưa nay, trong các gia đình tử tế, sống có nền nếp, có gia phong tốt đẹp, các bậc ông bà, cha mẹ thường khuyên dạy con cháu phải có lòng tự trọng: “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “Miếng ăn quá khẩu thành tàn”... Có cụ bà gia đình gia giáo dạy con: “Làm bất cứ công việc gì và dù ở đâu, ngay cả những khi chỉ có một mình, cũng phải nghĩ rằng luôn luôn có quỷ thần hai vai chứng giám”. Có thể nêu ra rất nhiều biểu hiện của lòng tự trọng: Không tham tiền bạc, của cải bất chính; Nhặt được của rơi, trả lại người mất; Lỡ va quệt xe cộ vào người đi đường thì đỡ người ta dậy, hỏi han và xin lỗi hoặc đưa vào bệnh viện; Đi xe không lạng lách, đánh võng, vượt ẩu, thực hiện tốt văn hóa giao thông; ăn nói và trang phục lịch sự, khiêm nhường; không buôn gian bán lậu, không tăng giá vô tội vạ để bóp hầu bóp cổ đồng bào của mình... Người có lòng tự trọng biết xấu hổ khi lỡ xảy ra điều gì sai trái và có ý thức sửa chữa đến cùng. Nói rộng ra, người có lòng tự trọng cũng không bao giờ mua chức, bán danh hoặc luồn cúi trước uy quyền để cầu cạnh, tư lợi. Người có lòng tự trọng bởi tiếp thụ được sự giáo dục đúng đắn, chu đáo, tốt đẹp trước hết từ ngay trong gia đình mình. Chẳng thế mà cổ nhân đã dạy rất chí lý: “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy” hoặc “Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh”... Gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, nhân phẩm cho con em. Gia đình chính là trường học đầu tiên và cha mẹ chính là người thầy giáo đầu tiên của mỗi người! Tiếp liền với giáo dục gia đình là giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Ba môi trường giáo dục này có trong sáng, lành mạnh và có phương pháp giáo dục tốt thì mỗi người mới có lòng tự trọng, mới có những phẩm cách tốt đẹp. Tuy nhiên, bản thân mỗi người cũng phải biết tự giáo dục mình, tự điều chỉnh hành vi của mình theo truyền thống đạo lý dân tộc và lối sống văn minh mới có thể đạt tới cái Chân - Thiện - Mỹ. Nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự thật thì phải chăng người Việt mình hiện nay, trong mặt trái của công cuộc “mở cửa” và sự sơ khai của nền kinh tế thị trường đã xuất hiện rất nhiều người thiếu lòng tự trọng? Tôi nhớ câu nói của Tê-rếch Sam, cô gái gốc Việt xinh đẹp từ nước Anh về Hà Nội dự chung kết cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Việt lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam. Ngồi xe con đi trên đường phố Hà Nội hỗn loạn vì xe cộ, nhiều lúc cô thót tim vì sợ tai nạn giao thông có thể đến với mình bất cứ lúc nào. Có nhà báo hỏi: “Trước khi trở về Anh quốc, cô có nhận xét gì sau những ngày ở Việt Nam và Hà Nội?”, Tê-rếch Sam trả lời rất chân thành và hồn nhiên: “Em nghĩ là mỗi người nên có lòng tự trọng khi tham gia giao thông!”. Cũng nhận xét về tình trạng giao thông quá bát nháo ở Việt Nam, nữ văn sĩ nổi tiếng người Đức, bà Y-u-li Giê-ni, sau 4 tuần du lịch ở Việt Nam, đã viết cuốn sách rất thu hút độc giả Đức nhan đề:Nhật ký du lịch Việt Nam. Bà mô tả cảnh giao thông ở Việt Nam và Hà Nội “quay cuồng như một màn xiếc tập thể” và “như một nồi súp cực nóng” khiến bà hoảng loạn. Và bà kết luận: “Tham gia giao thông ở Việt Nam cần ý chí dũng cảm và không sợ chết”. Gần đây, nhiều tờ báo có tên tuổi của ta đã có diễn đàn và chuyên đề phê phán những thói hư tật xấu của người Việt với những bài viết chân thành, thẳng thắn. Đấy là những người viết trung thực và có lòng tự trọng, mong muốn bồi dưỡng và nâng cao lòng tự trọng đích thực của dân tộc mình, để xây đắp nền văn hóa dân tộc. Càng có nhiều người có lòng tự trọng thì xã hội càng tốt đẹp, đất nước mới phát triển ổn định và bền vững; danh dự giống nòi càng được bè bạn quốc tế yêu mến, khâm phục.
Xin các bạn yêu thích văn học giúp mình với:viết đoạn văn ngắn khoảng 20-25 dòng phát biểu suy nghĩ của anh(chị)về đôi bàn tay Tnú hãy giúp mình viết bài văn nhanh nhất nghị luận văn học về đôi bàn tay Tnu nhanh lên bạn nhé
(Xem thêm)

Huỳnh Như

k hỉu ý của đề cho lém, rõ hơn
Văn Nghị Luận Đề: nêy suy nghĩ về Hưng Đạo Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Anh chị làm ơn giúp em dàn ý cũng được , 1 bài tham khảo thì càng tốt. Thanks

thu

Trong số những tác giả viết sách sử hiện nay mà tôi từng đọc, người để lại ấn tượng mạnh nhất là bác Tạ Chí Đại Trường. Lịch sử trong sách của bác không bị ảnh hưởng, ràng buộc, che đậy,…bởi bất cứ thứ gì thuộc về hiện tại. Bằng sự khách quan hết mức có thể kèm theo tư duy nhạy bén và logic, bác Tạ Chí đã bóc tách tất tần tật những thứ dây dưa chủ quan, những vinh quang thần thánh, những mưu đồ chính trị,…mà người ta thường thấy ở những nhân vật kiệt xuất, những sự kiện chấn động,…đưa tất cả về lại điểm số 0 thực tại, nơi con người vẫn là con người, sự kiện chỉ là sự kiện, nơi quá khứ chính là quá khứ chứ không phải thứ quá khứ khoác lên mình lớp áo của hiện tại. Do đó, lịch sử qua cách nhìn của bác Tạ Chí Đại Trường, trong cảm nhận của tôi, là thứ lịch sử thật nhất, đời nhất, người nhất, sát với bản chất của nó nhất, và hiển nhiên, cũng dung dị và dễ chấp nhận nhất. Nhưng điều đó chỉ sẽ xảy ra với bạn trong trường hợp bạn muốn tiếp cận lịch sử bằng con đường chân chất và thuần khiết, xem nó như một bộ môn khoa học, hay nói cách khác, không bị ảnh hưởng bởi những thứ yêu ghét ở đời, không bị ràng buộc bởi định kiến hay ý đồ chính trị, hoàn toàn tự do suy luận bằng đầu óc của chính mình. Bởi vì, lịch sử qua cái nhìn của bác Tạ Chí là một lịch sử vô cùng trong sáng (trong sáng ở đây phải hiểu là sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể với những thứ mà bản chất không có liên quan), là nơi gặp gỡ những lời giải thích rằng tại sao quá khứ đã xảy ra như vậy, chứ không phải để nghe những lời phê phán khen chê sáo rỗng hoặc có mục đích (không trong sáng) về quá khứ. Hôm nay, để “đổi gió” nhân lúc Sài Gòn chuyển mình từ hạ sang thu, tôi cũng muốn thử một lần bóc trần hết mọi vinh quang để đưa con người về với điểm số 0 của thời đại họ. Nhân vật của bài cảm nhận lần này là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Hãy tạm gác hết những chiến công đi vào huyền thoại sang một bên trước khi tiếp cận góc khuất nội tâm nơi con người này, đặc biệt là theo cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường. Cũng hãy tạm xem như “Đức thánh Trần” chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, tức là, tạm thời gạt bỏ lớp áo tín ngưỡng đi. Và điều còn lại bây giờ là: một con người tên Trần Quốc Tuấn_quý tộc thuộc dòng họ Trần lẫy lừng (dòng họ vốn gắn liền với vụ bê bối mang tên “chế độ nội hôn”). Trước hết, cần trích dẫn sơ lược sự kiện đã diễn ra theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư: “Tân Hợi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 20 [1251] (Từ tháng 2 về sau là Nguyên Phong năm thứ 1, Tống Thuần Hựu năm thứ 11, Nguyên Hiến Tông Mông Kha năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 1, đổi nguyên hiệu là Nguyên Phong (năm thứ 1). … Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai Yên Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn. Ngày 15 tháng ấy, vua mở hội lớn 7 ngày đêm, bày các tranh về lễ kết tóc và nhiều trò chơi cho người trong triều ngoài nội đến xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước đó, vua cho công chúa Thiên Thành đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng. Công chúa Thụy Bà (chị ruột của Thái Tông, cô của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cáo cấp. Người coi cửa vội vào tâu. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời: “Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu” Vua vội sai nội nhân đến dinh Nhân Đạo Vương. Đến nơi, thấy yên lặng, bèn vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Quốc Tuấn đã ở đấy. Nhân Đạo bấy giờ mới biết chuyện. Hôm sau, Thụy Bà dâng 10 mâm vàng sống, tâu rằng: ” Vì vội vàng nên không sắm được đủ lễ vật”. Vua bắt đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành Vương.” Sự kiện “tưng bừng” này được tường thuật khá chi tiết và sinh động trong sử sách, lại không vì công lao sau này của Quốc Tuấn mà lược bỏ đi, kèm theo lời phê rất khắc nghiệt của Ngô Sĩ Liên, chứng tỏ tiền nhân không vì vinh quang về sau mà gạt bỏ thực tại, một thái độ rất chuyên nghiệp khi chép sử. Tuy nhiên, chuyên nghiệp khi chép sử là một chuyện, còn có khách quan và logic hay không lại là chuyện khác. Dễ thấy, Ngô Sĩ Liên đã bị ảnh hưởng bởi Nho giáo, ảnh hưởng bởi văn hóa đạo đức, nên đã có lời phê rất khắc nghiệt về sự kiện này, nhưng, nếu để ý kĩ lưỡng hơn, ta sẽ thấy Ngô Sĩ Liên còn bị ảnh hưởng bởi “những vinh quang sau này” của Đức Thánh Trần khi đã đổ toàn bộ tội trạng cho đời trước, ngược lại, nhân vật chính trong vụ náo loạn là Trần Quốc Tuấn lại không bị phê bình gì nghiêm trọng (Ngô Sĩ Liên là một sử quan đời sau, không phải sử quan của thời nhà Trần): “ Con gái vua lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn, theo lễ phải thế. Thái Tông đem Thiên Thành công chúa gả xuống cho Trung Thành Vương, nhưng công chúa lại về với Hưng Đạo Vương, việc hôn nhân rất là bất chính. Thế thì lễ cưới này không ai đứng chủ ư? Vì vua đã bất chính trong đạo vợ chồng, cho người làm tôi con cũng bắt chước. Vả lại, hôn nhân không lấy người khác họ mà lấy người cùng họ, thì chỉ có nhà Trần làm thế. Trong việc trái lễ, lại trái lễ nữa.” Ở đây, Ngô Sĩ Liên có nhắc thoáng qua vụ việc hoán vợ đổi chồng giữa Trần Thái Tông Trần Cảnh (có thể là cha của Thiên Thành công chúa) và anh ruột là An Sinh Vương Trần Liễu (bố đẻ của Trần Quốc Tuấn), vụ việc vốn để lại nhiều áy náy cho Thái Tông cũng như nhiều bức xúc oán hận cho người bị mất vợ là Trần Liễu. Lấy hành vi của người đời trước để xóa tội cho người đời sau là một việc làm (theo cá nhân tôi) là không hợp lý. Nhưng lấy hành vi của người đời trước để lý giải cho hành vi của người đời sau là một việc làm hết sức khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu lịch sử, nơi những sự kiện xảy ra đều ít nhiều có liên hệ với nhau. Đa số những tài liệu ca ngợi công lao của Trần hưng Đạo (kể cả sách giáo khoa sử, văn, và các sách tham khảo) đều cố tình bỏ qua những đoạn lộn xộn về hôn nhân và gia đình như vừa trích dẫn ở trên, ngược lại, lại viết kĩ lưỡng đến từng chi tiết sự kiện sau đây: “… Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Ngày sau có thể giúp nước cứu đời”. Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn trối trăn rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.” Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải. Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.” Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”. Hưng Vũ Vương trả lời: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”. Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”…” Đã khen thì khen cho trót, ai lại lôi chuyện xấu vào bao giờ. Họa hoằn lắm mới có sách vẫn cứ trích dẫn những chuyện lục đục, nhưng lấy cái xảy ra sau (tức là vinh quang và chiến công) để bào chữa cho cái xảy ra trước (vụ cướp công chúa Thiên Thành), đồng thời, cho trích dẫn luôn cả đoạn sử chép ngay phía trên để càng làm cho con người Trần Hưng Đạo cứ sau mỗi thời lại càng “thần thánh” xa rời hiện thực con người hơn. Thêm vào đó, quan điểm về chế độ nội hôn của họ Trần, sau vài trăm năm cách biệt, đã trở thành một điều hoàn toàn không thể chấp nhận ở thời hiện đại (mà thực ra ngay trong quá khứ, tại chính thời đại đó, đã là khó chấp nhận lắm rồi), nên mới sinh ra “vấn nạn” đào tung sử liệu để khẳng định công chúa Thiên Thành là chị em họ với Quốc Tuấn chứ hoàn toàn không phải là cô ruột (theo quan điểm của một vài nhà nghiên cứu khác), mục đích của đa số các tác giả trên suy cho cùng (lại) là muốn bào chữa cho những cái không phù hợp với vị trí của Đức Thánh Trần. Thực chất, hành động tưởng chừng rất “khoa học lịch sử” đó lại vô tình chứng tỏ nhận thức của một vài nhà nghiên cứu về lịch sử vẫn còn “chưa được trong sáng”. Ngược lại, trong cuốn sách “Những bài dã sử Việt”, mục “Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần”, bác Tạ Chí Đại Trường bằng tinh thần trong sáng với lịch sử rất đặc trưng của mình, đã kết hợp tất cả các sự kiện xảy ra trong khuôn khổ gia tộc của Trần Quốc Tuấn để lý giải những mắc mứu khó hiểu có liên quan. Và ta thấy, có chăng, sự khó hiểu chẳng qua chỉ vì đôi khi ta cứ cố xoay chuyển sự thật theo một hướng nào đó để bản thân luôn luôn nghĩ tốt về một đối tượng nào đó mà quên mất rằng ai cũng chỉ là con người, có quá khứ và có lầm lỗi, có dao động và có lựa chọn: “… Trần Quốc Tuấn bị hấp dẫn bởi công chúa Thiên Thành hẳn cũng nằm trong sinh hoạt bình thường đó (ý ám chỉ tục kết hôn cùng họ) . Có điều đáng chú ý là đối tượng của Quốc Tuấn lại là con gái Thái Tông nên có thể ngờ rằng ý thức trả thù theo lời dặn của cha chắc có chen vào hành động đó: vụ cướp vợ chỉ xảy ra trước khi Trần Liễu chết có hai tháng, nghĩa là giai đoạn tột đỉnh căm thù khi Liễu biết mình sắp chết. Sử quan đã thuật lại khá nhiều về sự gay gắt xảy ra giữa Quốc Tuấn một bên, Thái Tông và các con một bên. Nhưng ngay chính trong những giai đoạn khen Quốc Tuấn, ta thấy ảnh hưởng những lời dặn dò của Trần Liễu không phải không có ở người con đặc biệt này: trong lời dọ ý của gia nô (Yết Kiêu, Dã Tượng) và một người con trai (Hưng Vũ Vương) ông đều gặp phản đối và chỉ thấy một người con tán đồng (Quốc Tảng). Điều đó chứng tỏ ý định thầm kín nghe theo lời cha vẫn còn trong tâm trí ông, nhưng một mặt vì đã có mối liên hệ với Thái Tông (qua Thiên Thành), có thể với Nhân Tông (rể) lúc câu chuyện xảy ra, mặt khác phe phản đối ngay trong vây cánh lại là đa số, nên ông mới dứt khoát từ bỏ ý định cướp ngôi, và vì đã lộ ý hỏi dò thì phải tỏ ra phản đối mạnh mẽ nên có chuyện đòi giết Quốc Tảng, tuyệt tình đến khi chết. … ” Từ đoạn trích dẫn trên, ta thấy Tạ Chí Đại Trường đã giải quyết rất gọn gàng, khách quan và có hệ thống những điểm bất ổn trong cuộc đời Trần Quốc Tuấn, điều mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng làm được, để đưa Trần Quốc Tuấn về với những bản tính rất con người và rất chân thực của mình. Và hiển nhiên, một khi đã được giải thích rõ ràng, thì việc che cái này giấu cái kia khi nói hoặc viết về cuộc đời một con người hoặc về một sự kiện lịch sử là hoàn toàn không cần thiết, và cũng không nên xảy ra. Đến đây, tôi mạo muội đưa ra kết luận này: chỉ khi loại bỏ hẳn những điều thần thánh, những ý đồ không trong sáng, định kiến hoặc sự thần tượng đặc biệt,… người ta mới có thể lý giải về một con người trên khía cạnh của một con người. Lại nhớ đến một câu hát trong vở nhạc kịch “Ngàn Năm Tình Sử”, thấy phù hợp nên lấy làm câu kết cho bài cảm nhận: “…Anh hùng cũng như bao người, cũng biết yêu thương, cũng biết đau buồn, và còn hơn thế, còn đau hơn thế…” (Trích “Khai Từ, một niềm đau lớn”, Ngàn Năm Tình Sử)
giup em de van nghi luan : suy nghi cua em ve viec lua chon nghe nghep trong tuong lai

thành

Hiện nay, vấn đề lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai đối với tất cả chúng ta, đặc biệt là những học sinh cuối cấp như chúng tôi quả thật là rất khó. Tương lai đang mở ra trước mắt, phía trước có biết bao con đường để lựa chọn. Song, để chọn được một con đường thích hợp với khả năng của mỗi người thì đó là cả một vấn đề. Như chúng ta đã biết, nghề nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự ổn định cuộc sống của mỗi con người. Là những Đoàn viên chi đoàn khối 12, đối với chúng tôi, sự lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cho tương lai là hết sức quan trọng. Đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, chúng tôi phải có sự lựa chọn thật đúng đắn nghề nghiệp tương lai sao cho công việc ấy phải phù hợp với năng lực, trình độ của bản thân và phải giúp ích cho đất nước. Khi nhìn vào thực tế, chúng ta đã thấy không ít các bạn trẻ đã có sự lựa chọn rất rõ ràng, đó là: "Sau 12 năm học tập, rèn luyện vất vả trên ghế nhà trường, con đường tiếp theo sẽ là cổng trường Đại học!" . Vâng, "Cổng Trường Đại Học" đó vừa là ước mơ, vừa là cái đích của biết bao học sinh chúng ta. Vào được Đại học nghĩa là 12 năm đèn sách không hề bị uổng phí. Vào được Đại học cũng có nghĩa là bạn đã đền đáp được phần nào công lao vào sự vất vả của cha mẹ, thầy cô.... Vậy thì điều đáng quan tâm ở đây là gì? Vào Đại học là phải thi vào các trường Kinh tế quốc dân, Học viện tài chính, Ngoại thương, Bưu chính viễn thông, Bách khoa... Đó quả thực là những suy nghĩ hết sức tiêu cực và thực dụng. Mặt khác, không phải ai ai trong mỗi chúng ta cũng đều có khả năng bước qua được cánh cổng trường Đại học. Mỗi người đều có những hạn chế riêng của bản thân. Và đâu phải chỉ có mỗi con đường Đại học là duy nhất?! Chúng ta còn có rất nhiều con đường khác để lựa chọn sao cho phù hợp với trình độ và năng lực bản thân như vào các trường Cao đẳng, trung cấp, các trường hướng nghiệp dạy nghề... Vậy, điều quan trọng ở đây là gì? Quan trọng là bạn phải có sự say mê, hứng thú với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn! Có niềm say mê, bạn sẽ làm được những điều mình muốn! Một điều đáng nói nữa ở đây, đó là một số phụ huynh coi việc con cái mình thi đỗ các trường Đại học nổi tiếng là danh dự của cả gia đình. Có trường hợp còn bắt buộc con mình phải thi trường nọ, trường kia mà không hề nhìn vào thực lực học tập của con cái. Đây đúng là một vấn đề mà tất cả chúng ta cần phải nhìn nhận và xem xét lại một cách nghiêm túc và khách quan hơn. Chỉ mới đây vài năm thôi, chúng ta đã thấy tình trạng là rất nhiều bạn trẻ đổ xô vào các trường như: Đại học Luật, Đại học Bách Khoa, Đại học Kinh tế... Họ ngày đêm học tập, dùi mài kinh sử. Kẻ trượt thì không nói làm gì, nhưng những người đỗ thì cũng thật đau xót không kém khi mà suốt bao năm miệt mài đèn sách, để rồi cầm tấm bằng tốt nghiệp loại ưu trong tay, nhưng vẫn thất nghiệp, không xin được việc làm. Kính thưa các vị đại biểu, các thày cô giáo cùng toàn thể các đồng chí! Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ phải có một sự lựa chọn nghề nghiệp cho đúng đắn, cho phù hợp với bản thân. Lựa chọn được một con đường đúng có nghĩa là bạn đã bắt đầu bước vào một cuộc hành trình mới, " một cuộc hành trình không khởi đầu với bước chân đầu tiên mà khởi đầu với lòng khát khao muốn đi tới nơi mà bạn chưa từng đặt chân đến" ... Đất nước ta hiện nay đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rất cần phải có những người có lòng say mê, nhiệt tình với công việc mà mình lựa chọn. Bác Hồ đã từng nói: "Trong xã hội ta, không có nghề nghiệp thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ.... Tất cả những lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang" . Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Thế hệ trẻ chúng ta liệu có nhất thiết cứ phải thi vào các trường Đại học mới là tốt hay không? Hiện nay, tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" đã trở nên khá phổ biến trong xã hội. Tại sao lại như vậy? Bởi vì những học sinh sau khi tốt nghiệp cấp III phần lớn đều lao vào các trường Đại học. Ai cũng muốn thử một lần thi cho biết thế nào là "mùi thi Đại học". Vâng, mới nghe thì các bạn có thể cho là buồn cười, song đó là sự thật! Ước tính cứ khoảng 100 người thì có tới 97 học sinh "lều chõng" đi thi Đại học. Còn lại 3 người thì nộp đơn vào các trường Cao đẳng, trung cấp hay các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề. Nếu như 97 người đó đều đỗ vào Đại học, đều say mê với nghề nghiệp mình lựa chọn thì đó quả thật là điều hết sức đáng mừng cho sự phát triển của đất nước, góp phần đưa nước ta trở thành một cường quốc hùng mạnh. Song, điều đáng nói ở đây là gì? Trên thực tế, trong 97 người đó, thì chỉ có không đầy 12 người thi đỗ đại học. Vâng, một con số hết sức "khiêm tốn"! Và, một vấn đề nữa lại mở ra trước mắt: Những người trượt Đại học, họ sẽ làm gì trong khi cuộc sống vẫn tiếp diễn? Câu trả lời ở đây là "Nộp đại đơn xét tuyển vào một trường nào khác, bất kì, không cần biết mình thích hay không, miễn là ĐỖ !". Một số khác không đủ điểm xét tuyển thì sự lựa chọn duy nhất của họ là: "Ở nhà!". Hoặc họ sẽ lao vào những công việc kiếm tiền như buôn bán, chợ búa; Hoặc họ sẽ lại tiếp tục con đường trau dỗi kiến thức, chuẩn bị cho kì thi năm sau. Vậy thì thử hỏi, chỉ không đầy 3 năm sau thôi, họ sẽ trở thành những con người như thế nào? Trong khi 3% bé nhỏ kia đã trở thành những người công nhân, những người thợ lành nghề, đã và đang đóng góp sức mình để xây dựng đất nước? Các bạn ạ, là một người thợ không có gì phải xấu hổ cả. Đó cũng là một cái nghề đáng kính trọng trong xã hội như bao nghề khác. Nó cũng phục vụ đất nước, góp phần tạo nên nền tảng cho nền kinh tế nước nhà. Có người nói rằng: "Mỗi lần bạn lựa chọn một cách có ý thức là bạn đã học được một bài học tự tin" và "Khi không làm được những điều bạn muốn, hãy làm những điều bạn có thể làm" . Vâng, điều đó có nghĩa là gì ạ? Chúng ta không nhất thiết là cứ phải thi vào các trường Đại học. Càng không nên chạy theo "mốt" thi vào trường nọ trường kia. Hãy tự tin và lựa chọn con đường mà mình cho là phù hợp nhất với bản thân! Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang rất chủ trương đầu tư cho việc dạy nghề, đào tạo những người thợ giỏi, có kĩ năng làm việc và tinh thần trách nhiệm cao, có lòng say mê với công việc của mình. Đó chính là một đường lối mới cần được phát huy hiện nay. Và phải chăng, đó cũng chính là một cánh cửa khác để chúng ta lựa chọn?! Nhưng để đảm bảo cho bản thân có một nghề nghiệp trong tương lai, trước hết, mỗi chúng ta đều phải luôn học hỏi, không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ của chính mình. Không những chúng ta học cho bản thân, cho tương lai của chính mình, mà còn học để góp phần xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn. ..... Các bạn ạ, tương lai đang mở rộng và dang tay chào đón tất cả chúng ta. Các bạn hãy mạnh dạn lựa chọn cho mình một con đường, một nghề nghiệp phù hợp với trình độ và khả năng của bản thân để sau này, khỏi phải hối tiếc khi nghĩ về sự lựa chọn của mình. chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: "Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công" Mỗi Đoàn viên chúng ta hãy ra sức tự rèn luyện bản thân mình để nâng cao phẩm chất và đạo đức của người Đoàn viên thanh niên. Từ đó tạo cho mình một vốn tri thức để vững vàng đi lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta hãy tự tin hơn trong cuộc sống, hãy lựa chọn một nghề nghiệp thích hợp cho tương lai của chính bản thân mình và cũng là cho chính dân tộc mình.
Đề 1:" Trình bày và nêu suy nghĩ của mình về 1 tấm gương học sinh nghèo vượt khó,học giỏi" Đề 3 :"Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn.Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác.Hãy nêu ý kiến của em về...
(Xem thêm)

lala

zo violet ma xem trong do co nhieu bai hay lam
Giúp em em cần gấp

hateone

NGHÈO ĐÓI VÀ MÔI TRƯỜNG Hôm nay, tôi sẽ mang đến cho các bạn một chủ đề mà có lẽ là chủ đề này đang được toàn thế giới quan tâm. Chủ đề này đã tốn không ít giấy mực của gíới báo chí và luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất trong các cuộc hội thảo toàn cầu. Đó chính là sự biến đổi khí hậu và những hành động của con người để khắc phục hậu qủa này. Vâng, như các bạn đã biết trái đất đang nóng dần lên và có lẽ nhiệt độ của nó còn tăng thêm nữa. Không khí ngày càng ô nhiễm bởi khói bụi và khí thải độc hại, và có lẽ giá nước sẽ càng đắt đỏ sau chỉ 10 hay 15 năm nữa, còn nghèo đói làm cho con người không có điều kiện để dùng các sản phẩm sạch. Nghèo đói khiến người ta phải chặt phá rừng, buôn bán ngỗ quý để mưu sinh và nghèo đói thì ko thể chi tiền để cải tạo môi trường. Vậy nghèo đói và môi trường luôn có quan hệ tương tác lẫn nhau và sẽ ko tách rời nhau. Để bảo vệ môi trường đã có một dự án phủ xanh đất trống đồi trọc bằng cách trồng cây xanh. Đó là một ý tường tốt nhưng khi dự án đó đc đưa vào thì nó đã thất bại. Nguyên nhân là do ng trồng rừng ko đc hưởng lợi nhiều về kinh tế khi họ tham gia vào dự án đó. Và thay vì trồng rừng thì người ta lại tiếp tục chặt phá rừng bởi điều đó mang lại thu nhập cho họ. Đã có rất nhiều dự án như thế bị thất bại. Vậy tại sao chúng ta không thay đổi bằng cách mang lại cho ng trồng rừng có đươc thu nhập tốt nhất cho họ. Hãy giao đất cho họ quản lí giúp họ các phương pháp kĩ thuật các cây giống để họ tự phát triển. Từ đó những đồi trọc đc bao phủ một màu xanh mà những người nghèo cũng có thể thu nhập từ nguồn lợi đó. Ở những nơi có hệ động vật đa dạng và phong phú có nhưũng bầy chim lớn và những con thú quý hiếm. Con người mưu sinh bằng cách thu nhặt trứng chim trong mùa sinh sản, bẫy thú và trồng trọt, đó là cuộc sống của họ nhưng điều đó đã làm ảnh hưởng đến hệ sinh tháí đặc biệt là hệ động vật. Buộc nhà nước và các tổ chức phải ngăn chặn điều đó. Một đề án đc đưa ra cấm ko đc thu nhặt trứng chim và săn bắt động vật. Nếu người dân làm đúng như vậy thì cuộc sống của họ sẽ ra sao khi mà nguồn thu nhập chính của họ bị cắt mát và cho dù họ phải miễn cưỡng làm điều đó thfi việc trồng trọt cũng bị ảnh hưởng bởi những con thú vào phá hoại rau màu của họ . Kết quả là người ta phải bắn chết những con nthú đó, cuối cùng chình nghèo đói đã dấn đến việc phải hoại môi trường và hệ sinh thái. Những điều đó có thể đc khắc phục nếu chúng ta biết thay đổi. Thay vì cách nói chuyện với họ là ko đc săn bắt thú rừng thì hãy nói rằng học sẽ kiếm đc tiền từ việc làm đó. Bởi khi ta xây dựng 1 khu du lịch sinh thái ở đây những người dân sẽ đc hưởng lợi từ thu nhập của ngành du lịch và thay vì đi sắn bắt thú rừng hãy trở thành những ng hướng dẫn viên du lịch bản xứ và làm nghề thủ công để bán. Những đồ lưu niệm cho du khách sẽ đc mở ra và người dân tại khu vực đó sẽ có công ăn việc làm mới mà hệ sinh thái vẫn ổn dịnh. Khu vực nc lợi, khu rừng ngập mặc có thể nói ở dây có hệ động thực vật đa dạng nhất. Chính bởi vậy mà 1 dự án nuôi trồng thuỷ hải sản đc đề xuất, ngay sau khi đi vào thực hiện dự án đã mang lại thành công lớn. Chính vì vậy nó ngày càng đc mở rộng ra và khi đó ng ta chặt những rừng cây để mở rộng diện tích nuôi tông thủy sản. Một năm, rồi hai năm diện tích nuôi trồng càng đc mở rộng những rừng cây càng thu hẹp và hệ động vật tự nhiên biến mất nguồn nc bị ô nhiễm bởi thức ăn dư thừa và các loại thuốc kháng sinh cho hải sản. Cũng vào thời gian đó, nước biển dâng cao và điều kiến người ta không ngờ tới chính là khi không có lớp rừng đệm giữa khu vực nc mặt và nc ngọt khiến sự ngập mặn lấn sâu vào đất liền khiến bị nhiễm mặn trở nên cằn cỗi và hoang hoá nc biến cũng lấn sâu và nc sông hơn, vậy chính việc phát triển của nuôi trồng thuỷ hải sản bừa bãi đã có tác động xấu tới môi trường như thế dự an đó đã phải thay đổi lại. Nghèo đói khiến người ta không tiếp xúc đc với công nghệ thông tin để bảo vệ môi trường. Họ không có các điều kiện để sử dụng ác sản phẩm thân thiện với môi trường và ngày nay ngay cả những quốc gia phất triển các nhà lãnh đạo vẫn luôn phải đắn đó trước việc bảo vệ môi trường hay là phát triển kinh tế. Bởi để đạt tới việc phát triển bền vừng là rất khó thực hiện trong khi nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tiết kiệm tối tiểu các chi phí phát sinh đặc biết là chi phí cho sự cố bảo vệ môi trường. Nhưng dù có như thế nào đi chăng nữa thì giờ đây mỗi chúng ta cũng phải thay đổi sự nhận thức của mình. Hãy chắt chiu từng giọt nước, tiết kiệm từng ngọn điện hay chỉ đơn giản là việc phân loại rác ngay chính gia đình của bạn. Như vậy chúng ta đã góp phần bảo vệ môi trường rồi. Hãy thay đổi, thay đổi và thay đổi trong chính những suy nghĩ của mỗi chúng ta. Đó là tất cả những gì mà chúng ta mang lại không chỉ cho bản thân mà cho con cháu chúng ta mai sau nữa. Đó là tất cả những gì mà tôi mong muốn tất cả các bạn hãy cùng tôi thực hiện. Và chỉ khi như vậy chúng ta mới có một trái đất xanh mãi mãi. Chúc bạn làm bài thật tốt!!!
Mọi người có thể gợi ý cho em về các ý cần có, bố cục, tư liệu, cách xắp xếp được ko ạ, làm sao đó chỉ viết khoảng 1 mặt giấy là đủ. Em xin cảm ơn !

ngo quoc tien

lai chemmmmmmmmmmmmmmmmm
Nhờ bác nào bro giúp e cái vấn đề về nghị luận với! nếu bai này không được 5đ chắc e đúp mất :(( NL văn học về bài Việt Bắc,Sóng,và Đất nước! E học L12.Mong các bác,anh.chị nào giúp e với ạ,t4 e kt rồi :(
(Xem thêm)
hãy nghị luận về một cảnh đời mà bản thân đã gặp ngồi viết xong đọc lại toàn thấy chả liên quan đến đề bài ai giúp mình với nhé cảm ơn trước[:x]

Tran Van Trung

Có những con người không may mắn khi chào đời . Tạo hóa đã thật bất công với họ . Trong số ấy không ít người chấp nhận số phận, thở ngắn than dài ngậm ngùi cho qua ngày tháng . Nhưng , vẫn có rất nhiều người trong số họ đã ko chấp nhập sự bằng lòng , họ đã dũng cảm và bền bỉ vượt lên sự an bài của tạo hóa. Thật đáng quý ! Một Nguễn Ngọc Kí liệt cả hai tay vẫn kiên trì tìm cách viết bằng chân. Từ chỗ viết dc , đến viết đẹp là cả một quá trình . Không dừng lại ở đó , anh còn quyết tâm thực hiện giấc mơ đại học . Và , giấc mơ ấy đã trở thành hiện thực của đời anh . Để hôm nay , anh trở thành thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí trên giảng đường Sư phạm . Đó còn là một Nguyễn Minh Phú , nạn nhân cảu chật độc màu da cam , mất cả hai tay tử khi cất tiếng khóc chào đời , không chịu thua số phận, vươn lên học tốt và học giỏi , giúp đỡ gia đình . Họ là những tấm gương vượt lên số phận , học tập thành công đáng để cho ta ngưỡng mộ , tự hào. Ở họ cái đáng quý nhất chính là nghị lực , ý chí vươn lên ko ngừng . Sự thua thiệt vốn rất dễ dẫn đến con ngươi mặc càm tự ti . Từ đó , không còn ham muốn , ước mơ , hoài bão . Con người sống lay lắt , trông chờ vào lòng thương hại của người khác . không, không phải là sống mà chỉ là tồn tại . Những tấm gương ấy đã không nằm trong số đó . Tạo hóa đã không công bằng với họ nưung ko có nghĩa lả lấy tất cả của họ . Họ vẫn còn một trái tim , một khối óc . Họ vẫn có thể sống đàng hoàng , tự tin như bao nhiêu người khác nếu họ biết vươn lên , chiến thắng số phận . Vâng , chính tình yêu và niềm tin vào cuộc đời đã tiế[ thêm ý chí và nghị lực . Để rồi chính sức mạnh ấy đã không phụ lòng những ngưởi thua thiệt . Hạnh phúc đã mỉm cười với họ . Dẫu hạnh phúc có đến muộn hơn , chật vật hơn nhưng dư vị của nó vẫn không vì vậy mà kém ngọt ngào hơn người khác. Những tấm gương vượt lên số phận , thànnh công trong học tập ấy không chỉ giúp chúng ta thấm thía giá trị của ý chí và nghị lực mà còn hiểu sâu hơn ý nghĩa về một cuộc sống có ý nghĩa . Có lẽ hơn ai hết , họ hiểu cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta biết sống có ích , sống đẹp với nó. Sự thua thiệt lúc này lại trở thành phép thử đối với tình yêu cuộc sống trong mỗi trái tim con người ấy. Vậy nên họ đã không chịu an bải trưước số phận . Họ đã chứng tỏ được rằng , cuộc đời cuộc đời vẫn rất cấn đến sựa có mặt của họ trên thế gian này . Những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm vẫn đang từng ngày , từng phút . từng giây góp mặt cho đời . Sự đóng góp của họ thật đáng để chúng ta soi ngắm lại chính mình . Thật buồn khi trong chúng ta , những học sinh , sinh viên đuợc tạo hóa ban tặng , ưu ái nhiều điều , vậy mà , một số họ lại chỉ biết ăn chơi , hưởng thụ . Xem nhẹ việc học tập , trau dồi đạo đức , nhân cách làm người , họ lao vào các chôu tò ra rất tự hào khi thấy mình sành điệu . Được khuyên nhủ , nhắc nhở , họ lại cuời nhạo vào những tấm gương cao đẹp ấy và buông ra những lời bất nhẫn . Thật đáng tiếc! Hiểu vậy, biết để mỗi người trong chúng ta , nhất là thế hệ trẻ càng phải hiểu mình phải sống ra sao , sống thế nào cho xứng với chân giá trị làm người . Soi vào những tấm gương cao cả ấy để không ngừng hoàn thiện bản thân . Con đừơng dẫn đến thành công không bằng phẳng bao giờ . Vậy nên , càng phải thấm rằng : “ Trên đường dẫn đến thành công không có vết chân của kẻ lười biếng “ . Trên vạn dặm , hãy biết chọn một dặm đường và đi cho đến . Để một lúc nào đó quay lại nhìn lại . ta hiểu rằng , cuộc đời này đã có gương mặt của ta . Tương lai đang đợi chờ ta phía trước . Để có một tương lai rạng rỡ , mỗi chúng ta hãy sống nhiệt tình và trọn vẹn với hiện tai . Dẫu những ngày ta đang sống còn gian khổ , , khó khăn đến mức nào thì cũng hãy vững tin mà sống . Bạn hãy tự đi trên đôi bàn chân của chính mình , chắc chắn bạn sẽ tới cái đích mà bạn muốn!
Viết một văn bản nghị luận ngắn về phẩm chất của người học sinh, trong đó có vận dụng kết hợp các thao tác phân tích và so sánh. HELP ME MAI NỘP OY HUUUU^^

jdhgjfg

Phẩm chất con người tùy thuộc vào hoàn cảnh, xã hội, gia đình...và một trong những phẩm chất đáng quý là phẩm chất của người học sinh. Với cả 1 thời gian gắn bó bên mái trường thân thương, những trò nghịch phá đã chẵng xa lạ gì, người ta thường nói '' Nhất quỷ, nhì ma, thứ 3 học trò''. Thời học sinh quậy phá nhưng thầy cô bạn bè rất yêu thương nhau....(thêm 1 số cái nữa, nói về tính tình của học sinh)... Nhưng trong xã hội phát triển ngày nay, phẩm chất của người học sinh càng đáng bị lên án. Một số học sinh quậy phá, không tôn trọng thầy cô. Vào lớp chọc thầy, phá bạn, không cho học. Ảnh hưởng cá nhân và cả tập thể......( Thêm 1 số ý xung quanh vấn đề xã hội : Phẩm chất tốt, phẩm chất xấu)
Nếu muốn viết về một bài văn nghị luận xã hội : " Nêu suy nghĩ và quan niệm của em về HIV/AIDS" thì phải có dàn i' như thế nào ? Em tìm trên mạng nhìu thông tin quá chẳng biết phải làm sao nữa. Anh chị giúp em nhanh nhanh nha.( em cần...
(Xem thêm)

nguyen quang kieu

Suy nghĩ và quan niệm của em về HIV/AIDS HIV /AIDS là 1 trong những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội. Nguyên nhân dấn vào con đường "nàng tiên nâu":Sự quá đà trong lối sống ->đem đến những hậu quả khó lường với bạn trẻ. Chỉ vì thiếu hiểu biết mà họ có tâm lý "thử cho biết " ,thử để "lấy cảm giác", và nhiều khi họ tìm đến ma túy để có được khoái cảm. Nhiều khi chỉ vì thiếu lập trường,đua đòi cho bằng bạn bằng bè mà họ bất chấp nhắm mắt dấn thân vào con đường chết . Đi vào con đường HIV nhiều khi không phải do tự bản thân mà còn do tác động bên ngoài của bạn bè,GĐ. Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn dắt một người đến tình trạng nghiện thuốc, cũng như có nhiều yếu tố bảo vệ giúp cho một người khó bị Ma Túy tấn công. Một thiếu niên bình thường sẽ chịu tác động của 4 lĩnh vực: quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, môi trường học đường và môi trường cộng đồng, nhưng gia đình là cơ sở chính cho thiếu niên sinh sống, lớn lên và phát triển tâm lý xã hội, chính gia đình là nơi chứa đựng những yếu tố bảo vệ cũng như nguy cơ nhiều hơn cả. Một số yếu tố nguy cơ hình thành sớm từ trong gia đình như: 1. Gia đình hỗn loạn, cãi cọ, gia đình kém kỷ cương, đặc biệt là gia đình có cha mẹ nghiện hay bệnh tâm thần; 2. Cha mẹ bất lực trong giáo dục, nhất là với những trẻ có tính khí bất thường hoặc khó dậy dỗ; 3. Các thành viên trong gia đình thiếu sự liên kết hoặc kém nuôi dưỡng. 4. Cha mẹ ly thân hay quá bận rộn, sự săn sóc và quan tâm đến con cái chưa đủ, ảnh hưởng trên con cái chưa đúng mức Một số yếu tố nguy cơ khác có nguồn gốc từ những hoạt động tương tác của trẻ với xã hội như trường học, bạn bè, cộng đồng như: 1. Có thái độ rụt rè nhút nhát quá, hoặc có thái độ hung hăng quá trong lớp học; 2. Thất bại trong học tập; 3. Khó hòa mình trong tập thể; 4. Nhập bọn với bạn xấu hoặc thích chơi với bạn vô đạo đức; 5. Ngầm đồng tình với những hành vi xấu, như việc sử dụng thuốc trong trường lớp, trong nhóm bạn bè, trong cộng đồng; 6. Kỷ luật trường ốc có sơ hở với những học sinh bất hảo; 7. Môi trường dễ kiếm thuốc. Nếu không kể đến nguy cơ ban đầu trên, thì giai đoạn có nguy cơ lớn nhất đầu tiên là khi trẻ rời khỏi nơi an toàn của em (gia đình) để đến trường học. Khi học xong tiểu học và lên trung học sơ cấp, các em bước đầu đã có kinh nghiệm về những thách thức xã hội, chẳng hạn làm sao để thích hợp với tập thể, với những loại bạn bè khác nhau, thành phần kinh tế khác nhau. Chính trong giai đoạn này, cá tính và nhân cách từng bước hình thành, mà nếu gia đình phó thác cho các em tự phát "như một bông hoa tự nở", thì giai đoạn thiếu niên sớm này các em thường chạm trán với lần sử dụng thuốc lá, cần sa hay Ma Túy đầu tiên trong đời. Khi em bước lên trung học cao cấp, bắt đầu chuẩn bị cho tương lai, chàng (hay nàng) tuổi trẻ phải đối mặt với những thách đố xã hội, tâm lý và giáo dục. Hoặc chàng ham chơi tìm cảm giác lạ, hoặc chàng/nàng đầu hàng những thách đố trên, chàng / nàng có thể sử dụng thuốc lá, rượu, hay những loại thuốc tác động tâm trí khác. Vai trò của gia đình vào thời điểm này có thể không mạnh như trước đây, nhưng vai trò của đoàn thể, xã hội vẫn còn giá trị của nó. Khi thanh niên bước vào đại học, lập gia đình hay đến sở làm, chàng vẫn luôn luôn phải đối phó với những cạm bẫy và nguy cơ của môi trường dành cho người trưởng thành, những thú vui ăn chơi, lạm dụng tình dục, sử dụng Ma Túy, nhậu nhẹt hàng ngày sau giờ tan sở... nếu như gia đình, đoàn thể không còn ảnh hưởng được đến chàng. Những nguy cơ sử dụng thuốc gây nghiện không chỉ giới hạn ở tuổi trẻ, thanh niên, trung niên, mà còn xảy ra đối với tuổi già. Bởi người già thường đau đớn mãn tính nhiều nơi trong cơ thể, các cụ thường hay sử dụng thuốc có nguy cơ gây nghiện cao như thuốc ngủ, an thần hay chống đau. Thêm nữa, tuổi già dễ bị nghiện cũng như tuổi trẻ. Các cụ hay buồn, giận hờn vì lệ thuộc con cái, tâm trạng thất vọng, cô đơn vì rất nhiều lý do nhân sinh kèm theo suy giảm mắt, tai,sức sống, các cụ dễ nghiện rượu và thuốc an thần. Khác với tuổi trẻ, tình trạng nghiện của các cụ hay bị bỏ sót, vì những tính nết bất thường, những hành vi quái lạ, những trục trặc cơ thể thường bị đổ thừa cho tuổi tác hay bệnh tật. Trong tình trạng của chúng ta hiện nay, những yếu tố nguy cơ rất nhiều cho mọi lứa tuổi,mà những yếu tố bảo vệ chưa phát huy được tác dụng tối đa vì chưa phối hợp chặt chẽ các biện pháp đa dạng trên nhiều lĩnh vực cá nhân-gia đình-đoàn thể / xã hội. Đối với những người đã từng sa ngã chúng ta cũng ko nên có hành động ruồng bỏ ,xa lánh .Tích cực giúp họ hòa nhập cộng đồng cũng là 1 cách góp phần ngăn chặn ,đẩy lùi nạn HIV/AIDS
viết bài làm văn số 6: nghị luận văn học đề 3: về một truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mà anh (chị) yêu thích

phamminhquang

[quote]Từ bài viết của [b]mitdac[/b] các bước làm bài văn nghị luận Hãy tưởng tượng với một bài văn cần có đủ 4 ý, bạn diễn đạt rất hay, phân tích sát vấn đề, sâu sắc trong từng khía cạnh, dẫn chứng rất sinh động, nhưng bạn chỉ nêu được 2 trong 4 ý cần có. Điều gì sẽ xảy ra? Bài văn của bạn có hay đến mức nào đi chăng nữa điểm số tối đa của bạn cũng chỉ đạt 50-60% số điểm, không hơn. Lập dàn bài trước khi làm bài thi chính là một cách để tránh sót và lặp ý. Dàn bài được lập một cách chi tiết hay sơ lược phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Trong quá trình ôn tập, chúng mình nên làm quen với việc lập dàn ý chi tiết. Còn trong phòng thi, để tiết kiệm thời gian chúng ta nên vạch nhanh một số ý chính để hình dung hướng đi bài viết của mình. Trong quá trình làm bài, bạn sẽ bổ sung dàn bài của mình bằng những ý nhỏ hơn và tiến hành triển khai trong bài viết. Đề văn ĐH thường có ba phần khá rõ ràng: 1 câu về kiến thức cơ bản (VD: cuộc đời, sự nghiệp của một tác gia, đặc điểm nghệ thuật của một tác gia...), 1 câu yêu cầu bình giảng, phân tích một đoạn trong một bài thơ, 1 câu yêu cầu nghị luận về các vấn đề trong một tác phẩm (thường là văn xuôi, truyện ngắn), một giai đoạn, hoặc những vấn đề lớn bao quát nhiều tác phẩm... Thường thì chỉ với bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi, hay trong cả giai đoạn thì việc lập dàn bài mới thực sự phát huy lợi thế của mình. Công việc của bạn là chia nội dung môn Văn ra làm ba nhóm theo ba dạng đề như đã nói trên. Và bây giờ tập trung lập dàn bài cho từng tác phẩm văn xuôi theo 1. Nắm chắc nội dung toàn tác phẩm Để biết mình đã nắm chắc tác phẩm hay chưa, bạn hãy trả lời các câu hỏi sau. Tác phẩm này do ai sáng tác? Trong hoàn cảnh nào? Đề tài và chủ đề của tác phẩm? Bạn có thể tóm tắt nội dung của tác phẩm đó chưa (đối với tác phẩm văn xuôi)? Đối với tác phẩm thơ thì không chỉ nắm nội dung toàn tác phẩm bạn còn phải học thuộc lòng những phần nội dung nằm trong chương trình học. Các thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong tác phẩm này là gì? v.v 2. Xem xét các dạng đề đối với tác phẩm đó (dạng đề ở đây được hiểu là về thể loại và nội dung) VD: Với tác phẩm Vợ nhặt, chúng ta có thể gắt gặp các dạng đề nghị luận về: các nhân vật trong tác phẩm (Tràng, bà cụ Tứ, vợ Tràng), giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm, nghệ thuật miêu tả tâm lý và khắc họa nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện... 3. Lập dàn bài chi tiết cho từng dạng đề ở mỗi tác phẩm Đối với mỗi dạng đề các bạn cần lập ra cho mình một dàn bài. Tuy hơi mất thời gian nhưng điều này sẽ giúp bạn lường hết mọi tình huống đề có thể bắt gặp và không phải lúng túng khi làm bài thi. Với đề phân tích nhân vật, bao giờ các bạn cũng phải vạch cho mình hai ý chính nhất: ngoại hình và tính cách. Bên cạnh đó một số yếu tố như: ngôn ngữ, hành động, cử chỉ, mối quan hệ với xã hội với các nhân vật khác. Tất cả các yếu tố này tựu trung lại cũng bổ trợ và làm bật lên tính cách của nhân vật. Song song với phân tích nội dung, các bạn cần lưu ý và nhấn mạnh đến các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật. Hầu hết các nhân vật trong tác phẩm văn học thường mang tính hình tượng, đại diện cho một tầng lớp, một thế hệ nên sau quá trình phân tích ngoại hình và tính cách các bạn cần rút ra được thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm đó. Trong mỗi ý lớn như vậy sẽ có thêm nhiều ý nhỏ hơn, bạn hãy dùng một mũi tên cho một ý để sơ đồ hóa dàn bài của mình. Và ở mỗi ý nhỏ, các bạn cần tìm ra những dẫn chứng phù hợp minh chứng cho những đặc điểm đó. Dẫn chứng chính là những đoạn trích trong tác phẩm, bạn cần học thuộc một số câu văn tiêu biểu để minh chứng cho những ý kiến đánh giá của mình trong bài viết. Qua phân tích những dẫn chứng đó nhân vật của bạn sẽ hiện lên với đầy đủ tính cách, chân thực và sống động. Đối với dạng đề tổng hợp nghị luận về một vấn đề văn học (VD: giá trị nhân đạo trong các tác phẩm của Nam Cao), chúng ta cần đi từ vấn đề bao quát nhất: - Nhân đạo Nhân đạo là gì? Biểu hiện của tinh thần nhân đạo: Yêu thương con người, cảm thông sâu sắc với những nỗi đau của con người, thông cảm với hoàn cảnh sống của nhân vật (nhiều khi tinh thần nhân đạo được phản ánh ngay trong những giá trị hiện thực), hướng con người một cuộc sống tốt đẹp hơn ...đều là những biểu hiện của tinh thần nhân đạo. - Tinh thần nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao + Khái quát về các tác phẩm của Nam Cao, các đề tài chính (đời sống của người nông dân và trí thức nghèo) + Tinh thần nhân đạo thể hiện trong tác phẩm của Nam Cao như thế nào? bằng những hình ảnh gì? trong tác phẩm nào? Vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm là gì?........ + Giá trị nhân đạo biểu hiện trong tác phẩm của Nam Cao có gì khác so với các nhà văn khác ở các tác phẩm khác không? (có thể so sánh với các tác phẩm Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ) v.v Lần lượt, bạn tự đặt ra những câu hỏi và trả lời cho câu hỏi của chính mình. Điều này sẽ giúp bạn vạch được cho mình những ý chính thật đầy đủ. Sau khi có được những ý chính bạn mới triển khai các ý phụ. Thêm vào đó bạn có thể tham khảo các bài văn hay để bổ sung các ý cần thiết. Bằng cách sơ đồ hóa dàn bài bằng những gạch đầu dòng và mũi tên sẽ giúp bạn thấy rõ các ý mà mình định triển khai. Và như thế, việc sót ý là một điều hiếm khi xảy ra khi bạn làm bài thi. Chúc các bạn thành công! --------------------------- Ví dụ Nghị luận về tác phẩm Chí Phèo của nam cao Phân tích * Tha hoá : là biến đổI thành cái khác. Trong truyện Chí Phèo, tình trạng con ngườI bị tha hoá có thể hiểu ở hai phương diện. Một là không được sống như bản chất ngườI của mình: Chí Phèo vốn là một nông dân lương thiện mà phảI sống như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Hai là những sản phẩm do mình tạo ra lạI trở thành xa lạ, thậm chí thù địch vớI chính mình: những ngườI nông dân như Chí Phèo đã xây dựng nên làng Vũ ĐạI cần lao và lương thiện, nhưng cái làng ấy không chấp nhận Chí Phèo quay về, thậm chí còn thù ghét và sợ hãi anh (khi Chí Phèo chết, cả làng cảm thấy mừng rở). * Bi kịch : ở đây chỉ con ngườI rơi vào một tình huống bi thảm, không lốI thoát, nhưng ngườI ta chỉ cảm thấy tình huống đó khi ý thức được. Chí Phèo tuy bị tha hoá từ lâu, nhưng trước khi gặp thị Nở, anh sống triền miên trong những cơn say và chưa thấy mình khổ, nghĩa là chưa thật sự có bi kịch nộI tâm. Cho đến lúc bị ốm, gặp thị Nở, Chí Phèo tỉnh ra, mớI ý thức được tình trạng tha hoá của mình và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đờI sống nộI tâm của anh. * a.Giá trị tố cáo hiện thực – nhât vật bá Kiến: * Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao có phân tích các quan hệ xã hộI nông thôn miền Bắc nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945. Quan hệ đó gồm hai mâu thuẫn : o Mâu thuẫn thường xuyên trong nộI bộ bọn cường hào, địa chủ thống trị. Bọn chúng như một đàn cá tranh mồi. MồI thì ngon và bè nào cũng muốn ăn, do đó, chúng luôn luôn rình cơ hộI để trị nhau, muốn cho nhau lụn bạI để cườI lên đầu lên cổ nhau. Mâu thuẫn khá phổ biến, gay gắt ngày có liên quan đến số phận những binh Chức, Năm Thọ, đặc biệt là Chí Phèo. o Mâu thuẫn giai cấp đốI kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị vớI ngườI nông dân lao động bị áp bức bóc lột được tác giả tập trung thể hiện một cách sâu sắc. * Nhân vật tiêu biểu cho gia cấp thống trị là bá Kiến được Nam Cao vạch trần bộ mặt tàn ác, xấu xa của hắn. Đây là một tên cường hào cáo già trong “nghề” thống trị dân đen, được khắc hoạ qua những chi tiết ngoạI hình thật độc đáo, từ giọng quát rất sang, lốI nói ngọt nhạt đến cái cườI Tào Tháo. Bằng cách để nhân vật độc thoạI, tự phơi ra những tính toán, thủ đoạn, âm mưu thâm độc trong việc đàn áp, thống trị tầng lớp nông dân, tác giả đã lột trần bản chất gian hùng của bá Kiến : mềm nắn rắn buông, sợ kẻ cố cùng liều thân, bám thằng có tóc, một ngườI khôn ngoan thì chỉ bóp đến nửa chừng, ngấm ngầm đẩy ngườI ta xuống sông, nhưng rồI lạI dắt nó lên để nó đền ơn… Bản chất gian hùng ấy của bá Kiến tập trung đầy đủ trong cái cách đốI xử của hắn vớI Chí Phèo. b.Giá trị nhân đạo – nhân vật Chí Phèo : * Trước hết, Chí Phèo là một sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột ở nông thôn nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945. Đó là hiện tượng ngườI lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh dần dần bị tha hoá. Vì hờn ghen vớ vẫn. Lí Kiến đẩy anh canh điền vào nhà tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay lão cường hào thâm độc để giết anh chết phần “ngườI” trong con ngườI Chí Phèo, biến Chí thành Phèo, biến ngườI nông dân lương thiện thành quỷ dữ. Chi tiết kết thúc tác phẩm đầy ngụ ý, biết đâu lạI chẳng có một “Chí Phèo con” bước từ cái lò gạch cũ vào đờI để “nốI nghiệp bố” Hiện tượng Chí Phèo chưa thể hết khi xã hộI tàn bạo vẫn không cho con ngườI được sống hiền lành, tử tế, vẫn còn những ngườI dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tộI lỗi. Sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của hình tượng Chí Phèo chính là vạch ra được cái quy luật tàn bạo, bi thảm này trong cái xã hộI tốI tăm của nông thôn nước ta thờI đó. * Nam Cao đã cho thấy tất ca nỗI thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo. NỗI thống khổ đó không phảI là không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích… mà chính là Chí Phèo bị xã hộI vằm nát cả một mặt ngườI, cướp đi linh hồn ngườI, phảI sống kiếp sống tốI tăm của con vật lạ. Đó chính là nỗI thống khổ của cá thể sinh ra là ngườI nhưng lạI không được làm ngườI và bị xã hộI từ chốI, xua đuổI. Tình trạng bi thảm này được tác giả minh chứng trong đoạn mở đầu giớI thiệu một chân dung, một tính cách “hấp dẫn”, vừa hé cho thấy một số phận bi đát. Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía “nông nỗI” khốn khổ của thân phận mình. Anh chửI trờI, chửI đờI rồI chuyển sang chửI tất cả làng Vũ ĐạI, cuốI cùng anh chửI thằng cha con mẹ nào đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Không ai chửI lạI anh vì rất đơn giãn là không ai coi anh như con người. * Nam Cao có vài cái nhìn đầy chiều sâu nhân đạo khi đi vào nộI tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con ngườI khốn khổ. Chí Phèo đến vớI thị Nở trong một đêm trăng say rượu. Như điều kì diệu là thị Nở không phảI chỉ khơi dậy bản năng ở gã đàn ông say, mà lòng yêu thương mộc mạc chân thành, sự chăm sóc giản dị của ngườI đàn bà khốn khổ ấy đã làm thức tỉnh Chí Phèo. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá thậm chí bị huỷ hoạI của Chí Phèo, phần bản chất lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn le lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng lên lúc gặp cơ hội.[/quote]
Nghị luận về tác phẩm vợ chồng A phủ?

styles

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, người Hà Nội, sinh năm 1920. Là một nhà văn có nguồn sáng tạo to lớn. Có trên 100 tác phẩm. Trước cách mạng, nổi tiếng với truyện “Dế mèn phiêu lưu ký”. Sau năm 1945, có “Truyện Tây Bắc”, “Mười năm”, “Miền Tây”, “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ”, “Tự truyện”, v.v… Sáng tác của Tô Hoài thể hiện vốn hiểu biết phong phú về đời sống và phong tục, chất tạo hình và chất thơ qua miêu tả và kể chuyện đầy thú vị. Là một nhà văn viết truyện về miền núi rất thành công. Xuất xứ Tập “Truyện Tây Bắc” được Tô Hoài viết năm 1952. Gồm có 3 truyện: “Vợ chồng A Phủ”, “Chuyện Mường Giơn”, “Cứu đất cứu Mường”, Năm 1952 , theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, một chuyến đi dài 8 tháng, Tô Hoài đã mang về xuôi bao kỷ niệm sâu sắc về người và cảnh Tây Bắc. “Truyện Tây Bắc” đã được tặng giải Nhất, Giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1955. Truyện “Vợ chồng A Phủ” là truyện hay nhất trong tập truyện này. Tóm tắt Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già mà món nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô vẫn còn. Năm đó, ở Hồng Ngài tết đến, A Sử con trai thống lí Pá Tra lừa bắt cóc được Mị về làm vợ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ. Khổ hơn con trâu con ngựa, lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Mị toan ăn lá ngón tự tử. Thương cha già, Mị chết không đành. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Một cái tết nữa lại đến. Mị thấy lòng phơi phới. Cô uống rượu ực từng bát, rồi chuẩn bị lấy váy áo đi chơi. A Sử đã trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay. A Phủ vì tội đánh con quan nên bị làng phạt vạ một trăm bạc trắng. A Phủ trở thành người ở nợ cho Pá Tra. Một năm rừng động, A Phủ để hổ bắt mất một con bò. Pá Tra đã trói đứng anh vào một cái cọc bằng một cuộn mây. Mấy ngày đêm trôi qua, A Phủ sắp chết đau, chết đói, chết rét thì được Mị cắt dây trói cứu thoát. Hai người trốn đến Phiềng Sa nên vợ nên chồng. A Phủ gặp cán bộ A Châu kết nghĩa làm anh em được giác ngộ trở thành chiến sĩ du kích đánh Pháp. Chủ đề Sự thống khổ của người Mèo ở Tây Bắc dưới ách thống trị dã man của bọn chúa đất và lũ Tây đồn. Sự vùng dậy của họ để giành lấy tự do, hạnh phúc và tham gia kháng chiến, giải phóng quê hương. Nội dung 1. Giá trị hiện thực - Bọn chúa đất, bọn thống lí cấu kết với giặc Pháp, được bọn Tây đồn cho muối về bán, ăn của dân nhiều, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc nhiều thuốc phiện nhất làng. - Pá Tra cho vay nợ lãi, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Tuổi xuân và hạnh phúc bị cướp mất. Mị sống khổ nhục hơn con trâu, con ngựa. - A Phủ vì tội đánh con quan mà bị làng xử kiện, bị đánh, bị phạt vạ, trở thành kẻ ở nợ cho Pá Tra. - Cảnh Mị bị A Sử trói đứng. Cảnh A Phủ bị trói cho đến chết vì tội để hổ bắt mất bò. - Cảnh bọn Tây đồn Bản Pe càn quét khu du kích Phiềng Sa: cướp lợn, giết người, đốt phá vô cùng tàn bạo. 2. Giá trị nhân đạo Nỗi đau khổ của Mị và sự vùng dậy của Mị toan ăn lá ngón tự tử…, uống rượu, mặc váy áo đi chơi xuân, cắt dây trói cứu A Phủ, cùng chạy trốn. - Nỗi khổ đau của A Phủ: sống cô độc, bị đánh, bị phạt vạ… vì tội đánh con quan. Bị trói cho đến chết vì tội để hổ bắt mất bò. - Được Mị cứu thoát. Cùng chạy trốn đến Phiềng Sa. Mị và A Phủ nên vợ nên chồng. Vừa giành được tự do, vừa tìm được hạnh phúc - A Phủ kết nghĩa anh em với A Châu cán bộ. Trở thành chiến sĩ du kích quyết tâm đánh giặc để giải phóng bản Mèo… - Mị và A Phủ: từ đau khổ, thân phận nô lệ, bị chà đạp dã man đã vùng dậy tự cứu giành được tự do, hạnh phúc; được giác ngộ cách mạng, đứng lên cầm súng chống lại bọn cướp nước và lũ tay sai. - Những đêm tình mùa xuân của trai gái Mèo được nói đến như một phong tục chứa chan tinh thần nhân đạo, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Nghệ thuật 1. Tả cảnh mùa xuân trên rẻo cao: hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại đổi ra màu đỏ au, đỏ thậm, rồi sang màu tím man mát. Chiếc váy Mèo như con bướm sặc sỡ. Tiếng sáo, tiếng hát tự tình của trai gái Mèo - đầy chất thơ dung dị và hồn nhiên. 2. Kể chuyện với bao chi tiết hiện thực, bao tình tiết cảm động. Dựng người, dựng cảnh sống động: cảnh xử kiện, cảnh Mị cắt dây trói, cảnh ăn thề… 3. Sử dụng các câu dân ca Mèo… tạo nên phong vị miền núi đậm đà: “Anh ném pao, em không bắt-Em không yêu, quả pao rơi rồi…” Tóm lại, truyện “Vợ chồng A Phủ” khẳng định một bước tiến mới của Tô Hoài, là thành tựu xuất sắc của văn xuôi kháng chiến thời chống Pháp. Câu văn xuôi trong sáng, thanh thoát, nhuần nhị.

le van phu

[quote]Từ bài viết của [b]forever_and_one[/b] Em có thể tham khảo dàn ý sau: Đặt vấn đề: - Trung thực là một đức tính cần phải có, quan trọng đối với tất cả mọi người - Đối với học sinh thì đó là một đức tính càng quan trọng và phải được đặt lên hàng đầu. - Tuy nhiên, ngày nay một bộ phận học sinh đang mất đi đức tính này trong học tập và thi cử. - Sự trung thực trong học tập và thi cử của học sinh ngày nay là một vấn đề cần được bàn luận và nhìn nhận một cách nghiêm túc. Giải quyết vấn đề: - Trung thực trong học tập và thi cử mới có thể để học sinh nhìn nhận đúng năng lực, phản ánh đúng kết quả học tập của mình và có hướng phấn đấu thích hợp. - Cùng với xu thế hội nhập và hiện đại hóa, học sinh ngày nay trở nên năng động, tự tin và có kiến thức rộng hơn, có điều kiện học tập tốt hơn. - Tuy nhiên, mặt trái của nó, một số bộ phận học sinh, do thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, do sự lôi cuốn của xã hội hiện đại đã trở nên xao lãng việc học tập và để đối phó với kiến thức hạn hẹp của mình ở nhà trường, họ phải gian lận trong học tập và thi cử. - Gian lận trong học tập và thi cử là một việc làm không thể chấp nhận được, vấn đề sẽ như thế nào nếu một học sinh rời ghế nhà trường với một kiến thức hạn hẹp nhưng một kết quả cũng không đến nỗi tệ? Kết thúc vấn đề - Khẳng định lại vấn đề đã bàn luận. - Xã hội và đặc biệt là ngành giáo dục cần có những biện pháp nghiêm túc hơn trong học tập và thi cử của học sinh, đánh giá đúng, chính xác năng lực của từng học sinh, luôn lấy câu "bác sĩ chữa sai thì chết một người, nhưng thầy cô giáo chữa sai thì chết một thế hệ" de giao duc hoc sinh. Hoặc em có thể lấy thêm dẫn chứng thêm như sau" Thi cử vốn là một khâu quan trọng trong giáo dục để đánh giá kiến thức cũng như năng lực của học sinh,tránh những trường hợp không hề hiếm trong xã hội ngày nay :"Ngồi nhầm lớp ","bằng cấp giả",... Gian lận trong thi cử xảy ra ở không ít bộ phận học sinh ,dù cho đó là những học sinh xuất sắc .Hậu quả đó là do tác động từ đâu mà có?Có thể là do bản tính ,cũng có thể là do những tác động từ bên ngoài -->mục đích là kiếm được điểm số cao,điểm phẩy tốt,...cũng có thể do áp lực nào khác... Tình trạng học sinh giỏi "ảo " có lẽ cũng xuất phát từ căn bệnh quá cũ của XH:"bệnh thành tích". "Xã hội ta nói chung lên án, phê phán tỷ lệ tốt nghiệp THPT là không đúng với thực chất trình độ học sinh. Song, mâu thuẫn lại nảy sinh chính ở yếu tố này. Mỗi gia đình đều mong muốn con em họ thi đỗ tốt nghiệp với số điểm cao nhất. Mỗi đơn vị trường học, ngành giáo dục - đào tạo cho đến cấp tỉnh hy vọng thí sinh trường mình, tỉnh mình đỗ tốt nghiệp với tỷ lệ cao nhất. " /[quote] Trước hết, ta hãy xét đến ở một phòng thi. Về phía thí sinh, việc học sinh đi thi mang theo và sử dụng tài liệu hiện nay trở nên khá phổ biến. Những năm gần đây, nếu ai có dịp đi ngang qua các phòng thi sau các giờ thi, chắc hẳn bắt gặp rất nhiều những mảnh phô tô tài liệu thu nhỏ nằm trắng xóa ở các phòng thi hay các dãy hành lang. Học sinh đi thi mang theo chúng khắp cả người và điều đó đã trở thành một phong trào. Giám thị bắt được bộ này thì lại có một bộ khác. Nhiều học sinh nữ còn táo tợn giấu tài liệu vào trong cơ thể để các thầy giáo coi thi không dám khám xét vì sợ “vi phạm thân thể”. Nhiều học sinh, thậm chí là học sinh giỏi dù đã thuộc bài nhưng cũng thủ sẵn tài liệu bên mình để cho chắc ăn hơn. Vì vậy, mới có những trường hợp những học sinh trung thực lại trở nên khó chịu vì mình bị “thiệt thòi” so với những bạn học sinh có học lực yếu hơn. Bài học trung thực ở trường thi đã mất đi tác dụng. Về phía giám thị, một tâm lý chung được hình thành “các em đã cất công học tập 12 năm đèn sách, không nỡ làm khó dễ các em làm gì, cuối cùng rồi cũng sẽ đậu hết đó mà”. Thế là nảy sinh tình trạng coi thi dễ dãi, cho qua việc thí sinh mang vào và thậm chí sử dụng tài liệu. Có một số trường hợp, giám thị canh chừng thanh tra để cho thí sinh chép tài liệu, thậm chí còn giải giúp bài thi cho thí sinh./[quote] Nói đi cũng phải nói lại ,về phía các bậc giáo dục con em mình dường như chưa quan tâm đúng mức đến "gian lận" trong thi cử và nhiều khi là "nới tay" bỏ quá cho những hành vi thiếu trung thực khiến tình trạng trên ngày càng diễn ra phổ biến hơn,tinh vi hơn. "Những giáo viên nghiêm túc thì nhiều khi cũng phải chùn tay trước áp lực xã hội, của địa phương, của ngành hay nể nang cả lãnh đạo Hội đồng; đồng thời giáo viên cũng phải lo đến bảo toàn cuộc sống của mình. Đã có giáo viên có trận đòn nhớ đời vì đã coi thi quá nghiêm túc! Mà nếu như có nghiêm túc thì giám thị cũng chẳng được gì, nhiều khi bị đồng nghiệp nhìn với một con mắt e ngại, dè bỉu. Vậy thì, giám thị không lý do gì mà không chọn một giải pháp an toàn?!" _>Cái vòng luẩn quẩn của tình trạng thi cử thiếu nghiêm túc cứ thế tiếp diễn hàng năm mà không có lối thoát.[/quote]
Em có một đề văn như sau:" Nêu suy nghĩ về hiện tượng học sinh sử dụng điện thoại di động trong trường học". Em thấy rất khó vì đây là đề mở mà cô giáo em suy nghĩ không được thoáng cho lắm. Em rất muốn có một bài văn " chuẩn không cần...
(Xem thêm)

trai_ha_noi

Hì, để có một bài văn chuẩn không cần chỉnh thì có lẽ là khó lắm bạn à( mỗi người một ý kiến mà). Nhưng mình có một lời khuyên là bạn nghĩ thế nào về vấn đề này thì bạn cứ nói thẳng chứ đừng ngại cô giáo của mình. Bạn có thể mất điểm với cô giáo mình( cái này quan trọng đấy) nhưng lại có thể ghi điểm với bạn bè, người khác vì biết đâu ý kiến của bạn cũng là ý kiến của mọi người khác nhưng họ không dám nói ra thôi. Có câu sự thật mất lòng mà, bạn không cần quá sợ cô giáo đâu (nói nhỏ thôi nhé[:D])
Văn thơ [b]Nguuyễn Đình Chiểu[/b] vẫn không xa lạ với giới trẻ ngày nay, và việc học những tác phẩm như [i]Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc [/i]của ông ở nhà trường là rất bổ ích . Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận tỏ bài ý kiến của mình về vấn đề...
(Xem thêm)

trung

anh chị oi giup em đi em cảm ơn nhiều [:((][:((][:(([^:)^][^:)^]
Viết 1 bài văn nghị luận về giá trị hiện thực & nhân đạo trong Truyện Kiều wa các đoạn trích : trao duyen, nỗi thương mình, thề nguyền, chí khí anh hùng anh chị giúp em với , em cám ơn nhìu

Chita

Nếu mình nhớ ko lầm thì truyện kiều về giá trị nội dung có 2 mặt là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo +Giá trị hiện thực:phản ánh 1 cách chính xác bộ mặt của xã hội phong kiến mục nát.Gồm những con người chỉ biết đặt giá trị của đồng tiền lên trên hết xem rẻ con người.Những con người hiền lành luôn bị hà hiếp chèn ép +Giá trị nhân đạo -Ca ngợi sắc đẹp của kiều -Điểm sáng chói trong cuộc đời kiều là từ hải "Trướng hùm mở giữa trung quân Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi" -Cảm thông sâu sắc với Kiều và số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến "Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" -Đứng lên bênh vực cho Kiều thông qua đó là người phụ nữ trong xã hội xưa bằng văn chương Giá trị nghệ thuật:Hình ảnh ước lệ,tượng trưng,điển cổ,điển tích,so sánh,ẩn dụ,miêu tả cảnh,miêu tả nhân vật từ đó suy ra tâm trạng nhân vật.Nghệ thuật làm thơ lục bát đến đỉnh cao.Khéo léo trong cốt truyện chặt chẽ về nhân vật,tình huống.Vận dụng tài tình các câu ca dao,tục ngữ vào truyện
lam nhanh giup em nha mai mot lay nha

Lê Thị Yến Hoa

Đây là câu hỏi nghị luận văn học, bạn nên giải thích khái niệm rồi diễn giải ý, dưới đây là một số ý theo tôi nên có: -KN:Theo từ điển Đà Nẵng năm 1998 thì hạnh phúc là gảm giác sung sướng vì đạt được nguyện vọng thỏa mãn được mong muốn và khát khao.Như vậy hạnh phúc liên quan chặt chẽ tới ý nguyện -hạnh phúc mang tính cá nhân nhưng cá nhân thuộc về cộng đồng, đặt trong tổng hòa mối quan hệ xã hội bởi vậy hp co hp chung và hp riêng +) hp chung là khi hp riêng tim dc tieng noi đông thuận:dẫn chứng trưa 30 -4 gả nước ngập trong chiến thắng nụ cười khi nghe tin tổng thông Mỹ ngụy Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, VN thắng Thái Lan AFFC....,Mac"hp là đáu tranh" ông hiểu tiếng nói giai cấp vô sản +) hp cá nhân:hp cá nhân có hp ở thời điểm ngắn, có hp lớn cả một đời - hp thời điểm:co khi giản đơn là sở hữu một chiếc xe, điện thoại mới chiếc áo mới, điểm mười cô cho -hp cả đời liên quan tới li tưởng là khi đạt được mong ước cả cuọc đời:dẫn chưng Bác ra đi tim đường cứu nước với 2 bàn tay trắng mang về cả hình hài dân tộc ,người tam sự có 2 phút giây hp nhất là được đọc luận cương về vấn đề thuộc địa và đọc tuyên ngôn độc lâp, với mỗi người đó có thể là ớc mơ vào giảng đường đại học - Mở rộng + hp có lúc ở ngay trước mắt có lúc phải kiếm tìm, điều quan trọng con người phải dám ước mơ và khao khát, nhận ra nâng niu hp + phải biết trân trọng hp có được phải chăng khi có được hp con người lãng quên hay vứt bỏ quá nhanh +hp đôi khi là sự bằng lòng với những gì mình có, có khi nó là cuộc tranh đấu đến cùng để có được hp
Em xin hỏi là trong đề thi đại học năm 2009 môn ngữ văn có câu 2 hỏi về nghị luận xã hội. Đề yêu cầu là không được viết quá 600 từ. Vậy nếu viếtnhiều hơn 600 từ thì có bị trừ điểm không ? Nếu tính ra 600 từ thì chỉ có thể viết được 1,5 mặt giấy. Như...
(Xem thêm)

tun cua di

Theo Ban tư vấn thì em không cần phải quan tâm đến vấn đề này. Trên thực tế thì chẳng ai có thể ngồi đếm xem em có viết dưới 600 từ hay không. Đối với phần câu hỏi nghị luận xã hội về một vấn đề nào đó thì thiết nghĩ viết được 600 từ là rất khó đối với cấp học THPT. Để có thể làm được phần nghị luận tốt thì em nên đi thẳng vào vấn đề tránh lan man.
Cần giúp đỡ làm văn nghị luận Đề bài : Bàn về việc trung thực trong học tập

Chita

Đây là một bài nghị luận xã hội, một vấn đề nóng trong thế giới học đường. Em có thể viết theo dàn ý sau : A . Mở bài : - Khẳng định trung thực là một trong những đức tính tốt đẹp và cần thiết trong cuộc sống . - Bản thân bạn là học sinh , bạn thấy trung thực cần thiết cho việc học tập và hình thành nhân cách của chính bản thân bạn thế nào ? B . Thân bài : Ý 1 : Bạn giải thích từ " trung thực " - Về nghĩa : là một đức tính tốt đẹp của ông cha ta , là lòng ngay thẳng , thật thà , không gian dối . Từ đó khẳng định đây là một phẩm chất vốn có của dân tộc VN cần giữ gìn và phát huy. Ý 2: Vai trò của trung thực : * Trong cuộc sống : đức tính cần thiết với con người , giúp ta có được thiện cảm của mọi người , dần có chỗ đứng trong xã hội . * Trong học tập - thi cử : là đức tính mà mỗi học sinh cần có để có hiệu quả học tập tốt nhất , bằng chính lực học của mình , góp phần hình thành nhân cách sau này . Từ đó bạn nhấn mạnh sự cần thiết của đức tính này trong học tập , lấy dẫn chứng cụ thể về thi cử để CM hiệu quả của trung thực . Ý 3 : Kết quả của " trung thực " : - Có lợi cho bản thân bạn , giúp bạn có ý thức tốt trong học tập , được thầy yêu bạn mến . - Là hành trang trong cuộc sống sau này của bạn . - Giúp bạn có thể đưa ra những lời khuyên tốt nhất về " trung thực " với bạn bè . Ý 3: Thực trạng hiện nay: - Giới thiệu hoàn cảnh bạn đang sống và học tập : kỷ nguyên của công nghệ thông tin, con người ta có thể khai thác dễ dàng mọi thông tin trong cuộc sống từ nhiều nguồn khác nhau. Nơi mà các bạn học sinh có thể lấy dễ dàng tìm tư liệu phục vụ học tập, nhưng cũng đồng thời dễ dàng biến những bài làm của người khác thành của mình. - Tính không trung thực còn thể hiện trong thi cử, khi mà những tiêu cực vẫn còn tồn tại, dù ngành GD đã phát động Phong trào 5 KHÔNG. - Ngay tại môi trường học tập của bạn,còn tồn tại những vấn đề gì? Nếu bạn là người có vồn hiểu biết XH rộng, có thể lấy dẫn chứng về một số vụ bê bối lớn được báo đài đưa tin, phân tích và bình luận sâu hơn một chút, bài văn sẽ hay và sâu sắc. Ý 4: Một số biện pháp đưa ra đề chấm dứt thực trạng thiếu trung thực trong học tập và thi cử hiện nay. C . Kết bài : - Khẳng định " trung thực " là đức tính cần thiết trong mọi hoàn cảnh và trong mọi thời đại . - Bản thân bạn từ giờ , với tư cách học sinh , bạn nên phát huy tính trung thực trong học tập và thi cử . Chúc em làm bài tốt !
Nhân định về "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh co người nói:" tập thơ có những bài thơ viết về nhà tù, chế độ xã hội phong kiên thối nát, về cách sinh hoạt trong nhà tù. chú ý là những bài thơ bộc bạch nỗi lòng qua đó tóat lên vẻ đẹp...
(Xem thêm)

munmy_zzz_3006

z ạk.Tưởg kái gì, đơn giản là cứ lên mấy kái trag web cí dụ nhưhttp://www.onthi.com/dien-dan/van-hoc/tac-pham-nghi-luan/van-nghj-luan-xh_334173.html đếy.Lên mà tỳm.

Thành viên tích cực

1

Bitty Ngọc

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

Quách Hiếu

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn