Các bạn Giúp mình kiếm tài liệu về cafe Trung Nguyên như sau: 1: Vị trí đĩa lý; 2:Cơ cấu tổ chức; 3:Vai trò,? Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 4: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cafe Trung Nguyên trong thời gian qua. ác bạ có thể gửi...
(Xem thêm)
Anh chị nào biết xin cho em chỉ giáo ạ Hãy nêu vai trò của giáo dục đối với xã hiện nay

nguyễn hiến

Vai trò là gì ạ
Anh chị giup em câu hỏi này nhé, em thành thật cám ơn nhiều: trình bày vai trò của đảng đối với sự thành công của cách mạng tháng 8?

Xin Em Đừng Buông

Phân tích vai trò đường lối của đảng đối với thắng lợi chống thc dân pháp

Ha Minh Do

Trích dẫn: Từ bài viết của nguyentrx Đảng CSVN là đảng cầm quyền, do dân và vì dân.
1/ vai trò cuả GD đối với sự phát triển của xã hội và cá nhân? 2/ vị trí, chức naưng của người giáo viên trong xã hội và trong nhà trường? 3/ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực dối với người giáo viên?
(Xem thêm)

thu

Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định: + Giá trị hàng hoá. + Giá trị của tiền. + ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu hàng hoá. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen. - Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế. Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị. Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia. - Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. - Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng ... Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên. - Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội. Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

ha

Quá trình toàn cầu hoá (TCH) và khu vực hoá (KVH) nền kinh tế thế giới ngày nay đang diễn ra rất nhanh, mạnh và trở thành phổ biến trên thế giới. Quá trình này đã tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế và đã gây ra những phản ứng thuận nghịch khác nhau đối với từng khu vực, từng quốc gia. Để thấy rõ được những ảnh hưởng của nó, trước hết cần nghiên cứu một nhân tố tạo ra quá trình TCH, KVH. Đó là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới hiện nay. Theo tiến trình lịch sử, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp. Nội dung cơ bản mỗi cuộc cách mạng ấy là sự thay thế các công cụ sản xuất thô sơ, thủ công cũng như thay thế các quá trình sản xuất lạc hậu, đơn biệt bằng việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất tiến dần lên từ cơ khí hoá đến tự động hoá, sản xuất kiểu dây truyền hiện đại, với những nguồn năng lượng mới... Cụ thể hơn, đó là việc cải tiến, thay thế, chế tạo ra những hệ thống công cụ mới, trên cơ sở đó, nâng cao năng suất lao động, tăng khối lượng của cải cho xã hội. Về mặt lý luận, điều này đã được C. Mác chỉ ra trong bộ Tư Bản khi ông nghiên cứu các giai đoạn phát triển của CNTB. Sự thay thế trên cho thấy một thực tế là ngày nay, khoa học - kỹ thuật đã trở thành một yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng, chứ không như trước đây, giữa khoa học và sản xuất còn có sự cách biệt. Về tốc độ phát triển của khoa học - kỹ thuật cũng rất nhanh chóng : chu kỳ thay thế sản phẩm ngày nay chỉ cần từ 3 - 5 năm, thay cho từ 15 - 20 năm như trước đây. Sự phát triển này đã làm xuất hiện những thuật ngữ mới như nghiên cứu và triển khai, khoa học ứng dụng... Khoa học - kỹ thuật không chỉ dừng ở đó, mà còn có sự phát triển tiếp tục. Trong những thập kỷ gần đây, nó đã có sự chuyển biến về chất, vì thế cách mạng khoa học - kỹ thuật đã trở thành cách mạng khoa học - công nghệ (CM KH-CN). Giờ đây, không chỉ là việc cải tiến các công cụ sản xuất, mà là sự thay đổi hoàn toàn phương thức tạo ra sản phẩm, do vậy, các phương pháp, cách thức sản xuất cổ điển, truyền thống nay không còn thích hợp nữa. Để thích ứng với phương thức mới đó, rõ ràng là phải có hàng loạt những yêu cầu đi theo : Phải sử dụng các loại nguyên liệu, năng lượng, quy trình mới... Ví dụ, với loại động cơ Vanken, thì không thể dùng các loại sắt, thép như trước để làm xi lanh, pittông : Phải có những vật liệu mới chịu được áp suất, nhiệt độ cao, sự mài mòn lớn... Trong quá trình này, công nghệ tin học đã góp phần đắc lực vào việc tìm kiếm những giải pháp mới cho sự thành công. Gần đây nhất là kỹ thuật sinh sản vô phối càng cho thấy rõ hơn tác động tích cực của CM KH-CN. Xét riêng trong sản xuất, điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn về nhiều phương diện. Đi cùng với sự thay đổi về yêu cầu, điều kiện của sản xuất, là sự thay đổi về tư duy kinh tế, thậm chí cả việc nhận thức mới về sự phát triển của xã hội. Trước đây, chỉ với sự phát triển của đại công nghiệp, mà đã phá vỡ cả những quan hệ xã hội truyền thống, ví dụ những quan hệ trong gia đình hay vai trò của người phụ nữ trong cả gia đình và xã hội. Sự tác động của CM KH - CN đến quá trình THC, KVH nền KTTG đã được nói đến nhiều. Bài viết này chỉ bàn đến sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ với tư cách là một nhân tố tạo nên sự thống nhất của nền KTTG. Xét từ góc độ phương thức sản xuất, những thay đổi về kết cấu sản xuất nói trên do CM KH - CN đã tạo ra sự phát triển mới của LLSX - sự nhảy vọt về chất trong LLSX thế giới : dẫn đến sự tăng trưởng hết sức mạnh mẽ. Chỉ trong vòng 20 năm (1970 - 1990) sản xuất của cải trên thế giới đã tăng 2 lần, tức là vượt khối lượng được sản xuất ra trong 230 năm trước (1740 - 1970). Theo qui luật phát triển, sự nhảy vọt đó kéo theo hàng loạt vấn đề không chỉ kinh tế đơn thuần. Quan hệ sản xuất giờ đây đang có sự thay đổi để thích ứng với trình độ mới của LLSX. Xét riêng trên góc độ của quá trình tái sản xuất, chúng ta thấy sự phát triển của LLSX sẽ dẫn tới mấy vấn đề : Thứ nhất, LLSX phát triển sẽ làm cho qui mô sản xuất lớn lên, kéo theo nhu cầu và khối lượng vốn cũng tăng lên. Trong điều kiện hiện nay, điều đó đòi hỏi phải mở rộng địa bàn, phạm vi thu hút vốn, mở rộng sự liên kết, hợp tác với bên ngoài thì mới giải quyết được yêu cầu về vốn nói trên. Mặt khác, khi qui mô sản xuất lớn thì khối lượng sản phẩm làm ra cũng tăng lên, do vậy, thị trường tiêu thụ cũng phải mở rộng ra, không thể chỉ giới hạn trong phạm vi những thị trường truyền thống nữa. Điều này sẽ xảy ra ở hàng loạt các nước, ở nhiều khu vực trên thế giới, tất yếu đặt ra yêu cầu các nước phải xâm nhập thị trường của nhau, phải mở cửa cho nhau. Cần phải thấy rằng thị trường thế giới là yếu tố làm cho nền kinh tế thế giới trở nên thống nhất với nhau ở chỗ, nó vừa là đầu ra, vừa là đầu vào của mọi quá trình sản xuất đối với bất cứ nền kinh tế mở nào. Thông qua đó, vừa phụ thuộc lẫn nhau, vừa khắc phục điểm yếu và phát huy thế mạnh của mình theo lý thuyết lợi thế so sánh. Cũng phải nói thêm rằng, trong vấn đề vốn, có một khía cạnh rất thú vị : Trong khi có những chủ thể kinh tế thiếu vốn, cần vốn thì lại có tình trạng là nhiều quốc gia, tổ chức có nhiều, thậm chí thừa vốn, cần phải cho vay. Nhưng thực tế rất trớ trêu là hoặc không có người vay, hoặc người vay không trả được nợ - trong khi đồng vốn không thể "nằm chết" một chỗ. Thế là xuất hiện tình hình các chủ nợ, bên cho vay phải thương lượng, giúp đỡ con nợ để họ làm ăn. Các con nợ này có dư dật thì chủ nợ mới hy vọng thu được lợi nhuận. Sự ràng buộc, phụ thuộc trên thế giới ngày nay phát triển thật đa dạng và phong phú, không chỉ còn là một chiều như trước. Tác động này làm sâu sắc hơn mối quan hệ qua lại giữa các nước, làm mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Thứ hai, như ta đã biết, LLSX càng phát triển bao nhiêu thì chuyên môn hoá càng sâu sắc bấy nhiêu, tức là phân công lao động càng hoàn thiện và đầy đủ bấy nhiêu. Trong điều kiện hiện nay, khi thế giới đang đi vào phát triển theo chiều sâu thì phân công lao động ngày càng có tính chất quốc tế. Nói cách khác, sự ràng buộc giữa các quốc gia càng trở nên chặt chẽ và rộng rãi hơn. Chúng ta rất quen với những thuật ngữ như "sự tuỳ thuộc", "sự phụ thuộc lẫn nhau". Ngày nay các quốc gia không chỉ trao đổi các sản phẩm đã hoàn thiện với nhau, mà thậm chí còn trao đổi từng bộ phận sản phẩm cho nhau. Bởi vậy, mới có tình trạng một loại hàng hoá có thể được sản xuất ở nhiều nước khác nhau, mỗi nơi một bộ phận rồi lắp ráp lại... Chẳng hạn, để sản xuất máy bay Boing, có tới 650 công ty của thế giới tham gia và được đặt ở hơn 30 nước. ôtô Ford cũng vậy, có 165 công ty ở 20 nước tham gia sản xuất. Trong điều kiện phát triển giao thông vận tải, viễn thông ngày nay, người ta có thể tiến hành nghiên cứu sản phẩm ở một nước, sản xuất nó ở nước khác, tiêu thụ ở nước thứ ba, chuyển lợi nhuận đến nước thứ tư... Quá trình này càng mở rộng bao nhiêu thì chuyên môn hoá càng sâu bấy nhiêu và như vậy đã xuất hiện việc phân công lao động trên phạm vi quốc tế. Tính thống nhất của nền kinh tế thế giới làm cho toàn bộ quá trình sản xuất như một dây chuyền - một "dây chuyền quốc tế" - cả về phạm vi và quy mô. Sự phát triển của LLSX tất yếu dẫn đến TCH, KVH. Thứ ba, xét từ góc độ chủ thể của quá trình sản xuất, ta thấy rằng, để thích ứng với một trình độ của LLSX cụ thể, tất phải có một trình độ quản lý tương ứng. Trong khi đó, trình độ này, tức khả năng của con người là một yếu tố có cái gì đó rất riêng - nó phụ thuộc vào từng con người, từng quốc gia cụ thể, như một năng lực bẩm sinh, không phải ai cũng có được. Thêm vào đó, các phương tiện để quản lý cũng rất khác nhau như các loại máy văn phòng, các "thư ký rôbốt"... mà ở mỗi quốc gia, tuỳ khả năng, điều kiện của mình sẽ có được ở những mức độ khác nhau. Bởi vậy để đạt được trình độ quản lý cao, tất yếu các nước cũng phải trao đổi phương tiện, kinh nghiệm cho nhau, thậm chí còn phải giúp đỡ lẫn nhau nâng cao trình độ. Cũng giống như trong vấn đề vốn đã phân tích trong phần trên, ở đây lại thêm một biểu hiện mới của sự gắn kết, xích lại gần nhau của thế giới này. Việc nối mạng Internet, việc các nước phát triển mở những lớp bồi dưỡng kiến thức cho các nước khác là những ví dụ cụ thể cho vấn đề trên đây. Bên cạnh những vấn đề trên, sự phát triển của LLSX, xét trên góc độ chính trị xã hội còn có tác dụng thúc đẩy chiến tranh lạnh kết thúc, thúc đẩy quá trình TCH, KVH diễn ra nhanh hơn. Đồng thời với sự phát triển nhanh chóng của CMKH - CN sản xuất tăng nhanh cũng đã dẫn tới nhiều vấn đề khác như môi trường, dân số... mà xét trên góc độ kinh tế cũng là những vấn đề liên quan đến nhiều quốc gia, khu vực. Việc giải quyết chúng không thể giới hạn trong phạm vi một quốc gia. Cả thế giới này phải chung lưng đấu cật với nhau mới hy vọng có thể giải quyết được những vấn đề nan giải đó. Sự phát triển trên đây của nền kinh tế thế giới đã cuốn hút hầu hết các quốc gia vào dòng chảy của nó. Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung đó cho nên nền kinh tế nước ta cũng chịu những ảnh hưởng và tác động của quá trình ấy. Để thấy được những tác động của xu thế này, trước hết cần phải xem xét những đặc điểm cơ bản hiện nay của nền kinh tế nước ta. Sau 10 năm đổi mới, đến nay về cơ bản chúng ta đã ra khỏi khủng hoảng, bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, những yếu kém, tồn tại trong nền kinh tế này cũng không ít : cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, năng suất lao động và thu nhập thấp. Đội ngũ cán bộ quản lý vừa yếu vừa thiếu. Điều đó đặt ra cho chúng ta yêu cầu phải lựa chọn hết sức thận trọng, nhưng cũng phải linh hoạt một chiến lược cho sự phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế TCH, KVH hiện nay. Trên quan điểm đó, có thể thấy hiện nay, chúng ta có những thuận lợi cơ bản là : - Có thể kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của cuộc CM - KHKT. Đây là lợi thế của những nước đi sau. Nếu như trước đây, chu kỳ sống quốc tế của mỗi sản phẩm có thể từ 15-20 năm thì ngày nay, nó chỉ còn từ 3-5 năm. Với tốc độ đó, các phát minh, sáng chế trở thành tài sản của nhân loại sẽ ngày càng nhiều và nhanh hơn, do vậy, chúng ta sẽ có nhiều điều kiện để ứng dụng, thừa hưởng những thành tựu đó. - Thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động. Nền kinh tế nước ta sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển bởi khả năng cung và cầu sẽ rộng lớn và nhanh nhạy hơn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược kinh tế sao cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước và trên thế giới. - Các thể chế của khu vực và của thế giới ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh, giúp cho hoạt động kinh tế của ta có hiệu quả hơn. Đây là cơ hội để chúng ta có thể tham gia vào đời sống kinh tế quốc tế một cách bình đẳng, qua đó thể hiện được khả năng và vai trò của mình. - Có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ, kinh nghiệm quản lý với thế giới. Đây là điều rất có ý nghĩa bởi như trên đã cho thấy, vai trò của lao động trí tuệ ngày càng tăng. Không tiếp cận được vấn đề này thì không thể nâng cao được hiệu quả kinh tế. - Có thể tiếp thu được nguồn vốn đầu tư của quốc tế, qua đó, mở rộng sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, ổn định và cải thiện đời sống xã hội. Nhờ có vốn, chúng ta mới khai thác được các lợi thế của mình, qua đó, tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Theo lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế, đây chính là "cú hích" để phá vỡ cái "vòng luẩn quẩn" ở những nước chậm phát triển. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức là : - Nguy cơ tụt hậu về kinh tế do trình độ xuất phát điểm còn quá thấp. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tìm ra những lối đi tắt, những bước nhảy vọt thì mới tiến kịp được các nước khác. Nếu chúng ta cứ tiến bước một cách tuần tự thì sẽ mãi mãi theo sau nhân loại với những khoảng cách ngày càng xa. Công nghiệp hoá và hiện đại hoá chính là phương thức giải quyết khó khăn này. Thực tế cho thấy các nước NICs đều có chiến lược đón đầu ; nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật nên mới thành công như ngày nay. - Khả năng ứng dụng các thành tựu KH-CN còn hạn chế. Chính vì thế, phải có chính sách lựa chọn những công nghệ cho thích hợp với điều kiện của ta. ở đây, mô hình "kết cấu 2 tầng" về kỹ thuật của các nước phát triển cho chúng ta một gợi ý hay về ứng dụng và chuyển giao công nghệ. - "Luật chơi" của thị trường thế giới ngày nay đang bình đẳng hơn trước, do vậy cạnh tranh sẽ lớn hơn, sức ép đối với nền kinh tế sẽ cao hơn. Như vậy, đồng thời với việc chúng ta phải cố gắng vươn lên, thì việc tìm ra lối đi riêng cho mình, tìm ra chỗ để "lách" vào thị trường thế giới bằng những lợi thế của mình là hết sức quan trọng, nếu không quá trình hòa nhập của chúng ta sẽ rất dễ dẫn đến quá trình bị "hòa tan". - Trình độ quản lý còn thấp, tác phong, ý thức của nền sản xuất nhỏ sẽ làm giảm hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Để có được một trình độ như mong muốn là cả một quá trình lâu dài, do vậy đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho người lao động là yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay. ở đây, cần phải sử dụng các biện pháp giáo dục bằng kinh tế, vì nó có hiệu quả và tác dụng rất cao. - Các hiện tượng tiêu cực trong quản lý, trong xã hội làm giảm sức hấp dẫn của đầu tư nước ngoài. Do vậy, cải cách, hoàn thiện bộ máy hành chính, hệ thống pháp luật là rất cần thiết. Đặc biệt, cần phải nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng./.
1. Quan niệm của triết hoc M-LN về các nấc thang của trình độ nhận thức và mối quan hệ biện chứng của chúng? nêu ví du.ý nghĩa- phương pháp luận rút ra từ quan niệm này 2. Ví dụ minh họa về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và vai trò của...
(Xem thêm)
cac ban ụ hay gjup mjnh lam bai vjet gioi thieu vai tro cay xanh doi voi moi truong gụ toi njck thienthan_benho_258 xjn thank very much..........................

djghjdgh

Tính từ năm 1990 đến nay, thế giới đã mất đi 3% diện tích rừng nghĩa là mỗi năm mất 13 triệu ha rừng do chặt phá tràn lan. Nhưng mối năm, có đến 6 triệu ha rừng có nguy co bị phá huỷ. Hiện tại, có 76 nước trên thế giới không còn rừng nguyên sinh. Các bạn của tôi ơi! Liệu những con số này có đáng làm các bạn ngạc nhiên? Ai chả biết rừng là ngôi nhà tự nhiên của các loài chim muông. Thiếu đi rừng, muông thú sẽ lang thang để rồi rơi vào tay những người thợ săn. Theo báo cáo mới nhất của UICN, có 16,306 loài bị đe dọa biến khỏi bề mặt trái đất, nhiều hơn con số 16,118 loài công bố năm ngoái. Loài khỉ orang-outan đảo Sumatra, Indonesia, hiện chỉ còn 7.300 con. Trong vòng 75 năm qua, số lượng orang-outan ở đây đã giảm đi hơn 80%. Giống chim vẹt đảo Maurice chỉ có thể tìm thấy duy nhất ở vùng Đông-Nam đảo Maurice, trong khu vườn quốc gia PNBRG. Tại đây, một chương trình bảo tồn giống vẹt quý này đã được tiến hành ráo riết. Nạn tàn phá rừng là nguyên chính gây nên sự hiếm hoi của loài chim này. Hay ngay như trong đất nước ta, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những chú voi trên tivi, sách báo hay trong các vườn thú, vườn quốc gia. Nhưng bạn có biết, Việt Nam hiện nay chỉ còn khoảng 100-110 con?... Tất nhiên, có những con số ở đây bạn thấy còn nó rất lớn. Nhưng hãy thử nghĩ lại một chút. Đó là con số của cả một quốc gia, thậm chí của cả một thế giới thì có còn lớn nữa không? Đây là những con số thật sự đáng tiếc! Mà không chỉ với các loài động thực vật, nếu mất đi rừng, sẽ xảy ra hiện tượng lũ lụt, xói mòn, xói lở đất. Các bạn ơi, các bạn hãy thử nghĩ mà xem. Ngưòi nông dân vất vả cả năm trời được có 2 vụ lúa. Vậy mà chỉ một lần lũ về là cuốn sạch mất một vụ rồi. Thử hỏi nỗi khổ tâm ấy ai thấu? Hay dải đất miền Trung thân thương của Tổ quốc năm nào cũng phải chịu khổ vì nước lũ, các hộ dân khó mà tạo được cuộc sống ổn định. Như thế có thiệt thòi hay không? Vâng, xin nói lại rằng tôi và rất nhiều người ở đây chưa từng tham gia chặt phá rừng. Nhưng chúng ta có dám chắc rằng chúng ta chưa từng dung những sản phẩm của rừng xanh? Có những nhu cầu cơ bản quan trọng, nhưng lại có những nhu cầu chỉ để thoả mãn mục đích cá nhân. Hầu hết mọi người đều ưa dung đồ gỗ hơn, nhất là những loại gỗ quý. Vậy thì tại sao không từ bỏ một chút lợi ích cá nhân mà cứu lấy môi trường này- ngôi nhà chung của tất cả chúng ta? Rừng là lá phổi xanh của thế giới. Trong mỗi chúng ta, có ai có thể sống thiếu phổi? Cũng như vậy, chúng ta không thể sống thiếu rừng, thiếu cay xanh. Vai trò trước hết có thể nói là tạo ra môi trường sống! Thật vậy, trong sinh giới (thế giới sống), chúng là sinh vật sản xuất ra gần như toàn bộ chất hữu cơ mà từ trong đó là thức ăn của các động vật, tiếp đó động vật lại là thức ăn của các động vật ăn thịt ở cấp cao hơn trong chuỗi thức ăn,... Toàn bộ sinh giới có quan hệ chặt chẽ về mặt dinh dưỡng mà cây cối (thực vật) đã sản xuất ra nguồn hữ cơ cơ bản đầu tiên. Không chỉ là cỗ máy tạo ra môi trường sống mà nó còn vận hành, bảo tồn và phát triển môi trường sống. Sự sản sinh các chất thải từ con người và động vật trong trao đổi chất với môi trường đặc biệt là CO2 lại được cây xanh sử dụng để tái tạo chất hữu cơ. Việc tái tạo này đã sử dụng không chỉ CO2 mà còn sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời tích lũy trong các hợp chất hữu cơ tạo thành từ đó làm cho nhiệt độ trái đất không tăng cao mà còn dự trữ năng lượng cho con người và động vật sử dụng làm thức ăn, bảo tồn năng lượng (dầu mỏ, than đá có nguồn gốc từ thực vật). Nói tóm lại cây cối hay thực vật là một cỗ máy sinh học tuyệt vời mà chúng ta cần phải bảo vệ, triệt để khai thác một cách hợp lí sao cho có ích cho cuộc sống không chỉ của chúng ta mà toàn bộ sinh giới, không chỉ cho hôm nay mà còn cho mai sau. Bạn hãy trồng một cây xanh trong góc vườn, hay trong một chậu cây trên thềm cửa sổ, dù chỉ một hành động nhỏ bạn cũng cho thế giới xanh hơn, nhìn chúng bạn sẽ thấy quy luật tuần hoàn và ý nghĩa cuộc sống. Mỗi khi tiêu dùng một sản phẩm bạn hãy nhớ nó đa phần là có nguồn gốc hữu cơ hoặc sinh ra có liên quan hoặc sử dụng đến nguyên liệu hữu cơ mà nguyên liệu hữu cơ này lại bắt nguồn từ cây xanh, hãy biết tiết kiệm hợp lí vì tương lai của trái đất, vì tương lai thế giới. Trên Trái Đất, động vật và thực vật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó thực vật là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của động vật, nhất là con người. Ngược lại động vật cũng có vai trò cho sự phát triển của thực vật. Ngày nay, con người càng ngày càng xa môi trường sống tự nhiên ngày nào để hòa lẫn trong môi trường nhân tạo, được tạo ra bởi bêtông cốt thép, phố phường chật chội và ngày càng ít cây xanh hơn. Và khoa học đã dần dần chứng minh được tầm quan trọng của cây xanh : - Thứ nhất, thực vật là nguồn thực phẩm gián tiếp hoặc trực tiếp cho con người. - Thứ hai, thực vật là điều kiện tiên quyết cho thế giới động vật tồn tại và phát triển, nhờ đó mới có thể đảm bảo cho sự câng bằng sinh thái - một điều vô cùng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của sinh giới. - Thứ ba, thực vật là nguồn cung cấp các chế phẩm sinh học cho y học hiện đại. - Thứ tư, cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng cho môi trường sống. Cây xanh điều hòa không khí nhờ khả năng hấp thu năng lượng mặt trời, xả hơi nước mát vào không khí, hấp thu các khí độc hại trong môi trường đồng thời nhả khí O2. - Thứ năm, cây xanh có bộ rễ phát triển mạnh, ôm lấy đất, giữ nước cho đất, chống xói mòn, khô hạn,lũ lụt ,xoáy lốc. - Thứ sáu, cây xanh được xem như máy điều hòa tự nhiên tuyệt vời nhất : Nó hấp thu và phản xạ năng lượng mặt trời chiếu xuống đất làm giảm sức nóng của trái đất, hấp thu khí cacbonic gây hiệu ứng nhà kính. (Các máy điều hòa không khí nhân tạo chỉ có thể làm mát trong nhà và thải khí nóng vào môi trường, mặt khác chúng cần năng lượng để hoạt động nên nó càng làm cho môi trường nóng lên ,chưa kể là các khí chạy máy lạnh làm hủy hoại tầng Ozone. Như vậy, máy lạnh chỉ là thiết bị làm mát tạm thời trong một phạm vi rất nhỏ mà thôi.) - Thứ bảy, cây xanh còn nhả ra các ion âm rất có lợi cho sức khỏe chúng ta thông qua hô hấp. Các ngôi nhà, đường sá, trường học được bao phủ cây xanh sẽ vô cùng có lợi cho sức khỏe con người. Sống trong không khí trong lành, tâm hồn con người sẽ trở nên dịu lắng, thanh thoát, minh mẫn, yêu cuộc sống. - Thứ tám, cây xanh nếu biết khai thác hợp lý sẽ là nguồn năng lượng và nguyên liệu quý giá của cuộc sống. Ngoài ra còn giúp chống cháy rừng, giúp cây phát triển tốt hơn. * Đại ý : Cây xanh đóng góp lớn trong việc bảo vệ bầu khí quyển, bởi lượng lớn CO2 mà cây xanh hấp thụ chuyển hóa thành chất dinh dưỡng đã góp phần vào việc giảm thiểu hiệu ứng nhà kính.Điều hòa khí hậu và giảm thiểu tiếng ồn là vai trò chính trong bảo vệ môi trường,ngăn chặn lũ lụt. Ngoài ra, cây xanh còn tham gia vào chuỗi thức ăn vì nó là thành phần chính tổng hợp chất dinh dưỡng, cung cấp cho hệ sinh thái.
Ai có bài viết về Việt Nam hợp tác với các nước bạn như thế nào không. Việc hợp tác của Viet Nam zới các nước ban ak'. Và vai trò của thanh niên trong việc hợp tác đó. Ai có bài viết, chỉ miùnh zới nha
(Xem thêm)
Hãy cho biết vai trò của giáo dục trong sự nghiẹp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước?

nguyen thi thuy hang

[quote]Từ bài viết của [b]ChuyenGia[/b] đạo đưc con người hiên nay bị ảnh hưởng văn hóa phương tây nên con người thời đại mới phải biêt chọn lọc và học hỏi những cái có ít và tôt cho xã hội .nên giáo dục cân phải đánh vào trọng tâm mà dạy 1. nêu giáo dục là gì 2. vai trò của giáo dục đối với người học 3. con người trong sư nghiập cnh - hdh 4. tầm quan trọng của gd trong thời đại mới - xây dựng con người xhcn vừa có đức, vừa có tài - xây dựng con người có tác phong công nghiệp cao[/quote]
Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước.

nuyễn ngọc quang

[:)] sao ban khong tu lam [:-/][:D] that la luoi[;)][):D(] [:-P][:-P][:-P][:-P][:-P][:-P][:-P] ve ma mua van mau[:-P][):D(][:D][;)][:)]
Thưa các bạn, mình nghe nói chức danh CIO hiện đang đóng vai trò rất quan trọng trong các DN, nhưng thực sự vẫn chưa hiểu rõ công việc của một CIO gồm những gì, và cần phải đạt được những bằng cấp, hay kiến thức gì để có thể trở thành một CIO ?
(Xem thêm)

thuy linh

Tôi thử bàn luận về CIO tức Giám đốc thông tin theo quan điểm tôi một chút : Định nghĩa : chữ tổ chức tôi dùng ở đây là Doanh nghiệp, cơ quan, một đơn vị bất kỳ nào đó Bản thân chữ thông tin cũng nói lên đặc thù của chức danh này. Nó gồm có mấy phần chính : Làm sao xây dựng được một hệ thống thông tin tốt trong đơn vị, tổ chức của mình đang hoạt động. Làm sao tổ chức tốt hệ thống thu thập thông tin trong tổ chức mà mình lãnh đạo. Làm sao tổ chức thu thập nhanh, chính xác các thông tin phát sinh để phục vụ cho đơn vị - DN hoặc tổ chức (thông tin ở đây bao gồm cả thông tin nội bộ tổ chức và các thông tin ngoài tổ chức nhưng phục vụ cho hoạt động của tổ chức của mình ) Phân tích xử lý các thông tin thu thập được để phục vụ điều hành của cả tổ chức đạt hiệu quả cao nhất. Với cách nhìn như vậy thì CIO không nhất thiết phải là một IT man mà lại là người nhậy bén nắm bắt thu thập và xử lý thông tin và điều này cũng không nhất thiết phải là người có bằng cấp cao siêu. Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay thì có bằng cấp về phân tích quản trị sẽ rất hữu ích cho chức danh CIO trong việc phân tích thông tin sau xử lý. Người làm CIO phải có hiểu biết về công nghệ mới vì CNTT tiến rất nhanh và là một công cụ tuyệt hảo để thu thập và xử lý thông tin nên nếu hiểu công nghệ cũng giúp cho CIO có được cái nhìn về sử dụng công nghệ thông tin và đưa vào áp dụng cho tổ chức của mình một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Ở Việt nam hiện nay do nhiều lãnh đạo có các kiến thức về IT yếu nên hay khoán trắng cho bộ phận CNTT. Ở trường hợp này có hai khả năng xẩy ra : 1. Các bạn IT sẽ có một cơ hội tuyệt vời để trở thành CIO nhưng với điều kiện phải bổ sung thêm các kiến thức về nghiệp vụ, các hiểu biết về quản trị doanh nghiệp cũng như tổ chứcvà phải xác định các kiến thức này còn quan trọng hơn cả kiến thức về CNTT. Rất tiếc theo kinh nghiệm của tôi rất nhiều bạn làm IT bỏ qua cơ hội này. 2. Sẽ có một cách nhìn sai về CIO (đồng nghĩa với lập phòng MT) và hiệu quả ứng dụng và xử lý thông tin không cao. Lúc này các IT cặm cụi làm công việc của mình. Các Giám đốc thì băn khoăn và thắc mắc vì đầu tư quá nhiều tiền cho CNTT mà hiệu quả chẳng thấy đâu hoặc hiệu quả không rõ ràng. Lại rôi vào vòng luẩn quẩn. Tóm lược những ý kiến đầu tiên của tôi. về đề tài này mà mổ xẻ thì có rất nhiều điều để tranh luận đấy .
phân tích mối quan hệ nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.Mối quan hệ cảm tính và lý tính đối với thực tiễn,vai trò của chân lý đối với thực tiễn cụ thể.Mối quan hệ chân lý và hoàn cảnh trong thực tiễn.Liên hệ với Việt Nam
(Xem thêm)
Bạn nào biết tìm tài liệu cho bài Tiểu luận trên ở đâu thì bảo giùm mình với nhé.

Phố mùa đông

Bạn tham khảo thử cái này nhé [b]Mạn bàn chữ “Nhân” trong luận ngữ của Khổng Tử[/b] Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất. Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai trò lịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận. Dường như mỗi một bước tiến mới của lịch sử thì từng vấn đề trong nội dung của Nho giáo lại được đề cập, xem xét lại và được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Có thể nói, một học thuyết ra đời cách đây hơn 2.500 năm đã được sự kiểm chứng của thời gian thì giá trị của nó về mặt lý luận và thực tiễn là điều chúng ta không dễ bỏ qua. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ muốn góp thêm tiếng nói về một khía cạnh mà, theo chúng tôi, mang tính tích cực và có ý nghĩa đối với chúng ta trong thời đại ngày nay. Đó là tư tưởng "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử. Khái niệm "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới nội dung của khái niệm này trong Luận ngữ. Luận ngữ là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, tác phẩm này do nhiều người ghi và ra đời sớm nhất cũng là sau khi Khổng Tử đã mất chừng bảy mươi hoặc tám mươi năm. Chính vì vậy mà nhiều điều do Khổng Tử nói ra đã không được các học trò của ông ghi lại đầy đủ. Điều đó khiến chúng ta gặp không ít khó khăn khi nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử. Trong Luận ngữ có nhiều khái niệm được lặp lại nhiều lần. Chẳng hạn như khái niệm "Nhân"- 109 lần, khái niệm "Người quân tử"- 107 lần, khái niệm "Lễ" - 74 lần, khái niệm "Đạo", 60 lần. Do đó, trong giới nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nội đung của các khái niệm này. "Nhân" trong Luận ngữ của Khổng Tử là một trong những khái niệm nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người lại cho rằng "Lễ" mới là nội đung cơ bản của tác phẩm và có người còn coi cả "Nhân" và "Lễ" đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Theo chúng tôi, quan niệm coi "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngữ, là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử - đó là quan niệm chính xác, đúng đắn. Chúng tôi đồng ý với quan niệm này không phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm "Nhân" được nhắc tới nhiều lần trong tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc lúc bấy giờ, Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà "Chiến tranh là phương thức phổ biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời". Trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi, mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suốt cuộc đời mình, Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề này. Ông nói: "Ta 15 năm tuổi để chí vào việc học (đạo), 30 tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm), 40 tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ), 50 tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được), 60 tuổi đã biết theo mệnh trời, 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý". Với một con người suốt đời "học không chán, dạy người không mỏi", lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lòng nhân rộng lớn biết bao. Trong Luận ngữ, khái niệm "Nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. “Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. "Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả. Về điều này, Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là "trung thứ". "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó. "Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người. Dù trong Luận ngữ có nhiều sự giải thích khác nhau về "Nhân", song sự giải thích trong thiên "Nhan Uyên" là có tính chất bao quát hơn cả. Có thể nói, ở đây "Nhân" trong quan niệm của Khổng Tử là "yêu người" (Luận ngữ, Nhan Uyên, 21). Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều "Nhân". "Nhân" là "yêu người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghét người". Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghét người". Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân mới thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3). Có người cho rằng, "Nhân" (người) trong "ái nhân" (yêu người) là chỉ con người trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêu người trong giai cấp phong kiến. Thực ra, khái niệm "Nhân" (người) mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ'. Do đó, đi liền với "Nhân" (người) là các khái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân", "thánh nhân", "tiểu nhân"... Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau. "Thánh nhân" là người có đạo đức cao siêu, "tiểu nhân" là người có tính cách thấp hèn… "Nhân" ở đây là chỉ con người nói chung và "ái nhân" là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ. Trong Luận ngữ, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm "Nhân" (yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả. Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ. Có lần một học trò của Khổng Tử là Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: "Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thì làm thế nào phân biệt được". "Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ. Lại một lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói gì tới ngựa cả. Điều đó cho thấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là sự sống còn của ngựa (tức là của cải). Tư tưởng "Nhân" là "yêu người" của ông thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc. Coi "Nhân" là "yêu người", trong Luận ngữ, Khổng Tử đã dành không ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về "Nhân", Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân. Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?" (Luận ngữ, Nhan Uyên, l). Trọng Cung - một học trò khác của Khổng Tử hỏi về "Nhân", Khổng Tử cho rằng, những cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh của người nhân (Xem: Luận ngữ, Nhan Uyên, 2). Còn khi Phàn Trì hỏi về "Nhân", Khổng Tử giảng giải rằng, “khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung, khi làm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đức trung thành. Dẫu có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 19). Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Ông nói: "Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người" (Luận ngữ, Dương Hoá, 6). Không chỉ thế, người nhân, theo Khổng Tử, còn là người mà "trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả" (Luận ngữ, Ung dã, 20), và "người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 27). Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản. Do vậy, theo ông, người nhân "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân" (Luận ngữ, Lý nhân, 5). Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là "yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm người - sống với mình vả sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông. Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả dối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa... Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia". Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ... Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Nếu tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân của mình, không phân biệt riêng tư thì "Nhân" phân biệt mình và người, lấy mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt người tất, kẻ xấu. Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến"giao tương lợi". Tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Phật thương người và thương cả vạn vật. Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần chứ không phải ở trên cõi niết bàn. Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á thì nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng. Có thể nói "Nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đông của Châu Á này. Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn năm một phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử. Nhờ có đường lối "nhân nghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững. Sự trì trệ của xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử. Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước. Con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình. Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa. Xã hội ngày nay vẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con người này rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng. Do vậy, tư tưởng "Nhân" là yêu người của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huy tác dụng. Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mối quan hệ. Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ có biết bao thảm kịch xảy ra. Một khi mỗi con người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tai nạn do khách quan đưa lại. Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa, mà còn đúng với cả xã hội ngày nay. Khi xã hội loài người đang trong quá trình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành "ngôi nhà chung", không còn có cộng đồng lớn hay nhỏ đứng ngoài "ngôi nhà chung" ấy, thì chúng ta càng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xây dựng một ngôi nhà chung mang một sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tín ngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung. Có thể nói, phạm trù "Nhân" của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không còn phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý" của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm. [right]( theo chungta )[/right]
1 : Em hiểu gì về vai trò của ước mơ và khát vọng của con người trong cuộc sống 2: Vai trò của học tập trong việc rèn luyện bản thân , na7ng cao tri thức để theo kịp sữ phát triêncu3a nhân loại

Nguyễn Nam

cảm ơn bạn .....

tien123

là đàn áp những ai mang tư tưởng chống đối bọn cầm quyền và bè lũ tay sai Trung cộng
Sản phẩm nổi bật

Thành viên tích cực

1

Dang Anhs

1 lượt cảm ơn
2

Nguyen Van Cuong

1 lượt cảm ơn
3

Nguyê n Thi Nga

1 lượt cảm ơn
4

Hương Trịnh

1 lượt cảm ơn
5

Pham Thi Hai Trang

1 lượt cảm ơn