Thuyết minh nằng phương pháp tự thuật giúp e vs mai e nộp r
em đã tìm khắp google nhưng vẫn không thấy bài nào có liên quan..mai em phải nộp cô nên rất gấp.. ví dụ: -cây bút tự giới thiệu về mình... -xưng bằng tôi.... -miễn là nói về cây bút như nói về bạn thân mình vậy... ...
(Xem thêm)

em cug muon viet ve 1 cuoc tro chuyen ma ko bt viet
Viết bài thuyết minh về bộ phận văn học dân gian với một đoàn học sinh nước ngoài đến thăm trường

Chita

Bạn có thể làm thế này: đời học sinh ai cũng phải xách cặp táp. Cặp để đựng giấy tờ, sách, bút, tập và những dụng cụ cần thiết kể cả ... đồ ăn, quần áo, truyện tranh và có trời mới biết là gì nữa. Con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dề chạy nhảy, vui đùa. Cặp được làm bằng vải nỉ, hoặc bằng giả da cho con gái. Dù bằng chất liệu gì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách, chưa kể còn bị quăng ình ình khi chủ nhân gặp chuyện bực mình, hoặc ham vui mà quăng nó đi. Sơ sơ vậy thôi, bạn có thể tùy theo mấy phút mà bôi ra thêm. Chúc học vui. Thân. thêm chút I. MỞ BÀI: - Giới thiệu chiếc cặp sách là người bạn đồng hành lâu dài với lứa tuổi học trò trong suốt thời gian cắp sách đến trường. II. THÂN BÀI: 1. Nguồn gốc, xuất xứ: - Xuất xứ: vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển. - Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới. 2. Cấu tạo: - Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản. + Phía ngoài: chỉ có mặt cặp, quai xách, nắp mở, một số cặp có quai đeo,. + Bên trong: có nhiều ngăn để đựng sách vở, bút viết, một số cặp còn có ngăn để đựng áo mưa hoặc chai nước,. 3. Quy trình làm ra chiếc cặp : - Có nhiều loại cặp sách khác nhau như: cặp táp, cặp da, ba-lô,. với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc: Tian Ling, Ling Hao,. mang những phong cách thiết kế riêng biệt. Tuy nhiên cách làm chúng đều có phần giống nhau. + Lựa chọn chất liệu: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, vải da,. + Xử lý: tái chế lại chất liệu để sử dụng được lâu dài, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó. + Khâu may: thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế. + Ghép nối: ghép các phần đã được may thành một chiếc cặp hoàn chỉnh rồi được tung ra thị trường với những giá cả khác nhau. 4. Cách sử dụng: - Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau: + học sinh nữ : dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người. => Thể hiện sự dịu dàng, thùy mị, nữ tính. + hoïc sinh nam: ñeo cheùo sang moät beân. => Theå hieän söï khí phaùch, naêng ñoäng, nam tính. Nam sinh viên Đại học Đeo cặp một bên thể hiện sự tự tin và năng động + học sinh tiểu học : đeo sau lưng để dễ chạy nhảy, chơi đùa cùng đám bạn. => Thể hiện sự nhí nhảnh, ngây thơ của lứa tuổi cấp 1. Các nhà doanh nhân: sử dụng các loại cặp đắt tiền, xịn, thường thì họ xách trên tay. => Thể hiện họ thật sự là những nhà doanh nhân thành đạt và có được nhiều thành công cũng như sự giúp ích của họ dành cho đất nước. - Nhìn chung, khi mang cặp cần lưu ý không nên mang cặp quá nặng, thường xuyên thay đổi tay xách và vai đeo. 5. Cách bảo quản: - Học sinh chúng ta thường khi đi học về thì quăng cặp lên trên cặp một cách vô lương tâm khiến cặp dễ bị rách hay hư hao. Nên bảo quản cặp bằng những phương pháp sau đây để giữ cho cặp bền tốt và sử dụng được lâu: + Thường xuyên lau chùi hoặc giặt cặp để giữ độ mới của cặp. + Không quăng cặp hay mạnh tay để tránh làm rách cặp hay hư hao. + Cứ khoảng 1 - 2 lần mỗi năm, hãy làm mới cặp bằng xi đánh giày không màu. + Để sửa chữa cặp khi bị rách, đừng nên mang đến hàng sửa giày hay giặt khô vì như vậy sẽ có nguy cơ bị hỏng do dùng sai công cụ. Hãy đưa đến thợ sửa cặp chuyên nghiệp. + Đừng bao giờ cất cặp da trong túi nilon, nó có thể làm khô túi hoặc bị chất dẻo dính vào da. + Thường xuyên nhét giấy vụn hoặc áo phông cũ vào cặp để giữ hình dáng. + Đặt cặp trong túi nỉ của cửa hàng hoặc vỏ gối để giữ khả năng đứng thăng bằng của cặp. 6. Công dụng: - Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường. - Cặp cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở. Một số bạn cũng sử dụng cặp để che mưa cho chính bản thân. - Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò - cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. III. KẾT BÀI: - Cùng với những vật dụng tiện lợi khác, chiếc cặp sách đã trở thành một người bạn trung thành và luôn đồng hành với mỗi con người, đặc biệt là đối với những học sinh - chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam. ----------------- Bài này mình tự làm (có kết hợp trong văn mẫu)!!!Nhờ pà kon góp ý:)>- Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp - một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm! Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988. Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa,... Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: lựa chọn chất liệu, xử lí, khâu may, ghép nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, gải da,... Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi. Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều càn thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,… Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ. Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh- chủ nhân tương lai của đất nước.
em dang rat can 1 bai van thuyet minh ve 1the loai van ban (nhu van ban thuyet minh ),co ai giup em voi ? :(( em cam on rat nhieu.

Chu Đỗ Quyên

Bạn à..Thuyết minh về 1 thể loại văn học ko khó lắm đâu..Cần chú ý về bố cục dàn bài ( điều này các thầy/cô giáo luôn cho ban trước khi làm bài), dựa vào sườn ý của bài văn cần thuyết minh..Viết theo ý mở, đừng lạm dụng quá vào dàn ý ( như thế bài văn sẽ rất chán :( )..Có thể dùng văn mẫu để tham khảo, nhưng mà đọc phát bik ngay..[:-P]
cac ban co the lam giup minh mot bai van thuyet mnh ve rung Uminh dc ko a?minh cam on cac ban rat nhieu .[:-/]

ke phieu bac

Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn đăng trên tuần báo Nhân loại (1957), sau in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo,v.v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc. Những nhân vật của Hương rừng cà mau cũng có những nét khác thường độc đáo. Họ là những dị nhân sống trong một thời buổi giao thời, đơn giản bình dị nhưng nhiều khi cũng có trí phán đoán sâu sắc. Nghe ông già nam xay lúa bàn chuyện thời tiết đất trờitrong chuyện “ông già xay lúa” hay nghe ông mù Vân Tiên bàn về chuyện cá ăn câu trong”người mù giăng câu”, chúng ta mới thấy được cái học trong đời sống không phải chỉ ở học đườngmà còn là kinh nghiệm từ hàng ngàythu lượm được. Và , trong từng ngôn ngữ, từng cử chỉ, vẫn bàng bạc một lòng yêu nước, yêu tự nhiên. Về tác phẩm “bắt sấu rừng U Minh hạ” - Những nét đặc sắc về nội dung: Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở với bao nhiêu mối đe dọa tới cuộc sống của con người. “…nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? ” Hơn thế nữa, rừng rậm U Minh không chỉ nổi tiếng với vẻ hoang xơ của mình, mà còn được biết đến với nguồn động vật phong phú. Trong đó phải kể đến là loài cá sấu. “ nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhất. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm…” Nói đến đàn sấu ở rừng U Minh, trước hết ta phải nói đến số lượng. “ – Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng ! So sánh như vậy, không phải quá đáng ! Dân làng xúm nhau lên rừng để nhìn tận nơi. Cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn. Sấu nổi lên, chen vào bức tranh màu xanh ấy những vệt đen chi chít …” Không chỉ nhiều mà đàn sấu nơi đây còn to lớn , khôn lanh. “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá.Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu.” Tuy vậy, thiên nhiên nơi đây vẫn là chỗ ở, là nơi để người dân kiếm kế sinh nhai. Cho nên, họ vẫn tiếp tục ở lại , bám giữ mảnh đất của tổ tiên và ra sức cải tạo nơi đây ngày một tốt đẹp hơn . “… , cứ như vậy cho đến khi người Việt Nam ta đổ tràn xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp. Ban đầu, họ ngỡ rằng sấu chỉ ở dưới sông, sau khi câu được chừng năm mươi con sấu ở ngọn rạch, họ dinh ninh cho là sấu đã giảm bớt…mười phần chết bảy còn ba…” Bằng chính nghị lực của bản thân, họ đang cố tìm cách chiến đấu lại với thiên nhiên, chiến đấu với những thế lực đàn áp mình. “Trong số những người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông, lao , ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng, đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì quá cạn còn đi bộ xuống thì lún ngập gối.” Cuối cùng, nhờ sự kiên trì, lòng quyết tâm, dũng cảm và tài trí của mình, con người đã tháng được thiên nhiên và hơn thế nữa, họ đã thắng được chính mình. “ Dưới sông, Tư Hoạch ngối trên xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát. Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng…” + Nhân vật ông Năm Hên: Ông Năm Hên là nhân vật được tác gia xây dựng nhằm nói lên sự dũng cảm và tài trí của con người Nam Bộ. Hoàn cảnh của ông thật éo le. “… Nói thiệt với bà con : cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh em tụi tôi. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười hai n8m về trước. Sau được tin cho hay : ảnh bị sấu ở ngã ba Ðình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh…” Với chút mưu mẹo của mình, ông Năm đã giúp bà con bắt được lũ sấu và được bà con quý trọng như “một bậc thánh nhân” “-thực là bậc thánh của xứ này rồi! Mưu kế như vậy thật quá cao cường. Oång đâu rồi ? sao không thấy ổng về? Xóm mình nhất định đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già, ở xóm này, bà con tính sao? “ Và khi công việc đã hoàn thành, ông vẫn không quên những người đã khuất và thắp cho họ một nén nhang. Ðiều đó cho thấy ông Năm là một người rất trọng tình nghĩa, sống với nộ tâm “Chưa dứt lời, bên sông nghe tiếng hát của ông Năm Hên, ngày một rõ: Hồn ở đâu đây? Hồn hỡi ! Hồn hỡi ! Xa cây xa cối, Xa cội xa nhành, Ðầu bãi cuối gành, Hùm tha, sấu bắt, Bởi vì thắt ngặt, Manh áo chén cơm, U Minh đỏ ngòm, Rừng tràm xanh biếc ! Ta thương ta tiếc Lập đàn giải oan… Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhứt là khi thấy ông đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay.” + Cảnh bắt sấu : Ðây là một trong những cao trào của câu truyện mà chúng ta không thể bỏ qua. Nó thể hiện đầy đủ những kinh nghiệm, vốn sống, tài trí cũng như lòng dũng cảm của ông Năm Hên. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòn địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn h1 miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ôâng Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” - Những nét đặc sắc về nghệ thuật: + những phương ngữ được dùng vừa phải, thích hợp : táp, xuổng, ăn ong… + cách kể chuyện gọn và sáng. + tính cách nhân vật được thể hiện sinh động mà chỉ bằng vài chi tiết đơn sơ III. KẾT LUẬN : Mỗi vùng đất của Tổ Quốc ta có những nét đặc sắc, kì thú riêng. Vốn gắn bó quen thuộc với đất rừng phương nam, qua truyện ngắn này, nhà văn Sơn Nam đã đem đến cho người đọc một bức tranh độc đáo : vùng rừng tràm xanh ngắt lau sậy, mốp, cóc kèn…Và thật lạ lùng “ sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. Người nông dân rạch Cái Tàu đã phải tạo dựng cơ đồ trên vùng đất hoang vu, dữ dội đó. Chính vì thế, người đọc như được thám hiểm những vùng đất mới với biết bao điều bí ẩn của thiên nhiên và con người. Truyện mang phong vị Nam Bộ rất đậm đà. Sắc thái độc đáo này được tạo nên bởi những yếu tố nghệ thuật đặc sắc. Chính vì thế truyện này cũng như tập Hương rừng Cà Mau nói chung có dáng dấp riêng, khó lẫn
cac ban co the giup minh lam mot bai van thuyet minh ve rung Uminh duoc ko a ? minh cam on rat nhieu !
cac ban hay giup minh lam 1 bai van thuyet minh ve phuong phap hoc bo mon ngu van? minh sap nap bai rui` hay giup minh voi minh xin cam on nhiu

styles

Tham khảo thử tài liệu này em nhé! - Văn thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên xã hội bằng phương thức trình bày, giối thiệu, giải thích. Văn thuyết minh có tính chất khách quan, thực dụng là loại văn bản có khảt năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích cho con người. Ngôn ngữ xử dụng trong văn bản thuyết minh: Chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động. * Ví dụ: đọc văn bản a (BT 1): + Văn bản cung cấp tri thức về vấn đề tiền giấy Việt Nam. + Văn bản có tính chất khách quan thực dụng, cung cấp tri thức xác thực hữu ích cho con người về vấn đề tiền giấy Việt Nam. + Văn bản trình bày rõ ràng, chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động. II. Một số lưu ý khi viết văn thuyết minh: 1. Yêu cầu: Người viết phải nghiên cứu, tìm hiểu sự vật hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm được bản chất đặc trưng của chúng để tránh sa vào trình bày những biểu hiện không phải tiêu biểu, không quan trọng. - Người viết có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích, phân loại... 2. Phương pháp: a. Phương pháp thuyết minh là vấn đề then chốt của bài văn thuyết minh. Nắm được phương pháp chúng ta sẽ biết ghi nhận thông tin, lựa chọn số liệu nào để thuyết minh một sự vật hiện tượng. Nếu hiểu cấu tạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo quá trình hình thành của nó từ trước đến sau. Nếu sự vật có nhiều phương diện thì trình bày từng phương diện 1 cho đến hết. Như thế là trình bày sự việc theo đặc trưng của sự việc. b. Có 6 phương pháp hay dùng trong văn bản thuyết minh: Nêu định nghĩa, l;iệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích phân loại. * Ví dụ: HS xem bài tập 4 (Ở bước 2). Người viết phải huy động kiến thức: a. Kiến thức sinh học và sử dụng phương pháp nêu định nghĩa. b. Kiến thức về sức khoẻ đời sống và sử dụng phương pháp nêu số liệu. c. Kiến thức về sức khoẻ người cao tuổi, sử dụng phương pháp liệt kê . d. Kiến thức về môi trường. Phương pháp phân tích phân loại. đ. Kiến thức về bảo vệ sức khoẻ, phương pháp so sánh. e. Kiến thức về danh lam thắng cảnh, phương pháp nêu định nghĩa. g. Kiến thức về cờ vua cờ tương, phương pháp phân tích phân loại. c. Cách làm văn thuyết minh: - Để làm văn thuyết minh trước hết phải tìm hiểu đề bài nhằm xác định đối tượng thuyết minh. - Tìm các tri thức khách quan khoa học về đối tượng thuyết minh.( có thể đến tận nơi quan sát, tìm hiểu, ghi chép hoặc tìm đọc ở sách báo...). - Sau khi có kiến thức rồi cần tìm một phương pháp trình bày theo trình tự thích hợp với đối tượng cần thuyết minh. - Khi làm bài văn thuyết minh chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác, diễn đạt rõ ràng mạch lạc. Chú ý chất văn phù hợp với văn thuyết minh. * Ví dụ: - Nếu thuyết minh một chiếc xe đạp có thể đi từ bộ phận quan trọng đến không quan trọng đến tác dụng của xe đạp đối với người sử dụng. - Nếu thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam cần đi theo trình tự từ nguồn gốc cách làm nón, cái kiểu dáng nón, tác dụng của nón đối với người sử dụng. d. Phương pháp thuyết minh đặc điểm một thể thơ, một thể loại văn học, hay một văn bản cụ thể: - Trước hết phải quan sát, nhận xét sau đó khái quát thành những đặc điểm . - Khi nêu các đặc điểm cần lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu quan trọng và cần có những ví dụ cụ thể để làm sáng tỏc các đặc điểm ấy. * Ví dụ: Bài tập 8 (Ở bước 2). đ. Phương pháp thuyết minh đặc điểm đồ dùng trong cuộc sống: - Quan sát tìm hiểu kĩ cấu tạo, tính năng, tác dụng, cơ chế hoạt động của đồ dùng đó. - Khi trình bày cần tiến hành giới thiệu lần lượt những bộ phận tạo thành, nói rõ tác dụng và cách sử dụng, bảo quản của nó sao cho người đọc hiểu ( Bố cục: 3 phần) * Ví dụ: Bài tập 5 (Ở bước 2). e. Phương pháp thuyết minhgiới thiệu một phương pháp cách làm: - Người viết phải tìm hiểu nắm chắc ( phương pháp )cách làm đó. - Khi thuyết minh cần trình bày rõ điều kiện, cách thức, trình tự để thực hiện và yêu cầu chất lượng đối với sản phẩm. (Trả lời câu hỏi: Phải làm thế nào? Cái nào làm trước? cái nào làm sau?) - Lời văn ngắn gọn rõ ràng. * Ví dụ: Bài tập 6 (Ở bước 2). g. Phương pháp thuyết minh giới thiệu một danh lam thắng cảnh: - Người viết bài giới thiệu một danh lam thắng cảnh thì phải đến nơi thăm, quan sát, tra cứu sách vở, hỏi han, để có những kiến thức đáng tin cậy. - Bài giới thiệu nên có đủ bố cục 3 phần, lời giới thiệu ít nhiều có kèm theo miêu tả bình luận thì sẽ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên bài viết phải dựa trên cơ sở đáng tin cậy về nơi được giới thiệu. - Lời văn chính xác, biểu cảm.
cụ thể là thuyết minh về bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), CẢnh ngày hè ( Nguyễn Trãi ), Tai lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lý BẠch ) .Em fải cần gấp cho bài kiểm tra tới.[:(] Mong dc su gop ý của anh chi. Em cam on nhiu [:)][:)][:)]...
(Xem thêm)
cụ thể là thuyết minh về bài Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), CẢnh ngày hè ( Nguyễn Trãi ), Tai lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lý BẠch ) .Em fải cần gấp cho bài kiểm tra tới. [:(]Mong dc su gop ý của anh chi. Em cam on nhiu [:)][:)][:)] ...
(Xem thêm)
cho mình xin cái dàn ý và bố cục của bài văn thuyết minh về Nguyễn Trãi cùng với tác phẩm Binh Ngô Đại Cáo mai là mình nộp rùi làm ơn giúp mình cám ơn nhiều lắm

Bình yên

THUYẾT MINH VỀ BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO CỦA NGUYỄN TRÃI www.vatgia.com/hoidap/4029/16225/huong-dan-em-thuyet-minh-tac-pham-bach-dang-giang-phu-voi-a.html Thuyết minh về tác phẩm "PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (bạch đằng giang phú )" của nhà văn Trương Hán Siêu http://www.vatgia.com/hoidap/4029/14085/giup-em-thuyet-minh-vai-de-voi-cac-bac-!hix.html
[red]Thông báo từ ban Quản Trị website: Nội dung câu hỏi của bạn đã được edit lại do câu hỏi của bạn chưa rõ ràng. Bạn nên chú ý vào lần sau nhé![/red]

Tôi yêu VN

Tham khảo thêm bài này nữa nhé Mấy vấn đề về văn hoá trong cách xưng hô của người Việt Cao Xuân Hạo Ai nấy đều biết rằng tiếng Việt không có một đại từ nhân xưng (hay hồi chỉ) trung hoà. Không phải tiếng Việt không có những đại từ nhân xưng chính danh. Tao, mày, nó, hắn (chúng tao, chúng mày, chúng nó) và họ, có thể coi là những đại từ nhân xưng và hồi chỉ chính danh. Nhưng trừ họ (đại từ hồi chỉ ngôi thứ ba số phức) ra, tất cả các đại từ nàyđều được cảm thụ như không được lễ độ, và không thể dùng trong khi giao tiếp với người dưng trong khuôn khổ xã giao bình thường, và ngay cả họ cũng không phải lúc nào cũng dùng được (chẳng hạn không thể dùng thay cho cha mẹ hay người thân tộc ở bậc trên so với người nói). Tất cả các từ thường được dùng để xưng hô trong những điều kiện giao tiếp bình thường đều là những danh từ, trước hết là những thuật ngữ chỉ quan hệ thân tộc (trừ dâu, rể, vợ, chồng, ông nhạc, bà nhạc, v.v1) rồi đến những thuật ngữ chỉ những chức vụ hay cương vị có ít nhiều màu sắc tôn vinh như thầy, giáo sư, chủ tịch, bác sĩ, bộ trưởng, sư ông, sư cụ, thủ trưởng, sếp, rồi các cấp bậc quân đội, - nếu không kể một vài trường hợp dùng danh từ chỉ người nhà như vú. Ngày nay có thể coi một vài danh từ như tôi đã trở thành một “đại từ” gần như trung hoà, có thể dùng với bất cứ người nào không có quan hệ thân tộc với người nói. Ít nhất cái sắc thái khiêm tốn do nghĩa gốc (“tôi tớ”, “tôi đòi”, “bề tôi”) để lại thì kể cho đến nay gần như đã mất hẳn, nhất là khi tôi hầu như không bao giờ dùng một mình như một đại danh từ nữa, mà chỉ dùng trong những ngữ đoạn (đẳng kết như tôi tớ, hay chính phụ như bề tôi). Trong khi đó, chữ tớ, vống đồng nghĩa với tôi, lại phải được dùng trong những điều kiện khác hẳn, và có những sắc thái tuyệt nhiên không thích hợp với những cuộc giao tiếp với người dưng. Cũng cần phải nêu rõ rằng các từ thân tộc chỉ dùng để xưng hô, nghĩa là để chỉ ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai, chứ không bao giờ được dùng như đại từ hồi chỉ, nghĩa là để chỉ ngôi thứ ba thay cho danh ngữ, như một vài tác giả trước đây đã từng ngộ nhận. Điều này có thể thấy rõ qua cách đánh trọng âm của các từ hữu quan khi được dùng như danh từ và khi được dùng như đại từ: khi được dùng như đại từ (ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai), những từ này bao giờ cũng mất cái trọng âm mà nó có thể có khi được dùng như danh từ. Chúng tôi đã thực nghiệm điều này trong nhiều lớp tiểu học qua những trò chơi “đố các em đoán ra ai là người nói những câu có mẹ, con, bố như “Con nhớ ủ cơm cho nóng để mẹ về mẹ ăn” hay “Đừng nghịch máy tính, không bố về bố mắng cho đấy”: nhờ trọng âm, học sinh lớp 1 không bao giờ nhầm khi người làm thí nghiệm đố các em biết “ai là người nói câu ấy” (được diễn viên kịch nói thu vào băng ghi âm). Như vậy, có thể tin rằng đã hình thành một hệ thống đại từ nhân xưng, hay ít nhất là đã có một quá trình ngữ pháp hoá cá đại từ tương tự như quá trình ngữ pháp hoá (hư hoá) các danh từ chỉ “phía” trên, dưới, trong, ngoài thành những giới từ đánh dấu vai định vị (locative) và quá trình ngữ pháp hóa các vị từ có ý nghĩa di chuyển như lên, xuống, ra, vào, qua, sang, đi, về, lại, đến, tới thành những giới từ chỉ đích (target hay goal), cũng được khu biệt với các thực từ gốc bằng tiêu chí”mất trọng âm” – một phương tiện chung của tiếng Việt để khu biệt hư từ với thực từ. Thế nhưng, khác với các vị từ (“động từ”) khi chuyển thành giới từ chẳng hạn, các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc khi chuyển thành đại từ nhân xưng không có dấu hiệu gì mất nghĩa từ vựng một cách đáng kể như khi vị từ cho chuyển thành giới từ cho mà ta có thể quan sát khi so sánh hai câu Lấy tiền cho bạn [ 0111] Có nghĩa là “lấy tiền để biếu bạn” (cho là vị từ hành động) và Lấy tiền cho bạn [0101] có nghĩa là “lấy tiền giùm bạn” (cho là giới từ chỉ vai “người hưởng lợi” – beneficiary). Sự thay đổi về nghĩa ở đây không đưa đến một sự chuyển hoá về từ loại làm cho cấu trúc cú pháp của câu khác hẳn đi như trong hai câu trên, mà chỉ tương đương với một sự chuyển đổi từ “nghĩa đen” sang “nghĩa bóng” (nghĩa ẩn dụ) của chính những danh từ ấy: từ chỗ biểu thị một quan hệ thân tộc đích thực, danh từ ấy biểu thị một một mối quan hệ mà người nói dường như coi là”gần giống” với quan hệ thân tộc. Nghĩa là người nói làm như thế người nghe (hay người được nói đến), tuỳ theo lứa tuổi tương đối so với người nói, được mình coi như có quan hệ thân tộc với mình. Rốt cục, như nhiều nhà văn hoá học đã nêu lên, người Việt trong khi giao tiếp làm như thể họ coi nhau như người có quan hệ thân tộc. Tôi đã được nghe nhiều diễn giả ca ngợi cách xưng hô này của người Việt, cho thấy một mối thâm tình gắn bó toàn dân lại thành một gia đình. Và mặt khác, trong một cuộc hội nghị quốc tế về các giá trị văn hoá phương Đông tôi cũng đã chứng kiến sự thích thú vô hạn của những nhà văn hoá học ngoại quốckhi tôi miêu tả những tình huống khác nhau có thể diễn ra khi một người con trai chuyển từ cách xưng hô tôi/cô với một người bạn gái cùng cơ quan ( một cách xưng hô gần như trung hoà giữa những người lạ cùng một lứa tuổi) sang cách xưng hô anh-em mà tôi thuyết minh như một mưu toan thay đổi (an attempt at a change) mối quan hệ giữa hai người về phía thân mật hơn ( vì đó là cách xưng hô của những đôi tình nhân hay những đôi vợ chồng), và trong những điều kiện nhất địnhcó thể có giá trị như một lời tỏ tình không úp mở, và những cách phản ứng đa dạng mà người con gái có thể có, với những ý nghĩa có rất nhiều sắc thái khác nhau của nó. Mặt khác, khi một người chồng thay cách xưng hô thường ngày (anh/em) bằng cách gọi vợ là cô và tự xưng là tôi, ta có thể thấy ở người chồng ấy một thái độ không bình thường. Nếu đó không phải là một cách nói có sắc thái đùa bỡn, thì thường thường đó là dấu hiệu của một sự rạn nứt nào đó trong quan hệ gia đình. Tôi cũng có viết và nói một số bài về cái mà tôi coi là một tệ nạn khi một nhà báo chỉ vì lớn tuổi hơn người được phỏng vấn (một chiến sĩ hải đảo, một ngôi sao bóng đá, một hoa hậu, một nghệ sĩ lỗi lạc vừa được tặng một giải thưởng quốc tế đáng tự hào cho bất cứ dân tộc nào) mà tự thấy mình có quyền gọi người ấy bằng “em” hay bằng “cháu”. Và, lạ thay, người ấy cũng vui lòng chấp nhận cách xưng hô ấy và xưng em, xưng cháu với nhà báo, không hề nhớ mình là ai [2]. Tôi cũng đã tự hỏi xem liệu cách xưng hô “gia tộc chủ nghĩa” như thế có còn để lại một khe hở nào cho một quan hệ có tính chất dân chủ trong các cơ quan nữa không. Dù sao cũng không thể nào chấp nhận được thái độ kẻ cả của một người tự cho mình cái quyền gọi một công dân là em hay là cháu chỉ vì mình hơn người ta mười mấy tuổi. ngay trong nhà trường trung học (cấp hai) thời Pháp thuộc, tôi cũng chưa thấy một giáo viên nào dùng tu, toi (ngôi thứ hai số đơn) để gọi học sinh. Bao giờ giáo viên cũng gọi học sinh bằng vous (ngôi thứ hai số phức) như với người lớn. Thế mà ngày nay, ngay cả trong trường chuyên khoa (cấp ba) và cả trường đại học nữa, phần nhiều các giảng viên dám gọi học sinh, sinh viên bằng em. Cách xưng hô này không thể không đi đôi với một quan hệ bất bình đẳng và một thái độ bắt nạt có thể bị lạm dụng trong nhà trường, nơi lẽ ra có nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân cho các thế hệ sau. Rốt cuộc tôi thấy cách xưng hô này rõ ràng là có hai mặt trái nhau, trong đó có mặt tiêu cực khó lòng có thể thua kém mặt tích cực về tỷ trọng: một mặt, nó có thể làm cho những người dưng nhích lại gần nhau hơn; còn một mặt khác, nó đưa đến một không khí gia tộc hoàn toàn nhân tạo trong những môi trường không cần đến không khí gia tộc, thậm chí không thể chấp nhận thứ không khí này, vì nó quá thuận lợi cho chủ nghĩa con cháu (nepotism) và cho những thái độ kẻ cả của người này và thái độ khúm núm, nịnh bợ của người kia. Về phương diện lịch sử, người ta dễ có xu hướng giải thích hiện tượng này bằng cái dĩ vãng phong kiến của dân tộc ta. Nhưng chế độ phong kiến đã từng tồn tại ở Trung Quốc, ở Nhật Bản và ở nhiều nước khác trong một thời gian dài hơn ở ta nhiều, mà sao trong ngôn ngữ của các nước này vẫn có được những cách xưng hô không bao hàm một mối quan hệ thân tộc nào, và do đó cũnng không bao hàm một sự bất bình đẳng nào? Hay đó là một phản ánh của một xã hội mà tế bào cơ bản là thị tộc? Tôi không đủ thẩm năng đệ phán đoán về vấn đề này. Dù sao cách xưng hô “không có đại từ trung hòa” này không phải không đẻ ra những vấn đề nan giải. Tôi trước đây đã từng làm phiên dịch trong một thời gian khá dài, và trong khi dịch những tác phẩm văn học cỡ lớn vẫn phải dành khá nhiều thì giờ ( có nhiều hơn cả thì giờ dành cho việc chuyển nghĩa) để nghĩ cách dùng đại từ sao cho khỏi rơi vào tình trạng lố bịch, và rốt cục phải thú nhận rằng trong rất nhiều trường hợp mình đã thất bại thảm hại. Quả nhiên khi viết bằng tiếng Việt không có cách gì có được một thái độ khách quan, trung lập đối với các nhân vật, nhất là trong những văn bản đòi hỏi một thái độ như thế. Chẳng hạn trong khi dịch Chiến tranh và Hoà bình, tập thể dịch giả đã phân vân rất nhiều trong khi đi tìm một thái độ hồi chỉ (“ngôi thứ ba”) thích hợp cho nhân vật Napoléon Bonaparte, vốn bị tác giả khinh miệt và chế riễu ra mặt. Tôi còn nhớ là giáo sư Đào Duy Anh cách đây 50 năm khi viết và giảng trên lớp giáo trình lịch sử Việt Nam đã thử dùng đại từ ngôi thứ ba nghỉ cho tất cả các nhân vật lịch sử, dù đó là Trần Hưng Đạo hay Toa Đô. Nhưng tôi và các bạn học hình như không ai thấy ổn, và cuối cùng hình như chính Giáo sư cũng đành từ bỏ cuộc thí nghiệm.

Thành viên tích cực

1

Bitty Ngọc

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

Quách Hiếu

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn