Có một nơi ngay giữa lòng Hà Nội với rất nhiều loại hoa trồng trên diện tích rộng lớn, bạn hãy lên lịch để cuối tuần đến check in thôi. Thảo nguyên hoa đã rộ lên từ 2 năm nay với diện tích rộng 6 ha nằm ngay ở khu Thạch Cầu, Long Biên....
(Xem thêm)
Mũi Dinh - Thảo nguyên thu nhỏ của Việt  Nam , bạn đã đến chưa?
Bạn đã trải nghiệm vùng núi Tây Bắc, vùng đất của những con dốc thăm thẳm, đồng ruộng bậc thang vàng ươm nắng chiều hay cát vàng biển xanh, ngọn hải đăng cao vút ở Vũng Tàu,Nha Trang? vậy thì hôm nay đổi gió tìm đến với vùng đất Mông Cổ hoang sơ...
(Xem thêm)
Lá phong đỏ rợp trời tại nhiều nơi ở Việt  Nam
Dường như những cây phong là biểu tượng ở xứ lạnh. Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể đến những địa điểm sau dọc đất Việt để ngắm lá phong. Rừng lá phong ở Đà Lạt Đà Lạt giờ đây không chỉ nổi tiếng với các loài hoa. Giờ đây, giới trẻ đang...
(Xem thêm)
Hà  Gi ang sắp tổ chức lễ hội  hoa  tam  gi ác mạch. Bạn đã biết chưa?
Lễ hội hoa tam giác mạch được tổ chức vào tháng 10 hàng năm là một trong những lễ hội được nhiều người chờ đợi. Năm nay, lễ hội sẽ được tổ chức muộn hơn vào tháng 11 . Vậy hãy cùng Vatgia.com tìm hiểu về lễ hội hoa tam giác mạch năm nay nhé. ...
(Xem thêm)
Đưa nàng đi thưởng lãm vẻ đẹp mê mẩn của  hoa  cỏ trong dịp 20/10 ?
Với những cô nàng là fan hâm mộ của những loại hoa cỏ thì chẳng khó gì để dắt nàng tới những địa điểm tuyệt đẹp sau để thưởng lãm một ngày 20/10 đầy màu sắc của sự lãng mạn. Hoa tam giác mạch – Hà Giang Hoa tam giác mạch được coi là...
(Xem thêm)
Hồ Tà Pạ chính là sự kết hợp hài hoà đến diễm lệ của nhân tạo
Từ lâu, An Giang đã là lựa chọn lý tưởng của “dân phượt” và điểm đến hấp dẫn cho nhiều du khách. Du khách dễ bị An Giang cuốn hút bởi những địa điểm du lịch mang yếu tố tâm linh, những khung cảnh mênh mông của cánh đồng bạt ngàn cùng...
(Xem thêm)
4 điểm du lịch không thể tuyệt vời hơn nữa
Hãy chọn vatgia.com để mua hàng bạn nhé! Hà Giang Hoa tam giác mạch được xem là một đặc sản làm nên thương hiệu cho Hà Giang. Thời điểm giữa tháng 10 cũng là lúc Hà Giang bắt đầu vào mùa tam giác mạch, lúc này hoa tam giác mạch phủ hồng đất...
(Xem thêm)
Làm thế nào để dìn  gi ữ nét văn hóa trong du lịch?

Gaconlonton

rải hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực chế ngự thiên nhiên, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc với tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, lấy nhân nghĩa làm gốc; trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng nhà – làng – nước; trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc; hòa hợp đề hòa đồng, cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống,… Tất cả tạo thành nhân cách của con người và được nhân dân làm thành nhân cách, cốt cách của dân tộc Việt Nam. Bản sắc văn hóa một phần được thể hiện qua các di sản văn hóa. Đó là những sản phẩm văn hóa (có thể là thiên tạo cũng có thể là nhân tạo, là vật thể hoặc phi vật thể). Dù là thiên tạo nhưng nó phải được con người cảm xúc, rung động, thưởng thức và đặt tên theo cách hiểu của văn hóa Việt Nam. Nhiều nơi trên thế giới có thể cũng có vật thể giống như núi Vọng phu, như hòn Trống mái nhưng nó không có tên gọi như vậy. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nói về điều ấy rất tinh tế và thực tế: Những người vợ nhớ chồng nên có núi Vọng phu, Vợ chồng yêu nhau nên có hòn Trống mái Những học trò nghèo nên có núi Bút non Nghiên. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia... Núi vọng phu Hòn trống mái Vịnh Hạ Long Di sản văn hóa phi vật thể gồm những sản phẩm tinh thần như chữ viết, văn học, nghệ thuật dân gian với nhiều loại hình, lễ tiết, luật tục, các tri thức về khoa học đời sống, khoa học quân sự, về kinh nghiệm trong đời sống... Sau một thời gian văn hóa phi vật thể có thể trở thành văn hóa vật thể như văn khắc trên bia đá, sắc phong của vua, chúa ngày xưa... Nhiều yếu tố khác của văn hóa như phong tục, trang phục, nghệ thuật tạo hình, văn hóa ẩm thực... cũng phản ánh bản sắc văn hóa.
Hoa sen là loài hoa được chọn làm biểu tượng cho dân tộc Việt Nam. Em hãy viết bài văn giới thiệu loài hoa này với bạn bè thế giới
toi muon biet hien nay da co VPDD cua hang Linksys o VN hay chua? neu co cho biet dia chi hoac dai ly de lien lac(xin vui long cung cap day du thong tin)

Nguyễn Chí Đức

Chuẩn, bác kia trả lời đúng rồi. Nhưng dùng linksys đắt, dùng tenda hay hơn bạn ah. Rẻ mà khỏe.
toi muon mo dai ly coc giay.can nhung dieu kien gi ? toi thay coc giay duoc su dung rong o nhung nuoc phat trien .thuc te o viet nam van chua duoc su dung rong .toi muon dua coc giay den tay nguoi tieu dung .toi muon kinh doanh coc giay can phai lam...
(Xem thêm)

trịnh công thịnh

Những điều kiện bạn cần có: - Địa điểm kinh doanh - Xác định rõ thị trường kinh doanh - Tạo lập nên một hệ thống tiếp thị giới thiệu sản phẩm trực tiếp tại những nơi mà bạn cho đó là thị trường tiềm năng. Nếu sản phẩm của bạn thực sự hữu ích với người tiêu dùng thì tôi tin rằng sản phẩm của bạn sẽ được chấp nhận.
dau an van hoa lang xa viet nam trong truyen ngan nam cao

bimbim

Theo mình thì rõ nhất là ở đôi mắt nên phân tích đôi mắt để thấy rõ điểm này Dàn bài: I.Mở bài: - Đôi mắt là tác phẩm thành công nhất của Nam Cao sau cách mạng tháng tám và cũng là một trong những tác phẩm xuất xắc của văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai. - Đôi mắt được Nam Cao viết năm 1948, trước ngày nhà văn hy sinh hơn hai năm. Ban đầu, Nam Cao đặt tên tác phẩm là Tiêng sư thằng Tào Tháo, nhưng sau lựa chọn, thấy đặt một tựa đề ngắn gọn, nêu bật được ý nghĩa vấn đề của tác phẩm, nên đổi lại là Đôi mắt. - Đúng như tựa đề của truyện ngắn, Đôi mắt đặt vấn đề cách nhìn, vế đề quan điểm, lập trường của người cầm bút. Vấn đề ấy ở những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp từng là nỗi bức xúc của cả giới văn nghệ sĩ Việt Nam. Và, ngày nay, dù hoàn cảnh đã có nhiều thay đổi, vấn đề còn mang ý nghĩa hết sức sâu sắc. II.Thân bài: 1.Phân tích vấn đề “đôi mắt” được đặt ra trong tác phẩm: Kể lại vắn tắt cốt truyện Đôi mắt: Câu chuyện xoay quanh cuộc viếng thaă của Độ, một nhà văn kháng chiến, ở nhà Hoàng, một nhà văn thuộc lớp đàn anh, tản cư từ Hà Nội về vùng quê. Độ đến thăm nhằm mục đích vận động Hoàng cộng tác với những người văn nghệ sĩ kháng chiến. Thế nhưng, trong thời gian một ngày đêm ở với Hoàng, Độ thấy anh ta không thể cộng tác được vì cách nhìn đời, nhìn người từ một phía, lệch lạc và nhất là Hoàng không đứng vào hàng ngũ những người đang kháng chiến. Vì thế, Độ đành lảng chuyện, không nói ra ý định của mình nữa. 1.1. “Đôi mắt” là vấn đề gì? - Đôi mắt là cách nhìn, quan điểm của con nguời về cuộc đời, về thế giới, con người. Truyện ngắn Đôi mắt đặt vấn đề cách nhìn, quan điểm của trí thưc văn nghệ sĩ đối với nhân dân, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, ở Đôi mắt, còn là vấn đề lập truờng, tức chỗ đứng của đội ngũ ấy đối với những vấn đề trên. Những năm đầu của cuộc kháng chiến lần thứ hai, vấn đề “đôi mắt” đặt ra khá xúc với văn nghệ sĩ, vì số đông họ là những tri thức cũ, khi cách mạng bùng lên và cuộc kháng chiến nổ ra, đòi hỏi cái nhìn, chỗ phải thay đổi. Thời đó gọi là “nhận đường” và có người xem đây là cuộc “lột xác” về tư tưởng, tình cảm. - Trước cách mạng tháng Tám, vấn đề “đôi mắt” đã được Nam Cao đặt ra trong tác phẩm của mình. Có lần, nhà văn từng phát biểu: Đối với những nguời ở chung quanh ta, nếu ta không cố tình mà tìm hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…, toàn những cớ chi ta tàn nhẫn, không bao giờ thấy họ là những người đáng thương… Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng buông đau ích kỉ chr lấp mất ( truyện ngắn Lão Hạc ). Với cách nhìn như thế, Nam Cao đã phát hiện bản chất tốt đẹp, khát vọng mãnh liệt của người nông dân ngay cả khi họ bị tha hoá, mất cả nhân hình lẫn nhân tính. 1.2.” Đôi mắt” là vấn đề cách nhìn, là quan điểm: - Cũng là cách nhìn, là quan điểm của trí thức văn nghệ sĩ với cuộc đời, với con nguời, nhưng trong hoàn cảnh mới, Nam Cao đặt ra ở bình diện khác. - Trước hết là với những nguời nông dân. Nếu ngày trước, Nam Cao mới chỉ thấy bản chất tốt đẹp, cái phần “lương thiện” bị che lấp, vùi đạp ở họ thì ngày nay, nhà văn còn nhìn thấy những điều mới mẻ khác. Ông cho đó là một “bí mật với chúng ta”. Trước đây, dù yêu thương, nhưng nhà văn, qua nhân vật Độ, thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương… Đàn ông, giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ trước mặt cuũngchỉ dám đứng im thin thít mà đi, đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiến, còn bao nhiêu ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ. Bởi vậy, người trí thức thấy họ đáng thương, nhưng gần gũi nhiều lại thấy càng thấy thất vọng và cho rằng đa số nuớc mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng. Cái thờ Lê Lợi, Quang Trung có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ trở lại. Song đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngã ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm hăng hái lắm. Thời cuộc đã làm cho người ta thay đổi cách nhìn, thay đổi “đôi mắt”. - Trái lại với nhân vật Độ, nhà văn Hoàng, dù hoàn cảnh đã thay đổi, nhưng khi nhìn người nhà quê vẫn hcỉ ngu độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện. Độ ngạc nhiên về sức mạnh của quần chúng nông dân bao nhiêu thì Hoàng càng thấy không chịu được. Vì thế, với thời cuộc, anh ta bi lắm, quan sát kỹ thì rất nản. - Ở đây, có sự khác nhau căn bẳn về cách nhìn. Độ biết vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Những người ấy, bây giờ tham gia kháng chiến, không hề bận tâm đến vợ con nhà cửa như thường lệ nữa. Còn Hoàng, dù gần họ, nhưng anh chỉ mới thấy những mặt đáng chê trách, hoặc không thèm nhìn thấy những tích cực của họ. Nói cách khác, đôi mắt anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó, mà không nhìn thấy cái nguyên cơ thật đẹp đẽ bên trong. Vì thế, vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chủ càng thêm chua chát và chán nẳn. 1.3 “Đôi mắt” là vấn đề lập trường: - “Đôi mắt” tuy là vấn đề quan điểm, cách nhìn, nhưng cốt lõi chính là vấn đề lập trường. Bởi lý do đơn giản là lập trường- chỗ đứng, luôn quyết định cách nhìn. - Hoàng sở dĩ có cái nhìn lệch lạc, phiến diện è người nông dân - lực lượng nòng cốt đang thực hiện sự nghiệp kháng chiến, cứu nước, bởi anh ta không thấy đuợc bản chất yêu nước, cách mạng của họ. Hoàng có thể ghét giặc Pháp, cũng muốn nước nhà đuợc độc lập tự dom nhưng anh không tin tưởng vào quần chúng nhân dân, không xem cuộc kháng chiến mà nhân dân ta đang tiến hành là của mình. Anh ta đã đứng ngoài cuộc chỉ để cười nhạo, dè bỉu, xoi mói. - Không thê nói Độ chỉ nhìn thấy mặt đẹp, anh hùng ở người nông dân. Nhưng quan trọng hơn là Độ đứng về phía họ. Anh thấy công việc của những người mà Hoàng cho là có nhiều cái ngố khônlg chịu đuợc chẳng hề nhặng xị, nhố nhăng như vợ chồng văn sĩ đàn anh đã nhận xét. Trái lại, đó là những công việc có nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong, công việc của chính mình. Lập trường của Độ là lập trường cách mạng, lập trường kháng chiến, hăng hái tham gia cách mạng . Vì thế, anh sẵn sàng làm anh tuyên truyền nhãi nhép, tức là sẵn sàng làm bất cứ việc gì có ích cho khàng chiến. Còn lập truờng của Hoàng là lập trường của những trí thức trưởng giả, quyền lợi gắn bó chặt chẽ với chế độ .Từ đó, Hoàng không nhìn thấy những gì mà số đông đang thấy, không tin những gì mọi nguời đang tin. 1.4. “Đôi mắt” còn là vấn đề tình cảm, nhân cách - Tuy không trực tiếp đặt ra và cũng không là vấn đề chính của tác phẩm, nhưng bản thân hình tượng nhgệ thuật đã nói lên vấn đề đó hét sức thuyêt phục. - Độ là nhà văn truớc đấy, theo lời Hoàng là đã sống ở nhà quê nhiều. Người dân quê truớc Cách mạng nghèo đói, dót nát, nheo nhếch, Độ hiểu sâu sắc và anh thấy rất đáng thương. Cũng vẫn những con nguời ấy, khi làm cách mạng hăng hái lắm. Độ là nhà văn kháng chiến, anh đi theo họ, gặp họ nhiều, điều ấy càng khiến anh ngạc nhiên ( tôi đã ngã ngửa người ). Bởi vậy, ban đầu nói chuyện vơi Hoàng, Độ còn hào hứng. Khi vợ chồng Hoàng thi nhau kể tội người nhà quê, anh tìm cách thanh minh: Tôi cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng… Rồi anh cắt nghĩa cho Hoàng hiểu: lúc này họ cần đẻ ý đến những người lạ mặt tới làng. Tôi chác mấy người nấp nom tôi là mấy nguời có trách nhiệm trong uỷ ban hay mấy anh tự vệ… Nhưng đến khi nỗi khinh bỉ đối với người nhà quê của Hoàng phì cả ra ngoài, theo cái bĩu môi dài thườn thượt, mũi nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối, khiến chị Hoàng cười rú lên thì Độ cũng cười, nhưng có lẽ cái cười không được tươi cho lắm. Đấy là anh cười gượng, cười mà lòng xót xa. Tới lúc thất vọng, đành giữ kín trong lòng điều định nói với Hoàng, trong khi vợ chồng họ vẫn hào hứng dè bỉu ngưòi nông dân, thì Độ muốn lảng chuyện để chấm dứt màn trình diễn sượng sùng đó. Ngay cả khi họ đã dẫn sang chuỵên khác ( bình phẩm Tam quốc diễn nghĩa ), Độ cũng còn hào hứng, đành trả lời cho qua chuyện, có nghĩa là trong thâm tâm anh đã chán ngấy, muốn quên họ đi. Không có một tình thương sâu sắc với người nông dân, với con nguời, nhà văn Độ không thể có cái nhìn sâu sắc và đúng đắn đến thế. - Cái nhìn một phía của Hoàng bắt nguồn từ lập trường, nhưng cũng là cái nhìn của một nhân cách, một lối sống ích kỷ, kém cỏi. Năm xảy ra cái đói khủng khiếp mà sau này con cháu còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình, Hoàng vẫn sống phong lưu, con chó vẫn có mỗi ngày vài lạng thịt bò, trong khi ban bè, đồng nghiệp chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo không biết bán cho ai. Được như thế vì Hoàng là một nhà văn, đồng thời cũng là tay chợ đen tài tình. Đã thế, Hoàng còn là người có cái tật “đá bạn” do tính đố kị với ai nổi hơn mình. Khi kháng chiến bùng nổ, gia đình Hoàng tản cư về một nơi xa Hà Nội hàng trăm cây số, nhưng vẫn sống chẳng kém gì ngày trước: ăn uống no đủ, sinh hoạt truởng giả, không phải làm bất cứ việc gì. Nỗi lo duy nhất của gia đình Hoàng là tiền, hàng đem đi tản cư khéo lo thi ăn được một năm, đến lúc hết tất nhiên là phải khổ. Nghĩa là, sau trước Hoàng chưa hề quan tâm đến ai. Anh có thể có tài, nhưng đấy là tài chửi đổng, Những người cùng khổ, bây giờ hăng hái việc nước, có dịp là Hoàng mỉa mai, khinh bỉ, tuôn ra bao lời độc địa. Cái nhìn thiên kiến từ một cái tâm không trong sáng đã kéo Hoàng ngày một đi xa, tách biệt với tất cả mọi người. 2. Ý nghĩa của vấn đề “đôi mắt” đối với sáng tác văn chương: 2.1. Vào thời điểm Nam Cao viết Đôi Mắt: - Nam Cao viết Đôi mắt vào những năm đầu của cuộc kháng chiến. Khi đó, đại bộ phận văn nghệ Việt Nam đã tham gia kháng chiến. Tuy nhiên, trong số đó vẫn còn rơi rớt những cái nhìn, quan niệm nghệ thuật cũ. Tại đại hội Văn hoá toàn quốc năm 1948, Đảng ta đã đưa ra báo chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam nhằm xác định lập truờng văn hoá mácxít của văn nghệ sĩ. Nhiều nhà văn, nhà thơ khi đó đã có bài viết thể hiện nhận thức mới của mình. Song, không phải tất cả mọi điều đều suôn sẻ và nhất là từ nhận thức đến hành động, từ tư tưởng đến sáng tạo nghệ thuật luôn có một khoảng cách. - Với đôi mắt, Nam Cao thể hiện vấn đề quan điểm, lập trường của văn nghệ sĩ đối với quần chúng nhân dân và cuộc kháng chiến chống Pháp một cách sáng tỏ sinh động và giàu sức thuyểt phục. Vì thế, nhà văn Tô Hoài tưng nhận xét, Đôi mắt là một tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn thời ấy. 2.2. Ý nghĩa vấn đề “đôi mắt” đối với việc sáng tác văn chương ngày nay: - Không riêng gì trong hoàn cảnh chiến tranh, mà bất cứ thờ nào, “đôi mắt” cũng có ý nghĩa sống còn đối với người cầm bút. Văn nghệ sĩ nếu chỉ nhìn một phía tất nhiên thiên lệch và càng nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản. - Một nhà văn nếu không đi cùng nhân dân, hoà chung cuộc sống của dân tộc, thì không thể sáng tạo nên những tác phẩm có ích cho đời dù ấy có tài bao nhiêu châng nữa. - Không chỉ tích luỹ về vốn sống, rèn giũa về quan điểm, lập truờng, văn nghệ sĩ còn là những người có nhân cách, sống giàu tình nhân đạo. Có như vậy, người nghệ sĩ mới thực sự thông cảm với những người cùng khổ, tác phẩm mới trở thành lời ca, tiếng hát, điệu buồn của họ và để chính họ thấy cần thiết, yêu mến người nghệ sĩ. III.Kết luận: 1.Đôi mắt là đỉnh cao mới của sự nghiệp Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám. Một thời gian không dài, chỉ ba năm sau ngày tham gia cách mạng và kháng chiến, nhà văn đã kịp sáng tác nên một tác phẩm xuất xắc, trỏ thành tuyên ngôn nghệ thuật của một lớp nhà văn Việt Nam giàu tài năng thời ấy. 2.Vấn đề Nam Cao đặt ra ở Đôi mắt không chỉ có ý nghĩa thiết thân đối với thực tiễn sáng tác văn chương những năm đầu của cuộc kháng chiền chống Pháp mà ngày nay vẫn còn là vấn đề thời sự đối với tất cả những ai muốn trở thành người nghệ sĩ chân chính của nhân dân, đất nước. --------------------- Cụ thể hơn Nghĩ lại những thành tựu văn học nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám đến những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, không ai không nhớ đến truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Những sáng tác hồi ấy, vừa phục vụ kịp thời, vừa đứng lại được với thời gian như Đôi mắt phải nói rằng chưa có bao nhiêu. Truyện Đôi mắt đã tạo ra một nhân vật khó quên được: văn sĩ Hoàng. Mỗi lần đọc lại tác phẩm, gặp lại nhân vật này, tôi cứ phải bật cười một mình và thầm thốt lên: Chà, cái anh chàng này, y như một người có thật mà mình đã gặp ở đâu rồi vậy! Những nhân vật có phẩm chất nghệ thuật như vậy, thường giống nhau ở đặc điểm này: có những chi tiết có vẻ rất ngẫu nhiên, thậm chí vô nghĩa nữa, vậy mà không thể hình dung ra nhân vật ấy đúng như bản chất của nó, nếu gạt đi những chi tiết ấy. Nghĩa là rất ngẫu nhiên mà lại rất tất yếu. Có vẻ vô nghĩa đấy, nhưng không có không được. Trong Đôi mắt, Độ lần nào đến nhà Hoàng cũng bắt gặp một con chó bécgiê. Ở Hà Nội cũng thế, ở nơi tản cư cũng vậy. Điều ấy có gì là tất yếu đâu! Ấy thế nhưng chúng ta không thể hình dung ra cái anh văn sĩ kiêm chợ đen này đúng như kiểu người và cung cách sống của anh ta nếu không có hình ảnh cái con chó giống Đức to lớn ấy. Cũng như anh ta nhất thiết phải có thân hình to béo, nặng nè, bước đi thong thả, khệnh khạng, bơi hai cánh tay ngắn ngủi kềnh kệnh ra hai bên; nhất thiết phải mặc bộ áo quần ngủ màu xanh nhạt, phủ lên ngoài một cái áo len trắng, quá chật; nhất thiết phải có một cái vành móng ngựa ria cắt xén ngăn ngắn trên mép, nhất thiết phải ngả người ra phía sau và kêu lên những tiếng lâm li trong cổ họng khi nhận ra người bạn cũ; nhất thiết phải cười cùng cục trong cổ như con gà trống…v..v.. Điều thú vị ở đây là những chi tiết kia không chỉ làm cho nhân vật trở thành cụ thể, sinh động, hay nói như các nhà lý luận văn học, không chỉ đóng vai trò cá thể hoá, cá tính hoá nhân vật. Chúng còn thể hiện một cách sâu sắc bản chất xã hội của tính cách, nghĩa là đem đến cho nó giá trị điển hình. Phải nói rằng, bản thân việc nuôi chó bẹcgiê, cũng như cái thú nằm trong màn đọc Tam Quốc chí, cái thú ăn mía ướp hoa bưởi…v…v… bản thân nó chả có “vấn đề” gì hết. Trong những điều kiện sinh hoạt nào đó, đấy còn xem là những cái giải trí lành mạnh và rất văn hoá nữa. Nhưng đặt vào hoàn cảnh cụ thể của nhân vật Hoàng trong truyện Đôi mắt, thì những chi tiết kia quả đã bộc lộ cả một thái độ sống, hơn nữa, một bản chất chính trị của một loại trí thức trưởng giả rất khó mà hoà nhập với cuộc kháng chiến. Vì thế, không khí của cuộc kháng chiến dù có sôi nổi đến thế nào, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân dù có đổi thay dữ dội đến đâu, vẫn không mảy may tác động đến nền nếp sinh hoạt của vợ chồng anh ta. Nghĩa là vẫn cứ phải xoay được một dinh cơ riêng biệt và rộng rãi như thế, vẫn cứ nhởn nhơ sống kiểu sống an nhàn như thế. Ban ngày nếu không vì quá buồn phải tìm đến mấy ông bạn tuần phủ, đốc học về hưu nào đó để đánh tổ tôm, thì chỉ muốn đóng chặt cổng lại để khỏi bị quấy nhiễu bởi mấy ông uỷ ban hay tự vệ trong làng đến tuyên truyền kháng chiến. Còn buổi tối thì một nếp sống “thiêng liêng” không gì phá vỡ được là… chui vào chăn ấm, buông màn tuyn trắng toát, vừa hút thuốc lá thơm vừa đọc Tam Quốc chí trước khi đánh một giấc ngon lành đến sáng. Anh ta đã sống giữa cuộc kháng chiến mà hoàn toàn cách biệt với cuộc kháng chiến. Cho nên Độ bước vào nhà anh ta, dù ở nơi tản cư, mà như bước vào một thế giới xa lạ hẳn với bên ngoài, và bao nhiêu hy vọng vận động anh ta đi làm báo kháng chiến với mình bỗng chốc tan thành mây khói. Người ta nói rằng Đôi mắt là chuyện có thật. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ, Nam Cao công tác cho một tờ báo địa phương, quê ông. Hồi ấy ông có đi lại thăm viếng một nhà văn nào đó ở Hà Nội tản cư ra. Ai đã từng biết lối viết văn của Nam Cao hẳn thấy điều ấy chẳng có gì xa lạ. Xưa nay, viết về tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, hay viết về nông dân, địa chủ, ông vẫn thường dựa nhiều vào người thực việc thực. (Ngòi bút chân thực đến nghiêm khắc ấy không muốn trí tưởng tượng của mình tung hoành quá tự do chăng ?). Nhưng sự thực ấy đã được nhìn từ chỗ đứng nào, từ ánh sáng nào của những tư tưởng gì ? Muốn biết điều này, cần nhớ rằng Đôi mắt được viết vào mùa xuâ năm 1948 tại Việt Bắc, vài tháng sau khi Nam Cao được kết nạp vào Đảng. Đó cũng là lúc quân dân ta vừa liên tiếp ghi được những chiến công vang dội: Chợ Đồn, Chợ Rã, Bông Lau, Sông Lô v.v… bẻ gẫy cuộc tấn công đại quy mô của giặc Pháp lên Việt Bắc thu đông năm 1947. Đôi mắt được viết xen kẽ với một tác phẩm khác cũng rất đặc sắc của Nam Cao: Nhật ký ở rừng. Đọc tác phẩm này, thấy tâm trạng nhà văn lúc bấy giờ đang náo nức một niềm tin tưởng và tự hào ở cuộc kháng chiến mà ông đã thực sự góp phần vào, đồng thời dào dạt những tình cảm đầy cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn cao cả của đồng bào Việt Bắc mà ông lần đầu được tiếp xúc. Ông ghi vào nhật ký ngày 3-11-1947: “Gần gũi những người Dao đói rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tuỵ, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với mấy thằng “bố vấu” mà Khang gọi là trí thức nửa mùa, Khang rất bất bình đối với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một cái gì, chẳng làm một cái gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng.” (Ở rừng – Nam Cao, tác phẩm, tập II, 1977) Hoàng là một trong những thằng “bố vấu”, có “tài chửi đổng” ấy chăng? Anh ta chẳng làm cái gì hết, trong khi mọi người nỗ lực tham gia kháng chiến. Ích kỷ đại hạng, nhưng động mở miệng là chửi thiên hạ ngu dốt, bần tiệtn – Mà sao những người như thế lại chúa là hay nhân danh đạo đức, nhân nghĩa ? Này đây, hãy nghe người vợ Hoàng phụ hoạ với những nhận xét của chồng về sự mà chị ta gọi là “thiếu tình nghĩa của người dân quê”: “Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi chín người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi, đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp ? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn đựơc độ một năm. Đến lúc hết tất nhiên phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục. Họ tàn nhẫn lắm cơ bác ạ!” Tôi chắc, khi ôn lại trong tâm trí mình câu nói ấy, Nam Cao đến lộn ruột lên được. Nhưng giọng kể chuyện cứ thản nhiên như không. Ấy, bản lĩnh của ngòi bút Nam Cao là thế: anh nén chặt tình cảm của mình lại để người đọc tự tìm ra ý nghĩa mà càng thêm phẫn nộ - phẫn nộ mà cứ phải bật cười - trước một thái độ hết sức ích kỷ mà cứ nhơn nhơn và ngọt xớt như không. Nhà văn Tô Hoài còn gọi Đôi mắt là một thứ tuyên ngôn nghệ thuật chung của lớp nghệ sĩ các anh hồi ấy. Cứ như cái tên của nó thì tác phẩm muốn nói vấn đề cách nhìn, vấn đề quan điểm. Điều ấy đã rõ. Nhưng nói cho chặt chẽ hơn, căn cứ vào nội dung hình tượng, thì nó trước hết là mâu thuẫn về lập trường. Một đằng coi cuộc kháng chiến là của mình và tích cực tham gia kháng chiến. Một đằng tự xem như người ngoài cuộc, từ chối không làm gì hết, dù chỉ là công tác Bình dân học vụ trong làng. Một đằng vui sướng trước cuộc đổi đời của nhân dân, và nhìn cuộc sống mới, tư thế mới và cách mạng đem đến cho nhân dân lao động là tốt đẹp. Một đằng chỉ thấy thế là lố bịch, là hài hước. Nói cho đúng, những nhận xét của Hoàng về người nông dân không phải điều sai cả. Nhưng rõ ràng là thiếu độ lượng, thiếu thiện chí – cái nhìn của một người tuy không phải hoàn toàn không có lòng yêu nước, nhưng tỏ ra chưa tán thành cách mạng và kháng chiến. Lập trường ấy quyết định cách nhìn của anh mà Nam Cao gọi là chỉ thấy có một phía “Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn”, nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó, mà không nhìn thấy cái nguyên cớ đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.” Vậy nếu gọi Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật, thì trước hết đó là bản tuyên ngôn về lập trường cách mạng, lập trường kháng chiến của lớp văn nghệ sĩ tiểu tư sản quyết tâm từ bỏ những quyền lợi ích kỷ của mình, từ bỏ những thói quen sinh hoạt và nếp tư duy cũ, từ bỏ cả cái nghệ thuật cho là “cao siêu” của mình ngày trước, sẵn sàng nói như nhà văn Độ, làm một “anh tuyên truyền nhãi nhép” nhưng có ích cho nhân dân, cho kháng chiến. Đôi mắt xét ở phương diện khác, còn đặt vấn đề quan niệm về cái đẹp, về đối tượng của nghệ thuật mới nữa. Phải tìm cái đẹp ở đâu? Theo quan điểm nào? Phải thể hiện nó ra sao? Nam Cao có thể chưa ý thức đựơc đầy đủ lắm, nhưng tác phẩm tự nó đã gợi ra và bước đầu giải đáp những câu hỏi đó. Tôi vẫn nghĩ rằng, không phải đến Đôi mắt, Nam Cao mới đặt vấn đề “đôi mắt”. Đúng là đến tác phẩm này, nhờ đã giác ngộ cách mạng, ông mới đặt được vấn đề ấy một cách hoàn toàn tự giác. Nhưng qua một số truyện ông viết từ trước Cách mạng tháng Tám, đã thấy ông luôn luôn băn khoăn day dứt về vấn đề ấy: phải biết nhìn người nông dân lao động bằng đôi mắt như thế nào mới thấy được bản chất tốt đẹp cho họ, thường ẩn giấu sau một vẻ ngoài hết sức tầm thường, thậm chí vụng về, thô lỗ nữa. Theo Nam Cao hồi ấy, đôi mắt đó phải là đôi mắt của tình thương. Trong Lão Hạc ông đã viết như thế. Ông còn lấy câu nói này để đề từ cho một truyện ngắn khác của mình: “Người chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ.” (Nước mắt – Nam Cao, tác phẩm, tập II) Đúng như thế, ở Nam Cao, nước mắt của tình thương là miếng kính biến hình vũ trụ. Chính nhờ có đôi mắt yêu thương ấy mà nhà văn chẳng những đã nhìn thấy tấm lòng vị tha, xả kỷ của lão Hạc…. mà còn phát hiện ra được cả chất thơ trong trẻo trong tâm hồn tưởng chừng đã hoàn toàn đen độc của Chí Phèo nữa. Nhưng hồi ấy, tình thương của Nam Cao chỉ mới là thứ tình thương uỷ mị, tiêu cực. Qua “miếng kính” ấy, anh tuy thấy được một số đức tính của người dân nghèo, nhưng dưới ngòi bút của anh, học chỉ là những con người bé nhỏ, bất lực. Và giọng văn của anh thì như anh thường thốt lên – “Chao ôi là buồn!”. Trong Nhật ký ở rừng, Nam Cao đã tự phê phán như thế. Ở Đôi mắt, anh cũng viết như vậy: “Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương (…) Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngã ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm…” Như vậy, nhờ thực sự tham gia cách mạng, sát cánh với nhân dân, Nam Cao đã có được đôi mắt mới để thấy quần chúng không chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh mà còn là những con người cải tạo hoàn cảnh, tức là những anh hùng. Những con người mới ấy sẽ đi vào văn học như là những nhân vật trung tâm. Đôi mắt chưa xây dựng được nhân vật ấy, nhưng đã chỉ ra phương hướng đi tìm nhân vật ấy và chừng mực nào, đã nói lên cách thể hiện nhân vật ấy: đó không phải là những con người phi thường trong trí tưởng tượng lãng mạn, mà là những con người có thật rất đỗi nhũn nhặn ở quanh ta. Những con người áo vải, răng đen, đi chân đất, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, nhưng đã đứng dậy làm cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại và sau đó gánh cả cuộc kháng chiến lên đôi vai vững chải của mình. Phải, Đôi mắt chưa tạo ra được nhân vật ấy, nhưng đã dự báo sự xuất hiện phổ biến của nhân vật ấy trong nền văn học chúng ta.

Sản phẩm liên quan

Thành viên tích cực

1

Bitty Ngọc

2 lượt cảm ơn
2

Hoàn Xuân Thang

1 lượt cảm ơn
3

Thủy Ngô

1 lượt cảm ơn
4

Quách Hiếu

1 lượt cảm ơn
5

hoang thanh binh

1 lượt cảm ơn