Gíup em phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyến Khuyến??

 |  Xem: 53.482  |  Trả lời: 2
Ngày gửi: 03/10/2008 - 22:59  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (2)

Dưới đây là bài phân tích của mình bạn tham khảo và làm bài nhé. Chúc thành công!
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Xuất xứ, chủ đề

“Thu Điếu” nằm trong chùm thơ thu ba bài “nức danh nhất” về thơ nôm của Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà nho nặng tình với quê hương đất nước. “Thu điếu” cũng như “Thu ẩm”, “Thu vịnh” chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884).

Phân tích

1. Đề

Mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu “nước trong veo” có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu “lạnh lẽo” như bao trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới “lạnh lẽo” như vậy. Trên mặt ao thu đã có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” tự bao giờ. “Một chiếc” gợi tả sự cô đơn của thuyền câu. “Bé tẻo teo” nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự tun hút của cảnh vật (trong veo – bé tẻo teo) – Đó là một nét thu đẹp và êm đềm.

2. Thực

Tả không gian 2 chiều. Màu sắc hòa hợp. có “sóng biếc” với “lá vàng”. Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng “sẽ đưa vèo”, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn “hơi gợn tí”. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng “hơi gợn tí” phối cảnh với độ bay xoay xoay “sẽ đưa vèo” của chiếc lá thu. Chữ “vèo” là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: “Vèo trông lá rụng đầy sân” (cảm thu, tiễn thu).

3. Luận

Bức tranh thu được mở rộng dần ra. Bầu trời thu “xanh ngắt” thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. “Vắng teo” nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. “Ngõ trúc” trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác:

“Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?”

(Nhớ núi Đọi)

“Ngõ trúc” và “tầng mây” cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc của làng quê. Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật.

4. Kết

“Thu điếu” nghĩa là mùa thu, câu cá. 6 câu đầu mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc… mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế nhàn: “tựa gối ôm cần”. Một sự đợi chờ: “lâu chẳng được”. Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe “Cá đậu đớp động dưới chân bèo”. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá “đớp động” sau tiếng lá thu “đưa vèo”, đó là tiếng thu của làng quê xưa. Âm thanh ấy hòa quyện với “Một tiếng trên không ngỗng nước nào”, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng.

Kết luận

Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái điệu xanh trong Thu điếu. Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo… và chỉ có một màu vàng của chiếc lá thu “đưa vèo”. Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn. Một tâm thế nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc thu tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết. Vần thơ: “veo - teo - vèo - teo – bèo”, phép đối tạo nên sự hài hoà cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng là xuất khẩu thành chương. Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.
Ngày gửi: 14/10/2008 - 14:49
- Hai câu đề : Cảnh khái quát ở ao thu.
Đây là cảnh mùa thu ở nông thôn miền Bắc- đặc biệt là vùng đồng chiêm trũng - quê hương của tác giả. Các từ “ lạnh lẽo, trong veo, tẻo teo” với những âm “eo” được láy đi láy lại tạo một âm vang gợi tả không khí lạnh lẽo, vắng vẻ đồng thời gợi cho người đọc một cảm giác êm ả nhẹ nhàng trước cảnh ao thu.
- Hai câu thực : Cảnh chung quanh ao.
Tác giả chọn hai hình ảnh tiêu biểu cho cảnh sắc mùa thu. Đó là làn “sóng biếc” lăn tăn trên mặt ao, và chiếc lá vàng “ khẽ đưa vèo”. Màu sóng biếc và màu vàng của lá điểm xuyết cho cảnh vật mùa thu thêm tươi sáng và sinh động hơn ( sóng biếc/ lá vàng - hơi gợn tí/ khẽ đưa vèo ).
- Hai câu luận : Cảnh thiên nhiên được mở rông.
Bầu trời mùa thu “ xanh ngắt” với “ tầng mây lơ lửng” tạo cảm giác êm đềm. Xa xa “ngõ trúc” mùa thu cũng thật vắng vẻ không có bóng người. Phép đối được nhà thơ vận dụng rất sắc sảo càng tăng thêm cái cảm giác vắng lạnh quạnh quẽ khác thường ( tầng mây lơ lửng/ ngõ trúc quanh co - trời xanh ngắt/ khách vắng teo ).
- Hai câu kết : Tâm trạng của người ngồi câu cá.
Với dáng điệu ngồi câu cá “ tựa gối ôm cần” và một nét vẽ thoáng qua “ cá đớp động dưới chân bèo” để kết thúc bài thơ, hai câu kết gần như muốn nói lên một nỗi khoắc khoải ưu tư của người trong cảnh - tức nhà thơ.
Ngày gửi: 03/12/2008 - 12:28
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Compa T&B 8614
Liên hệ gian hàng...
Cặp File KING JIM G File
Liên hệ gian hàng...

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn