Sốt xuất huyết, nguyên nhân, cách phòng tránh và chữa trị??

Dạo này đanh có dịch, các bác cho biết nguyên nhân, cách phòng tránh và chữa trị đối với sốt xuất huyết với
 |  Xem: 23.609  |  Trả lời: 3
Ngày gửi: 28/11/2008 - 08:31  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (3)

Sốt xuất huyết Sốt Dengue (IPA: ['deŋgeɪ], tiếng Việt thường đọc là Đăng-gơ) (dengue fever, DF), Sốt xuất huyết Dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF) và biểu hiện nặng nề nhất của bệnh là Hội chứng sốc Dengue (Dengue Shock Syndrome, DSS) đều được gây nên bởi một trong bốn loại huyết thanh virus gần gũi nhưng lại khác nhau về mặt kháng nguyên là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Virus này thuộc chi Flavivirus. Nhiễm một loại virus có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời nhưng chỉ chống lại chính loại huyết thanh virus đó mà thôi. Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch Dengue có thể mắc bệnh nhiều hơn một lần trong đời. Sốt Dengue và Sốt xuất huyết Dengue chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiễm virus Dengue gây nên triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng cá thể. Bệnh có thể chỉ biểu hiện như một hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong (1). Trong bài này, thuật ngữ Dengue được sử dụng để chỉ chung cho ba thể bệnh nêu trên. Khi nói đến từng thể riêng biệt thì tên chính xác của thể bệnh đó sẽ được sử dụng.

Có thể nói Dengue là một bệnh do virus lây truyền do muỗi thường gặp nhất ở người. Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế. Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh. Sự lan tràn về mặt địa lý của cả vector truyền bệnh là muỗi và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều loại huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới (2).
Nhiễm virus Dengue thường không có biểu hiện rõ ràng. Sốt Dengue cổ điển (thể nhẹ) chủ yếu xuất hiện ở người lần đầu mắc bệnh, chưa có miễn dịch. Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue (thể nặng) thường xảy ra trong lần nhiễm trùng sau, khi bệnh nhân đã có sẵn miễn dịch chủ động (do đã bị bệnh) hoặc thụ động (do mẹ truyền sang) đối với một loại huyết thanh khác. Bệnh thường biểu hiện nặng đột ngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt). Các phức hợp kháng nguyên-kháng thể lưu hành trong máu, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể và giải phóng các chất hoạt mạch có thể gây nên tăng tính thấm mao mạch đối với huyết tương, xuất huyết và có thể là đông máu nội mạch lan tỏa. Trong quá trình đào thải miễn dịch của các tế bào nhiễm virus, các protease và lymphokine được phóng thích gây hoạt hóa hệ thống bổ thể cũng như các yếu tố tăng tính thấm thành mạch (7).

Miễn dịch tăng cường bệnh: Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng "thể nặng của bệnh là Sốt xuất huyết Dengue/Hội chứng sốc Dengue xảy ra khi một người đã nhiễm bệnh trong quá khứ bởi một loại huyết thanh virus nay lại nhiễm một loại huyết thanh virus khác". Giả thuyết này được củng cố bởi các ghi nhận lâm sàng rằng Sốt xuất huyết Dengue gặp chủ yếu ở những người đã ít nhất một lần mắc bệnh trước đó và Sốt xuất huyết Dengue xảy ra thường xuyên hơn ở các cư dân trong vùng dịch lưu hành hơn là các du khách mắc bệnh tại nơi này trong cùng thời điểm. Nếu giả thuyết này là đúng hoàn toàn thì việc lưu chuyển các loại huyết thanh virus khác nhau từ vùng này đến vùng khác trên thế giới sẽ ngày càng gây nên tình trạng bệnh nặng nề hơn trong tương lai (5).

Như vậy yếu tố nguy cơ gây bệnh nặng trong Sốt xuất huyết Dengue là người sẵn có kháng thể kháng lại một loại huyết thanh đã gây bệnh trước đó, chủng virus gây bệnh, trẻ nhỏ hơn 12 tuổi, phụ nữ và người Caucasian (1) (4).

Triệu chứng và chẩn đoán

Triệu chứng

* Thời kỳ ủ bệnh: 3 - 6 ngày, một số trường hợp có thể kéo dài đến 15 ngày.

* Sốt Dengue

Triệu chứng thường xuất hiện đột ngột với sốt cao, người mệt mỏi rũ rượi, nhức đầu, đau sau hốc mắt, đau cơ (đau thắt lưng và đôi khi đau chân), thường kèm theo đau họng, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng thượng vị và tiêu chảy.

Ở trẻ em, đau họng và đau bụng thường là những triệu chứng nổi trội. Hạ sốt xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 thường kèm biểu hiện xuất huyết nhẹ nhàng (chấm xuất huyết dưới da, nốt xuất huyết và chảy máu mũi). Sau khi hạ sốt thường xuất hiện ban dạng dát sẩn đa hình thái, đôi khi gây ngứa, đầu tiên ở thân mình và lan rộng theo hướng ly tâm đến các chi, mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một số trường hợp có thể bệnh có thể tiến triển đến xuất huyết tiêu hóa và sốc. Như vậy biểu hiện xuất huyết không chỉ Sốt xuất huyết Dengue mới có (6).

* Sốt xuất huyết Dengue

Giai đoạn sớm của bệnh không thể phân biệt được với sốt Dengue. Tuy nhiên thường sau từ 2 đến 5 ngày, tức là vào giai đoạn hạ sốt, một số trường hợp nhiễm trùng tiên phát và đa số các nhiễm trùng thứ phát sau khi đã nhiễm một loại huyết thanh khác có biểu hiện hạ tiểu cầu (< 100.000/mm³) và cô đặc máu. Thường thì giảm tiểu cầu xảy ra trước cô đặc máu. Biểu hiện xuất huyết có thể xảy ra hoặc không. Các biểu hiện xuất huyết thường gặp trong Sốt xuất huyết Dengue gồm xuất huyết dưới da tự phát hoặc sau tiêm chích, chảy máu chân răng, chảy máu mũi và xuất huyết tiêu hóa. Lách thường không không lớn. Nếu gan lớn và đau thì đây là những dấu hiệu xấu. Các biểu hiện khác có thể gồm tràn dịch màng phổi, giảm protein máu, bệnh lý não với dịch não tủy bình thường (6).

Tính thấm mao mạch gia tăng, với hậu quả thoát huyết tương ra ngoài khoang dịch kẽ với lượng lớn, là nguyên nhân của tình trạng cô đặc máu. Khi bệnh nhân có đồng thời hai dấu hiệu giảm tiểu cầu và cô đặc máu thì được chẩn đoán là Sốt xuất huyết Dengue và được phân loại theo WHO (6):

Độ I: giảm tiểu cầu kèm cô đặc máu nhưng không có chảy máu tự phát.

Độ II: giảm tiểu cầu và cô đặc máu kèm theo chảy máu tự phát.

Độ III: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, huyết động không ổn định: mạch lăn tăn, huyết áp kẹp (hiệu số huyết áp tâm thu - huyết áp tâm trương < 20 mm Hg), tay chân lạnh, tinh thần lú lẫn.

Độ IV: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, sốc biểu hiện rõ: bệnh nhân không có mạch ngoại biên, huyết áp = 0 mm Hg.

Nếu được điều trị thoát sốc thì bệnh nhân lành bệnh nhanh chóng và rất hiếm có di chứng (6).

Chẩn đoán

Chẩn đoán nguyên nhân là cực kỳ quan trọng và cần thiết nếu xét trên phương diện sức khỏe cộng đồng nhưng lại tỏ ra không cần thiết cho việc thiết lập một chế độ điều trị hỗ trợ sớm cho bệnh nhân. Chẩn đoán Dengue thường dựa vào các yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng như trình bày ở trên cũng như dựa vào các xét nghiệm đơn giản: số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu và hematocrit.

Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi: Dengue xuất huyết thường có giảm bạch cầu. Trường hợp tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính thường là cơ sở để loại trừ Dengue xuất huyết.

Giảm tiểu cầu (< 100.000/mm³): Cần làm số lượng tiểu cầu ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ Sốt xuất huyết Dengue. Tiểu cầu càng giảm, nguy cơ xuất huyết càng cao.

Hematocrit: Khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với trị số bình thường trước đó thì bệnh nhân được coi là có cô đặc máu, một tiêu chuẩn chẩn đoán Sốt xuất huyết Dengue. Nếu không biết được giá trị hematocrit bình thường của bệnh nhân thì có thể xem giá trị > 45% là mốc chẩn đoán (6).

Một số xét nghiệm khác nhằm đánh giá mức độ bệnh: điện giải đồ, khí máu, chức năng đông máu, men gan, X quang phổi nhằm phát hiện biến chứng tràn dịch màng phổi (4).

Chẩn đoán nguyên nhân: có thể thể hiện mầm bệnh trong máu và huyết thanh bằng phương pháp phân lập virus, xác định kháng nguyên virus bằng các phương pháp miễn dịch hoặc phát hiện bộ gene của virus bằng kỹ thuật khuyếch đại chuỗi ADN (PCR).

Chẩn đoán huyết thanh học thông qua phương pháp xác định IgM bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn kết enzyme (MAC - ELISA) ở hai mẫu máu bệnh nhân lấy cách nhau 14 ngày. Mẫu máu thứ nhất lấy trước ngày thứ 7 của bệnh cũng có thể có ích trong việc phân lập virus bằng cách cấy vào tế bào của muỗi A. albopictus. Sau đó, việc định danh vi khuẩn có thể thực hiện nhờ xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang sử dụng kháng thể đơn dòng.

Ở bệnh nhân tử vong, chẩn đoán có thể thực hiện bằng phương pháp phân lập virus hoặc xác định kháng nguyên virus (phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp) từ hai mẫu bệnh phẩm (gan, lách, hạch bạch huyết, tuyến ức).

Điều trị

Nguyên tắc chung

Vì Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh do virus nên hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Điều trị chủ yếu là triệu chứng và điều trị biến chứng bệnh (4). Các biện pháp điều trị chung gồm:

* Thuốc hạ sốt. Chú ý không dùng các thuốc salycilate vì cơ địa dễ chảy máu của bệnh nhân cũng như nguy cơ xuất hiện hội chứng Reye.
* Bồi phụ nước bằng đường uống hoặc bằng đường tĩnh mạch trong trường hợp cần thiết nhằm đề phòng và điều chỉnh mất nước. Tuy nhiên cần cẩn trọng tránh bồi phụ dịch quá mức cần thiết khi sốc đã ổn định để phòng biến chứng phù phổi cấp.
* Nếu có xuất huyết nặng và rối loạn đông máu trầm trọng, cần phải truyền máu tươi hoặc khối tiểu cầu.
* Ôxy liệu pháp trong trường hợp giảm ôxy máu, sốc.
* Theo dõi bệnh nhân chặt chẽ nhất là trong giai đoạn bắt đầu hạ sốt.

[sửa] Phân cấp điều trị bệnh nhân

Sau đây là những gợi ý về phân cấp bệnh nhân theo tuyến điều trị trong trường hợp có dịch với lượng bênh nhân tăng cao trong cùng thời điểm. Xin lưu ý đây chỉ là những gợi ý và tuyệt đối không phải là phác đồ điều trị nên không thể áp dụng cho mọi trường hợp (6).

Tiêu chuẩn điều trị tại nhà:

* Tất cả những bệnh nhân Sốt Dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh mạch.
* Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống.
* Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảy máu quan trọng.

Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn (12 - 24 giờ):

* Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch.
* Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống.
* Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn.
* Tất cả bệnh nhân độ III.

Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài (> 24 giờ):

* Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứng điều trị bù dịch.
* Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thành bệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính...).
* Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng.
* Tất cả bệnh nhân Độ IV.

Dự phòng

Vaccine

Lý tưởng nhất là có một vaccine có thể chống lại cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh. Đáng tiếc là một loại huyết thanh như vậy hiện nay vẫn chưa có sẵn. Tuy nhiên đã có một nghiên cứu tại Đại học Mahidol (Thái Lan) với sự cộng tác của WHO, một vaccine chống cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh đã, đang được phát triển và hoàn thiện. Vaccine này tỏ ra an toàn và hiện đang được đưa vào dùng thử nghiệm trên lâm sàng (5). Hiện nay vaccin chống SXH cả 4 typ siêu vi Dengue đang ở pha 2 thử nghiệm lâm sàng.

Kiểm soát vector truyền bệnh

Hiện tại, kiểm soát vector truyền bệnh được xem là phương pháp phòng bệnh duy nhất có hiệu quả (3). Kiểm soát các vector Aedes có thể làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh Dengue. Trong những năm 1950 đến 1960 Tổ chức Y tế Toàn châu Mỹ (Pan American Health Organization) đã thành công trong việc diệt sạch Aedes aegypti ở nhiều vùng thuộc Trung và Nam Mỹ và trong thời gian này, các vụ dịch Dengue rất hiếm ở châu Mỹ. Tuy nhiên sau khi chương trình ngừng lại thì Aedes aegypti và sau đó là Dengue tái xuất hiện.

Phương pháp chính để kiểm soát số luợng muỗi Aedes là giảm thiểu các khu vực có nước đọng, là nơi đẻ trứng của muỗi. Đậy kín các dụng cụ chứa nước, giảm tối đa các vật dụng có thể chứa nước mưa (lốp xe cũ, chén bát cũ...), hay nước sạch như bình bông, bàn cầu trong các phòng trống không có người ở, hầm nước ở các chung cư . Có thể dùng các loại sinh vật trong nước tiêu diệt trứng của muỗi. Trong vụ dịch đôi khi phải cần đến phun thuốc diệt muỗi trên diện rộng.

Cũng giống như tất cả các bệnh lây truyền do arbovirus khác, các phương pháp bảo hộ cá nhân như mặc tất, vớ dài, dùng thuốc xua muỗi, tránh nhưng nơi có mật độ vector truyền bệnh cao. Một điểm đặc biệt là muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày nên việc phòng tránh có khác so với các loại muỗi chỉ hoạt động ban đêm như Anophele và Culex.
Ngày gửi: 28/11/2008 - 08:37

Các chuyên gia y tế khuyến cáo, mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho muỗi (trung gian lây bệnh sốt xuất huyết) phát triển và gây dịch.Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, lăng quăng và phòng chống muỗi đốt. 

Miền Nam: “ổ” dịch sốt xuất huyết

Theo số liệu của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế: tính từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận 39.897 trường hợp mắc sốt xuất huyết tại 52 tỉnh thành, trong đó có 26 ca tử vong, tập trung vào đối tượng trẻ dưới 15 tuổi. Bệnh nhân mắc sốt xuất huyết đã tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, dịch chưa tấn công ra miền Bắc nhưng những ổ dịch lớn ở miền Nam thì đang phát triển mạnh đến đáng báo động. 10 tỉnh là "ổ" sốt xuất huyết gồm Bình Phước, Bình Dương, Sóc Trăng, Long An, An Giang, Khánh Hòa, Kiên Giang, Đồng Nai, Tiền Giang và Đồng Tháp.

Số bệnh nhân các tỉnh này tăng 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái, cá biệt có tỉnh tăng gần 4 lần so với năm 2011.

Đến hẹn lại lên, sốt xuất huyết thường tăng nhanh từ tháng 5 và kéo dài đến khoảng tháng 11. Theo “quy luật”, đỉnh dịch ở miền Nam thường rơi vào từ tháng 7-9, miền Bắc khoảng tháng 9-10. Mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển và gây dịch.

Nguyên nhân khiến số người mắc bệnh sốt xuất huyết tăng mạnh là do bệnh chưa có vắc-xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp khiến cho mật độ muỗi phát sinh nhiều làm bệnh lây lan nhanh hơn.

Để dịch không lây lan và giúp người bệnh điều trị khỏi bệnh, một trong những yếu tố quyết định là phát hiện sớm. Vì thế, các địa phương trong cả nước cần tăng cường biện pháp phòng chống dịch, phát hiện sớm ổ dịch để kịp thời xử lý, không để dịch lan rộng.



Mùa mưa là mùa bệnh phát triển mạnh

Bác sĩ Nguyễn Viết Lâm, trưởng khoa Virus - ký sinh trùng, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cho biết: Thời điểm hiện tại, dịch đang phát triển mạnh ở phía Nam và lan rộng khu vực miền Trung. Miền bắc chưa phát hiện ổ dịch nào nhưng cũng có một số trường hợp lẻ.

Dịch bùng phát vào đầu và cuối mùa mưa, lây truyền từ người sang người qua đường máu. Sau khi hút máu một người nhiễm virus Dengue, muỗi cái có thể truyền sang người khác virus Dengue sau khi đã ủ bệnh 3-10 ngày, hoặc có thể truyền bệnh ngay nếu đang hút máu dở dang ở một người này rồi chuyển sang đốt người khác.

Khi mắc bệnh sốt xuất huyết do virus, người bệnh có nhiều triệu chứng lâm sàng rõ nét. Biểu hiện chung là sốt cao (39- 40 độ C) kéo dài 7-10 ngày kèm theo chảy máu đường hô hấp, nhức đầu, mỏi cơ khớp, đau bụng, nôn, có những nốt đỏ nhỏ phát ban, sưng hạch, chảy máu cam…

Xuất huyết là biểu hiện đặc trưng nhất của bệnh, có thể là xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc hoặc xuất huyết phủ tạng. Trường hợp nặng dẫn đến nguy kịch với những triệu chứng xuất huyết phủ tạng, sốc, hôn mê…

Phòng tránh sốt xuất huyết hiệu quả

Để phòng tránh bệnh sốt xuất huyết hiệu quả biện pháp chủ yếu là kiểm soát côn trùng trung gian truyền bệnh. Người dân cần thực hiện theo nguyên tắc, không lăng quăng, bọ gậy, không muỗi, sẽ không có sốt xuất huyết. Dọn vệ sinh sạch sẽ quanh nhà, không để nước tù đọng trong các bể chứa, lu, chai lọ.

Tránh muỗi đốt, từng cá nhân, hộ gia đình cần ngủ màn (kể cả ban ngày), mặc quần áo dài tay, không cho trẻ em chơi chỗ tối, dọn dẹp những chỗ muỗi thích đậu, nghỉ như dây treo, quần áo, chỗ tối, đuổi muỗi (đốt nhang muỗi, xịt muỗi), dùng kem thoa chống muỗi.

Khi cắm trại, sinh hoạt ngoài trời hoặc vào mùa dịch cần mang theo các chai xịt chống, xua đuổi muỗi, nhất là đối với trẻ em, người có tiền sử dị ứng nặng.

Không nên tự ý mua hoặc thuê người phun hóa chất diệt muỗi. Phun hóa chất nào, nồng độ bao nhiêu để có tác dụng diệt muỗi nhưng không làm tăng khả năng kháng thuốc của muỗi phải do cơ quan y tế dự phòng địa phương quyết định.

Trên thực tế, có những loại hóa chất có tác dụng diệt muỗi ở khu vực này nhưng lại không hiệu quả ở khu vực khác.

Khi phát hiện người nhà bị ốm với các triệu chứng trên, biểu hiện rõ nhất là sốt cao và xuất huyết, gia đình hãy đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để được theo dõi và điều trị kịp thời. Mặt khác cần có biện pháp cách li người bệnh hợp lý, tránh để lây lan thành ổ dịch.

Ngày gửi: 26/10/2012 - 11:09

 Sốt xuất huyết là bệnh nhiễm trùng cấp do siêu vi Dengue, muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà. Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức.

Các mức độ của bệnh sốt huyết

Bệnh sốt xuất huyết chia làm 4 mức độ:
- Độ 1: Sốt cao, rất mệt , toát mồ hôi , nhức đầu ,chán ăn , buồn nôn
- Độ 2: Thêm biểu hiện xuất huyết : nốt, đám, mảng, chảy máu chân răng, mũi
- Độ 3: vật vã, li bì , xuất huyết nặng hơn : xuất huyết tiêu hóa , xuất huyết âm đạo bất thường, đe dọa sốc: suy tuần hoàn mạch nhanh, nhỏ, huyết áp kẹt (khoảng các giữa huyết áp tối đa và tối thiểu dưới hay bằng 20 mmHg), hoặc tụt huyết áp, da lạnh, ẩm;
- Độ 4: Suy đa tạng (tim, thận, gan…), xuất huyết nội tạng, sốc nặng, mạch huyết áp không đo được. 

Bệnh sốt xuất huyết nếu biết cách ngăn ngừa rối loạn đông máu sẽ không chuyển sang độ 3-4 và sẽ hồi phục, tránh được tình trạng nặng dẫn đến tử vong 
đáng tiếc. 

Rối loạn đông máu là gi và tại sao lại xảy ra hiện tượng này?

Rối là đông máu (thường gặp là Hội chứng đông máu rải rắc trong lòng mạch) là một hội chứng vừa làm xuất hiện trong lòng mạch những cục máu đông li ti, cực nhỏ làm tắc vi mạch gây  suy các phủ tạng , vừa làm giảm các yếu tố đông máu và tiểu cầu dẫn đến chảy máu không cầm được gây sốc nặng và tử vong.

Hiện tượng này xảy ra theo cơ chế sau:
  

 Sốt cao (thường kéo dài 2-3 ngày)

Cơ thể bị mất nước, thoát huyết tương

Cô máu

Máu chảy chậm, nhất là ở vi mạch 

Tiểu cầu kết tụ  (theo phản xạ sinh lý )  

Vỡ  tiểu cầu  (còn  do tiểu cầu thực bào  siêu vi trùng )

Giải phóng yếu tố kích hoạt đông máu tiểu cầu  (yếu tố tiểu cầu 3) làm tăng đông máu

Tạo cục máu li ti trong lòng mạch (chỉ có hại) gây suy chức năng các phủ tạng (tim, gan, thận… )

Tiêu thụ các yếu tố đông máu

Mất dần yếu tố đông máu  làm giảm đông

Giảm tiểu cầu + giảm yếu tố đông máu

Đồng thời làm giảm serotonin (yếu tố làm bền thành mạch) nên thành  mạch yếu

Gây xuất huyết 
 chảy máu nặng  +  tắc vi mạch 


Sốc 

Tử vong


Căn cứ vào cơ chế trên nên phải theo dõi sát từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 để phát hiện diễn biến nặng. Các xét nghiệm khi có biểu hiện nốt  xuất huyết  bắt buộc:
- Công thức máu 
- Tiểu cầu Hematocrit
- Khi có đe dọa sốc: Làm đông máu toàn bộ

Cách điều trị

- Khi bị sốt xuyết huyết phải hạ sốt nhanh chóng bằng cách: chườm lạnh, quạt mát, sử dụng thuốc: Paracetamol theo liều (1 tuổi: 60mg; 1-3 tuổi: 60 -120mg/ liều; 3-6 tuổi : 120mg/liều. Chú ý không được dùng Aspirin, APC.

- Phải phòng mất nước và điện giải sớm: Uống dung dịch điện giải (pha theo hướng dẫn trên bao bì, không pha đặc), nước hoa quả  2-3 lít mỗi ngày ( pha theo hướng dẫn trên bao bì, không pha đặc)

- Khi mạch nhanh 100lần/phút, huyết áp kẹt < 20, hoặc hạ phải truyền Ringer lactate hoặc dung dịch NaCL 0,9% tốc độ 20ml/kg/giờ cho đến khi mạch rõ, huyết áp > 100/60 thì giảm dần tốc độ 10ml/kg/giờ. Có thể dù dung dịch mặn ngọt đẳng trương.

- Nếu trong trường hợp không đỡ, sốc sâu hơn phải truyền Plasma, Dextran tốc độ 10-20ml/kg/giờ. 

- Chú ý: không dùng sinh tố K, Corticoid, vitamin C, dung dịch ưu trương., không truyền đạm sẽ làm tăng quá trình đông máu , đưa đến rối loạn đông máu.

- Đặc biệt nên dùng: Hoạt huyết CM3 ngay từ đầu  theo liều sau: 3 nang/lần 3 lần /ngày để đề phòng rối loạn đông máu. Khi đã có biếu hiện rối loạn đông máu phải tăng liều Hoạt huyết CM 3 lên 3-5 lần/ngày. Hoạt huyết CM3 có tác dụng ức chế hoạt hóa đông máu, phá các cục máu li ti ,chặn quá trình tiêu thụ các yếu tố đông máu, giải phóng các yếu tố đông máu và tiểu cầu nên sẽ cầm được chảy máu. Khi đã cầm được máu vẫn có thể dung duy trì ngày uống 3 lần , mỗi lần 3 viên cho đến khi hoàn toàn hồi phục.

- Trường hợp sốc quá nặng cần căn cứ vào xét nghiệm đông máu toàn bộ để quyết định truyền máu tươi và sử dụng Heparin.

Ngày gửi: 13/11/2013 - 16:15
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Monitor theo dõi bệnh nhân UT 4000A Pro
Liên hệ gian hàng...
Monitor tho dõi bệnh nhân UT 4000B
Liên hệ gian hàng...

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(15 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo