Hiện trạng QL khai thác và sử dụng nước sinh hoạt tại các tỉnh miền núi phía Bắc theo hướng ptriển bền vững?

Hiện trạng quản lý khai thác và sử dụng nước sinh hoạt tại các tỉnh miền núi phía Bắc theo hướng ptriển bền vững? Càng chi tiết càng tốt.Nếu ai có sách nào dễ copy về vấn đè này thì cho mình cái tên với nha
 |  Xem: 12.028  |  Trả lời: 1
Ngày gửi: 29/06/2008 - 10:20  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (1)

TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TRONG NỀN
KINH TẾ QUỐC DÂN


TRẦN MINH, TRẦN HOÀNG THIỆN, NGUYỄN THỊ TÂM

Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình Miền Bắc
Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Tài nguyên nước của Việt Nam khá lớn: lượng nước mặt sản sinh nội lãnh thổ là 32,5 tỷ m3 /năm, nếu kể cả lượng nước chảy từ các quốc gia lân cận vào đạt 889 tỷ m3/năm, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất là 48 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, do nhu cầu nước của Việt Nam tăng mạnh từ 79,61 tỷ m3/năm vào năm 2000 có thể lên đến vài trăm tỷ m3/năm vào những thập niên đầu của thế kỷ 21, và nguy cơ thiếu nước biểu hiện ở nhiều vùng, kể cả châu thổ sông Hồng. Trên cơ sở phân tích các tài liệu hiện có, các tác giả đã đề xuất hướng điều tra, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.

I. NƯỚC VÀ CUỘC SỐNG

Nước là vật phẩm quý giá nhất mà tạo hoá đã ban tặng cho hành tinh của chúng ta và chính nó là khởi nguồn của sự sống: vạn vật không có nước không thể tồn tại, con người cũng không là ngoại lệ.

Trong cơ thể người nước chiếm tới 70% trọng lượng. Hàng ngày mỗi người cần tối thiểu 60 - 80, tối đa tới 150 - 200 lít nước hoặc hơn cho sinh hoạt; riêng lượng nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5 - 2 lít mỗi ngày.

Nước còn cần cho các hoạt động khác của con người như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và hoạt động dịch vụ. Lượng nước dùng cho trồng trọt, chăn nuôi rất lớn: trung bình 1 ha mầu cần 0,12 - 0,29 l/s; 1 ha trồng lúa nước cần 1,5 -7 l/s; mỗi đầu vật nuôi như ngựa, trâu bò tiêu tốn 20 - 80 lít nước một ngày, lợn: 15 - 60, gà, vịt, ngan, ngỗng: 1 - 1,25 lít. Nhu cầu nước cho sản xuất công nghiệp cũng vậy: để sản xuất 1 tấn thép hay 1 tấn giấy phải dùng 44.000 lít nước; lọc một lít dầu cần 10 lít; sản xuất một lít bia phải có 15 lít nước sạch; lượng nước dùng làm mát máy cũng không nhỏ (động cơ đốt trong: 10 lít /giờ, động cơ dầu: 25 - 50 lít/giờ...)

Nước thiết yếu như vậy, nhưng loài người đang đứng trước nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng. Trên thế giới hiện có 80 quốc gia và 40% dân số không đủ nước dùng, một phần ba các điểm dân cư phải dùng các nguồn nước bị ô nhiễm để ăn uống - sinh hoạt, hệ quả là hàng năm có trên 500 triệu người mắc bệnh, 10 triệu người (chủ yếu là trẻ em) bị chết, riêng bệnh tiêu chảy đã cướp đi mạng sống của 2,5 triệu em mỗi năm.

Còn ở Việt Nam - một nước đang phát triển, mặc dù được nhà nước đặc biệt quan tâm nhưng cũng chỉ mới có 46 - 50% dân cư đô thị và 36 - 43% dân cư nông thôn được dùng nước sạch. Nhiều người dân ở nhiều vùng còn phải dùng các nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, kéo theo tỷ lệ dân cư mắc bệnh khá cao: 90% phụ nữ nông thôn mắc bệnh phụ khoa, 95% trẻ em nông thôn bị nhiễm giun, hàng năm có trên 1 triệu ca tiêu chảy, lị... Nguồn nước bị ô nhiễm là nguyên nhân quan trọng tạo nên những nguy cơ tiềm tàng của nhiều bệnh lý ở nhiều địa phương.

II. NHU CẦU NƯỚC CHO DÂN SINH VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT Ở VIỆT NAM

1. Nhu cầu nước hiện tại và trong tương lai

Cùng với đŕ gia tăng dân số, đô thị hoá, phát triển kinh tế, nhu cầu nước dùng cho ăn uống - sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ... ngày càng tăng. Lượng nước cần của năm 2000 là 79,61 tỷ m3/năm, trong số đó có 2,91 (tỷ m3) cho ăn uống - sinh hoạt, 16,2 cho công nghiệp và 60,5 cho nông nghiệp. Trong vòng 15 năm, nhu cầu nước đã tăng 1,76 lần (ăn uống - sinh hoạt: 1,65 lần; công nghiệp: 5,62 lần; nông nghiệp:1,49 lần).

Nếu cứ với đŕ này thì 15 đến 20 năm tới (2015 - 2020) nhu cầu nước sẽ vào khoảng 140 tỷ/m3 năm, tạo nên một sức ép rất lớn, đó là chưa kể đến khi ấy nước ta đã trở thành nước công nghiệp, dân số chừng 120 -150 triệu, mức sống cao hơn đňi hỏi lượng nước dùng lớn hơn: trung bình cư dân đô thị mỗi người mỗi ngày dùng 120 - 150 lít nước chứ không phải mức 80 -100 lít như hiện nay, còn người dân nông thôn dùng 80 - 100 lít thay vì 40 - 60 lít.

Nếu tính toán theo dự báo của ủy hội Tài nguyên nước quốc tế nhu cầu nước vào năm 2020 sẽ tăng 6,5 lần so với năm 1990, thì nhu cầu nước của Việt Nam lúc đó sẽ vào khoảng 510 - 520 tỷ m3 /năm, một con số làm giật mình cả những người lạc quan nhất.

2. Tổng quan tài nguyên nước của Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn tới trên 2000 mm. Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi với độ che phủ rừng hiện khoảng 29%, mạng lưới sông, suối, đầm, hồ ao, kênh mương khá dày và có nước quanh năm. Nhờ đó tài nguyên nước nhìn chung tương đối phong phú: hàng năm lượng nước mặt sản sinh nội địa đạt 32,5 tỷ m3/năm, nếu kể cả lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ m3/năm, nước dưới đất có trữ lượng tiềm năng khoảng 48 tỷ m3/năm (trầm tích bở rời: 12,6; đá lục nguyên: 7,31; đá phun trào: 2,11; đá xâm nhập: 8,05; đá carbonat: 2,4; đá biến chất: 7,79 và đá hỗn hợp: 7,75).

Tuy nhiên, lượng nước mặt có thể khai thác không thật khả quan; một mặt khả năng sử dụng lượng nước chảy từ bên ngoài lãnh thổ vào rất bấp bênh, thiếu chủ động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mặt khác nếu xét lượng nước cho phép sử dụng không được vượt quá 30% lượng nước đến ta thấy nhiều nơi không đủ nước dùng. Ví dụ lượng nước cần trong các tháng II - IV của đồng bằng Bắc Bộ chiếm tới 43 -53,8%, cá biệt tại Phả Lại chiếm 69 - 112% lượng nước đến... Trong vài thập niên đầu tiên của thế kỷ mới, nguy cơ thiếu nước sẽ đến với Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả châu thổ sông Hồng.

Nước mặt đã vậy, còn nước dưới đất thì sao? Nếu tính lượng nước khai thác sử dụng chỉ chiếm tối đa 30 - 35% trữ lượng tiềm năng thì lượng nước cần khoảng 14,4 - 16,8 tỷ m3/năm (tất nhiên đây chỉ tính trong trạng thái tự nhiên, thêm nữa muốn khai thác được lượng nước này cần phải tổ chức điều tra tìm kiếm, thăm dò).

III. TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT đã ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ

Trong nhiều năm qua, các đơn vị trực thuộc Tổng cục Địa chất trước đây, nay là Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, là các cơ quan chủ yếu được Nhà nước giao điều tra cơ bản địa chất thuỷ văn, tìm kiếm thăm dò nước dưới đất. Tính đến tháng 6/2001 trữ lượng nước dưới đất các cấp được đánh giá như sau:

- Trữ lượng khai thác cấp công nghiệp: 1.854.303 m3/ng (miền Bắc Việt Nam: 1357.266; đồng bằng Nam Trung Bộ: 22.757; Tây Nguyên: 39.280; đồng bằng Nam Bộ: 435.000 m3/ng).

- Trữ lương khai thác cấp C1: 1.979.106 m3/ng (miền Bắc Việt Nam: 1.081.251; Nam Trung Bộ: 78.460; Tây Nguyên: 156.860; Nam Bộ: 662.535 m3/ng )

- Trữ lượng cấp C2: 10.840.163 m3/ng (miền Bắc Việt Nam: 6.506.645; Nam Trung Bộ: 496.879; Tây Nguyên: 2.447.412; Nam Bộ: 1.389.277 m3/ng );

- Trữ lượng khai thác tiềm năng: 110.528.836 m3/ng (miền Bắc Việt Nam: 11.298.630; Nam Trung Bộ: 3.458.754; Tây Nguyên: 5.520.452; Nam Bộ: 90.161.000 m3/ng ).

Như vậy, so với tiềm năng tài nguyên thì trữ lượng cấp công nghiệp đã được điều tra, đánh giá mới chỉ chiếm 1,4%, còn tổng trữ lượng A+B+C1 cũng mới chiếm 2,9%, thể hiện là mức độ đầu tư nghiên cứu còn thấp.

Hiện trạng khai thác nước

Theo thống kê chưa đầy đủ trên phạm vi toàn quốc lượng nước đã khai thác là 6,454 triệu m3/ngày phục vụ cho nhu cầu ăn uống - sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ trong đó nước mặt chiếm 55% (3,557 triệu m3/ng), nước dưới đất chiếm 45% (2,897 triệu m3/ng): miền Bắc Việt Nam 1,238 triệu m3/ng (nước mặt 0,313, nước dưới đất 0,925); Nam Trung Bộ 237.100 m3/ng (nước mặt 109.700, nước dưới đất 127.400); Tây Nguyên 3,764 triệu m3/ng (nước mặt 2,484, nước dưới đất 1,28); Nam Bộ 1,214 triệu m3/ng (nước mặt 0,65, nước dưới đất 0,564).

Lượng khai thác nước dưới đất thực tế chiếm 75,6% tổng trữ lượng cấp A+B+C1 đã được đánh giá hay 128,8% tổng trữ lượng A+B và 20% C1: ở miền Bắc Việt Nam chỉ mới chiếm 58,8%, hoàn toàn có khả năng tăng cung lượng thêm 648.506 m3/ng; đồng bằng Nam Bộ chiếm 99,5% nên nếu muốn tăng thêm cần tiếp tục đầu tư cho công tác thăm dò tỉ mỉ, thăm dò khai thác; đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ vượt gấp 3,3 lần và Tây Nguyên vượt 18,1 lần trữ lượng đã được tìm kiếm, thăm dò, mà nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ nhu cầu tưới cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên, đặc biệt là Gia Lai, Đắc Lắc có nhu cầu rất lớn, trong khi nước mặt không đủ, làm cho cư dân phải tự thuê các cá nhân, tổ chức khác nhau khoan rất nhiều lỗ khoan khai thác nước ngầm để tưới vườn với cung lượng 966.000 m3 nước một ngày, gây nên nguy cơ suy thoái cạn kiệt nguồn nước. Do đó, rất cần sự đầu tư nghiên cứu, một mặt đáp ứng nhu cầu, mặt khác định ra giải pháp đảm bảo khả năng tái tạo và bảo vệ nguồn nước.

IV. HƯỚNG ĐIỀU TRA, KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT

Tài nguyên nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc mới được đánh giá chủ yếu ở dạng tiềm năng và triển vọng, trữ lượng cấp công nghiệp đã được thăm dò chiếm tỷ lệ không đáng kể, còn nhiều vùng trắng.

Điều đó làm cho việc quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên này gặp nhiều khó khăn và bất cập.

Bởi vậy để đáp ứng nhu cầu về cấp nước của nền kinh tế dân sinh, phát triển bền vững nguồn nước và bảo vệ môi trường, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên nước dưới đất, đặc biệt là việc tìm kiếm - thăm dò nhằm tạo cơ sở khai thác sử dụng nguồn nước hợp lí, tránh nguy cơ ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và những tác động tiêu cực đến môi trường, tăng khả năng bổ cập, tái tạo nước dưới đất.

Muốn vậy, ngành địa chất, trực tiếp là các đơn vị chuyên ngành địa chất thuỷ văn thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cần được nhà nước đầu tư để tổng hợp lại toàn bộ các tài liệu đã có, chỉnh lý để thành lập các bản đồ địa chất thuỷ văn và đánh giá tài nguyên nước dưới đất cho từng đối tượng chứa nước, trước mắt tập trung vào các tầng trầm tích bở rời, đá bazan, đá carbonat... và đem khớp với quy hoạch về cấp nước các đô thị, khu kinh tế trọng điểm, các tụ điểm dân cư, các địa phương... từ đó đề xuất công tác điều tra, tìm kiếm thăm dò và khai thác nước dưới đất đáp ứng yêu cầu thực tiễn với những giải pháp tối ưu, trong đó đặc biệt chú ý tới bổ sung nhân tạo nước dưới đất và công nghệ khai thác giếng lớn, hành lang lấy nước tại các vùng có điều kiện địa chất thuỷ văn thuận lợi.

Về phía Nhà nước, trong các dự án quy hoạch xây dựng, phát triển kinh tế vùng, địa phương và toàn lãnh thổ, cần quan tâm bổ sung một số lĩnh vực về phát triển và bảo vệ tài nguyên nước sau:

1. Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.

Là người Việt Nam, có lẽ không ai là không thuộc lòng câu "rừng vàng biển bạc" thể hiện lợi ích kinh tế, giữ đất, giữ nước và điều tiết dòng chảy của rừng.

Trong gần 60 năm qua, do nhiều nguyên nhân mà rừng nước ta bị tàn phá dữ dội, độ che phủ từ 43,7% (năm 1943) chỉ còn 28% (hiện nay) dù toàn dân đã bỏ không ít công sức vào việc trồng và tái tạo rừng. Ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc độ che phủ của rừng suy giảm dữ dội: năm 1943 độ che phủ rừng trên địa bàn Lào Cai là 70%, nay còn 19,8%, ở tỉnh Sơn La độ che phủ chỉ còn 12%. Ở miền Trung, miền Nam tình trạng cũng tương tự: chỉ trong vòng 8 năm (1990 - 1997) mà gần 15.000 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Trị An, 8500 ha rừng bảo tồn Biển Bạc bị phá trụi...

Do mất rừng mà 13 triệu ha đất đã bị suy thoái thành đất hoang hoá. Cũng do mất rừng nên khả năng giữ nước, điều tiết dòng chảy bị suy giảm mạnh, gây nhiều tai hoạ đối với cuộc sống của cộng đồng.

Ở các khu rừng rậm có thảm mục và lớp mùn khá dầy, khả năng lưu giữ lượng nước mưa rất lớn. Tại đây lượng nước mưa rơi xuống chảy ra khỏi rừng chỉ có từ 3% (ứng với độ dốc 100) đến 34% (nơi độ dốc lớn tới 400 hoặc hơn). Trong trường hợp này rừng trở thành "hồ chứa tự nhiên" có tác dụng trữ nước vào mùa mưa và là nguồn cung cấp nước cho sông, suối vào mùa khô.

Nếu tính với lượng mưa 2000 mm/năm, diện tích rừng 14,3 triệu ha (1943) và độ dốc trung bình 250, ta thấy hồ chứa tự nhiên nói trên đạt dung tích 241,67 tỷ m3/năm. Đây là nguồn nước hoàn toàn có thể khai thác sử dụng để cung cấp nước.

2. Quy hoạch tổng thể các hồ chứa nước.

Cả nước hiện có hàng ngàn hồ chứa nước lớn, vừa và nhỏ. Tổng dung tích 10 hồ lớn là 13 tỷ m3 nước và 445 hồ chứa vừa (dung tích mỗi hồ 5 - 10 triệu m3) là 5 tỷ m3. Nhiều hồ, đầm ao nhỏ chưa có điều kiện thống kê và xác định chi tiết, khối lượng nước mỗi hồ tuy nhỏ nhưng tổng lượng nước không nhỏ, là nơi tiêu thoát nước vào mùa mưa và là nguồn nước sinh hoạt cho không ít dân cư ngoại thị, nông thôn. Lợi ích nhiều mặt, đặc biệt về kinh tế của hồ là điều dễ thấy, nhưng sở dĩ cần thận trọng khi quy hoạch xây dựng thêm (hoặc san lấp bớt) các hồ bởi bên cạnh các lợi ích, các hồ chứa lớn và vừa luôn tiềm ẩn các tai hoạ: gây lũ thảm khốc khi vỡ đập, nguy cơ ô nhiễm không khí do bất kỳ một hồ chứa nào cũng làm ngập một diện tích rộng lớn, lượng khí CO2, CH4 thoát ra rất nhiều. Tài liệu nghiên cứu hồ trên thế giới cho thấy hàng năm trên diện tích 1 m2 mặt nước hồ sẽ thải ra 30 g khí CH4 và 450 - 1800g khí CO2. Hồ chứa nước Panpina vùng Amazon làm ngập chìm 310.000 ha đã thải ra hàng năm 10 triệu tấn CO2 và 150.000 tấn CH4 (năm 1988), hiện nay vẫn thải ra chừng 2,5 triệu tấn mỗi năm là một ví dụ.

Do các hồ chứa thường có dung tích nhỏ hơn nhiều so với lượng dòng chảy năm và gần như đã tích đầy nước trong vài tháng đầu mùa mưa nên vào mùa mưa hồ không còn khả năng chứa nữa và nước đổ dồn về hạ lưu. Vào mùa khô, toàn bộ nước được lưu giữ trong hồ chứa làm tăng mức độ cạn kiệt của dòng chảy ở phía hạ lưu dưới hồ. Thêm nữa khi đến hồ chứa động năng dòng chảy giảm đột ngột làm cho đa số lượng bùn cát trong nước đã được lưu giữ lại hồ, dẫn đến sự thiếu hụt bồi tích trầm trọng. Hệ quả tất yếu là dòng sông tăng cường quá trình xâm thực sâu và ngang, dẫn đến tăng quy mô và cường độ của quá trình sạt lở bờ. Quá trình này xảy ra đặc biệt mạnh mẽ đối với các sông có dòng chảy ngắn và dốc ở miền Trung và Nam Trung Bộ. Cũng do dòng chảy bị cạn kiệt vào mùa khô đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn vào rất sâu trong nội địa.

3. Xử lý chất thải

Chất thải bao gồm khí thải, nước thải và chất thải rắn. Tổng lượng nước thải sinh hoạt trên phạm vi toàn quốc chừng 3,8 triệu m3/ng.

Lượng nước thải do sản xuất công nghiệp khá lớn, nhưng chưa thống kê được đầy đủ, riêng Hà Nội mỗi ngày thải ra khoảng 180.000 m3 chảy thẳng vào các sông hồ, trong đó sông Tô Lịch tiếp nhận khoảng 25.000 m3/ngày.

Nước thải công nghiệp chứa các hợp chất hữu cơ, hydrocarbon, hợp chất hữu cơ dùng làm thuốc trừ sâu, dầu mỏ, các chất độc hại như phenol, cyanur và các chất vô cơ như: axit, kiềm, chlor tự do, ammoniac, sulfur hydro, các kim loại nặng (Mn, As, Zn, Hg, Pb, Cu...). Theo thống kê có gần 90% cơ sở sản suất và 61/66 khu công nghiệp chưa có thiết bị và hệ thống xử lí nước thải.

Lượng thải rắn, mỗi ngày có khoảng 50.000 tấn (công nghiệp: 26.877; sinh hoạt: 21.828; y tế: 240 tấn). Tỉ lệ thu gom rác ở đô thị mới đạt 50 - 60% và được xử lí chủ yếu bằng chôn lấp. Lượng thải rắn y tế có chừng 12 - 25% thuộc loại nguy hiểm, độc hại, độ lây truyền bệnh cao.

Rác thải sinh hoạt được tập trung tại 149 bãi rác ở 61 tỉnh thành phố có nồng độ chlor, sắt, ammoniac, phenol, tăng theo thời gian làm cho diện tích đất, nước dưới đất bị ô nhiễm lan rộng. Tài liệu nghiên cứu bãi rác Bavaria (Cộng hoà Liên bang Đức) cho thấy nồng độ chlor trong nước dưới đất tăng từ 20 - 34% (trong trạng thái tự nhiên) đến 650 mg/l (khi chứa rác) và hàm lượng NH4+ tương ứng từ 0,9 lên 275 mg/l.

Các bãi rác Mễ Trì, Sóc Sơn (Hà Nội), Đông Thạnh (thành phố Hồ Chí Minh) có nguy cơ gây ô nhiễm nặng nguồn nước.

Rác thải công nghiệp thường làm cho hàm lượng Mn, Cr, NH4+... trong nước dưới đất tăng lên. Kết quả phân tích nồng độ hàm lượng các nguyên tố trong nước dưới đất (tính bằng mg/l) trong trạng thái tự nhiên và trong trạng thái có bãi thải hoạt động tại bãi rác ở bang California (Hoa Kỳ) cho bức tranh sau: sắt = 0,1và 300 - 1500; Mn = 0,025 và 20 - 300; Cr = 0,01 và 0,1 - 2,0; NH4+ = 0,1 - 0,2 và 50 - 100...

Trong sản xuất nông nghiệp, người ta dùng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, trừ sâu, diệt cỏ. Hiện có 90% đất canh tác ở Việt Nam dùng thuốc bảo vệ thực vật và khối lượng dùng ngày càng tăng (những năm 90 đã gấp 3 lần những năm 80). Nhiều loại thuốc chứa chlor hữu cơ, thuỷ ngân, arsen và các kim loại nặng khác. Nhóm lân hữu cơ có độc tính rất cao.

Lượng phân bón dùng trong sản xuất nông nhiệp và chăn nuôi gia súc chủ yếu làm tăng nồng độ nitrat, NH4+ trong nước dưới đất.

Tài liệu kiểm tra tại các vùng nông nghiệp của nước Pháp trong 20 năm (1955 - 1975) cho thấy nồng độ nitrat đã tăng 6 lần. Hàm lượng nitrat trong nước dưới đất ở một số bang của Hoa Kỳ đã đạt đến mức tai họa như bang Ilinois là 6000 mg/l còn Bắc Carolina tới 10.000 mg/l. Các vùng chăn nuôi gia súc ở Hà Lan có nồng độ NH4+ trong nước dưới đất cao tới 70 mg/l.

Theo phong tục tập quán người Việt thường chôn người chết tại các nghĩa trang. Thí dụ nghĩa trang Văn Điển hoạt động từ 1958 đến nay mỗi năm chôn cất tới 2700 người chết, gây ra sự ô nhiễm và bệnh tật cho cư dân quanh vùng như đã nói ở trên. Đó là nguồn gây ô nhiễm nặng đối với nước dưới đất, đặc biệt nước các tầng nông.

Lượng khí thải gồm các loại khí kèm theo các giọt lỏng nhỏ hay các hạt chất rắn mịn bắt nguồn từ giao thông vận tải, động cơ nhiệt điện, sự đốt cháy nhiên liệu dùng trong công nghiệp và sinh hoạt, đốt chất thải, các quá trình sản xuất công nghiệp và các hoạt động khác... Trong khí thải có các hợp chất lưu huỳnh CO, hydrocarbon và các hạt bụi. Trên thế giới lượng lưu huỳnh đưa vào khí quyển hàng năm là 493,55 triệu tấn, các hydrocarbon - 80,11 triệu tấn và 296 triệu tấn hạt bụi.

Ở Việt Nam chỉ tính riêng 17 khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía nam với 298 nhà máy đã thải vào khí quyển mỗi ngày 15 tấn bụi, 150 tấn SO2 và 4,6 tấn CO. Mỗi năm các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng thải 12.793 tấn bụi, 624 tấn SO2, 153 tấn CO, các nhà máy luyện cán thép thải 17,87 tấn bụi, 466 tấn SO2, 18.907 tấn CO vào khí quyển.

Các khí thải ngoài khía cạnh là một trong những nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất còn rất hại cho cơ thể như gây cản trở đường hô hấp (SO2), ngăn trở và giảm khả năng vận chuyển oxy của máu (CO, NO2), riêng NO2 ở trong phổi được chuyển hoá thành các nitrosamin có khả năng gây ung thư. Các hạt bụi cũng nguy hiểm không kém: các hạt có kích thước hơn 5 m m bị giữ lại trong mũi và khí quản, các hạt 1 m m lắng đọng ở vách cuống phổi, hạt < 0,1 – 1 m m có thể xâm nhập sâu vào phổi...

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Nước dưới đất là loại tài nguyên có khả năng tự tái tạo, rất quý hiếm bởi trữ lượng lớn, chất lượng tốt, mức độ tự bảo vệ cao, có khả năng tránh được nhiều rủi ro ô nhiễm.

Tài liệu nghiên cứu tài nguyên nước thế giới cho thấy: nước mặn đại dương chiếm hơn 97,2% tổng lượng nước; đất liền chỉ giữ chưa đến 2,8% (các mũ băng và băng hà 77,2%, nước dưới đất 22,0%, hồ sông suối 0,32%... ); hơn 98% lượng nước ngọt là nước dưới đất, vượt xa lượng nước mặt. Điều đó khẳng định vai trò to lớn của nước dưới đất. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà cung lượng của nước dưới đất tại Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng, đồng thời một số vấn đề nảy sinh như suy thoái, sụt lún, ô nhiễm... chưa được nghiên cứu nhằm đảm bảo phát triển bền vững nguồn cung cấp nước.

Chuyên ngành địa chất thuỷ văn được cả các nhà địa chất thuỷ văn lẫn các nhà quy hoạch xem là bộ phận quan trọng của quy hoạch môi trường. Vì dân số tăng và vì phát triển kinh tế, tác động của con người tới môi trường ngày càng mạnh mẽ. Sự xuống cấp của môi trường sẽ ít có khả năng xảy ra hơn khi nhà quy hoạch và nhà địa chất thuỷ văn cộng tác chặt chẽ với nhau.

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, nhằm đáp ứng đňi hỏi của thực tế khách quan và góp phần hiệu quả vào phát triển kinh tế với phát triển xã hội, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lí và bảo vệ môi trường, đề nghị:

1) Tăng cường công tác điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên nước dưới đất, đặc biệt chú trọng việc đánh giá nước dưới đất qua việc nghiên cứu, giải quyết vấn đề cung cấp, kiểm soát và ô nhiễm nước dưới đất;

2) Kết hợp chặt chẽ giữa điều tra với quy hoạch, đảm bảo kết quả nghiên cứu vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn;

3) Nhằm đưa nhanh lượng nước sạch tìm được vào sử dụng đáp ứng nhu cầu dân sinh, Nhà nước cần đầu tư cho công tác khai dẫn đối với các chương trình trọng điểm như nước cho miền núi, biên giới, hải đảo... và công tác thăm dò nước dưới đất tại các vùng có ý nghĩa kinh tế - xã hội cao khi khó khăn hoặc không có khả năng huy động các nguồn vốn khác;

4) Có kế hoạch và chính sách cụ thể đổi mới thiết bị công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng điều tra nước dưới đất.

5) Nhà nước cần đầu tư để thử nghiệm các công nghệ bổ sung nhân tạo nước dưới đất, hành lang lấy nước, khoan tia tại các khoảnh có điều kiện địa chất thuỷ văn thích hợp, nhằm xác định quy trình công nghệ hợp lí áp dụng vào thực tế.

VĂN LIỆU

1. Lê Văn Hiển (Chủ biên), 2000. Nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội, 112 trg.

2. Ngô Tuấn Tú, Võ Công Nghiệp, Đặng Hữu Ơn, Quách Văn Đơn, 1999. Nước dưới đất khu vực Tây Nguyên. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội, 188 trg.

3. Nguyễn Trường Giang, Võ Công Nghiệp, Đặng Hữu Ơn, Vũ Ngọc Trân, 1998. Nước dưới đất đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội, 124 trg.

4. Nguyễn Văn Đản (Chủ biên), 1996. Nước dưới đất các đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội, 92 trg.

5. Vũ Văn Nghi, Trần Hồng Phú, Đặng Hữu Ơn, Bùi Thế Định, Bùi Trần Vượng, Đoàn Ngọc Toản, 1998. Nước dưới đất đồng bằng Nam Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Hà Nội, 164 trg.

6. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo quốc gia "Tài nguyên nước dưới đất phục vụ Chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường", Hà Nội, 1997.
Ngày gửi: 01/07/2008 - 14:42
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn