Cho em hỏi: Các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường vùng Quảng Ninh

 |  Xem: 4.147  |  Trả lời: 1
Ngày gửi: 14/07/2008 - 00:47  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (1)

1. Quảng Ninh giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ quá trình đô thị hoá và khai thác than
Ở Quảng Ninh những năm gần đây quá trình phát triển kinh - tế xã hội diễn ra sôi động, nhất là ở các đô thị: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái. Trên một địa bàn không rộng đồng thời diễn ra nhiều hoạt động có tính xung đột về môi trường như khai thác than, phát triển các khu công nghiệp, lấn biển phát triển hạ tầng đô thị… đã làm nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc về môi trường như chất thải, nước thải, khí thải, hiện tượng bồi lắng… Trong đó sản xuất than là một ngành quan trọng, có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội, song ô nhiễm môi trường do khai thác than gây ra cũng không phải là ít.

Theo báo cáo của ngành than, trong nhiều năm qua, do nhu cầu than trên thế giới ngày càng tăng nhanh nên ngành than đã tổ chức lại sản xuất, tăng cường đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại, sản lượng khai thác than không ngừng tăng nhanh từ 11,03 triệu tấn năm 2000 đã tăng lên 18,2 triệu tấn năm 2003, góp phần làm tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Mặt khác, theo tính toán để khai thác 1 tấn than phải bóc từ 6 – 8 m3 đất đá và thải ra 1 – 3 m3 nước thải. Do vậy, hằng năm sẽ thải vào môi trường khoảng 160 triệu m3 đất đá và khoảng 60 triệu m3 nước gây tích tụ, bồi lắng, rửa trôi đất đá, làm ảnh hưởng đến các khu dân cư đô thị và các cửa sông, ven biển, làm suy thoái nghiêm trọng tài nguyên đất đai, rừng biển… Có thể nói, do hoạt động khai thác than với tốc độ cao và vấn đề môi trường chưa được đầu tư tương xứng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường về đất, nước, không khí và sức khoẻ cộng đồng dân cư. Ô nhiễm ở nhiều khu vực đã đến mức nghiêm trọng, như Mạo Khê, thị xã Uông Bí, thị xã Cẩm Phả…

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này UBND tỉnh và Tổng Công ty Than Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp khắc phục và cải thiện môi trường trong khai thác than. Tỉnh đã đề xuất và được Chính phủ cho phép đưa 1% chi phí gía thành sản xuất than để góp phần thực hiện nhiệm vụ khắc phục bảo vệ môi trường. Hằng năm đầu tư 20 – 25 tỷ đồng làm đường cải tạo, tu bổ, nâng cấp, nạo vét các tuyến kênh mương, hồ đập; xây lại hệ thống tường kè tại một số sông suối ở huyện Đông Triều, thị xã Uông Bí, Cẩm Phả, thành phố Hạ Long. Tổ chức di chuyển một số nhà sàng, các kho than, các hoạt động có liên quan đến sản xuất than ra khỏi các trung tâm đô thị và khu vực tập trung đông dân cư và các địa bàn có hệ sinh thái cảnh quan quan trọng (rừng đầu nguồn), các di tích lịch sử văn hoá. Từng bước chuyển từ khai thác than lộ thiên sang khai thác hầm lò, sử dụng vì kèo thuỷ lực để chống lò, thay dần việc sử dụng gỗ chống lò.

Một vấn đề không kém phần bức xúc là quá trình lấn biển phát triển hạ tầng đô thị và nuôi trồng hải sản đã làm thu hẹp phần lớn diện tích rừng ngập mặn, trong khi đó vai trò của rừng ngập mặn trong chống suy thoái ô nhiễm môi trường là rất lớn. Ông Lương Y Dược – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cho biết: Theo tính toán của các nhà khoa học thực hiện dự án Nghiên cứu ô nhiễm môi trường Vịnh Hạ Long (năm 1998) thì mỗi hecta rừng ngập mặn, qua so sánh chi phí cho một trạm xử lý nước thải tiêu chuẩn có giá trị lợi ích tương đương 5820 USD (thời giá năm 1994). Năm 1998, toàn tỉnh vẫn còn 22.968 hecta rừng ngập mặn, chủ yếu là sú, vẹt. Nhưng khả năng đến năm 2015 sẽ có khoảng 707 hecta rừng ngập mặn
tiếp tục bị mất đi và theo phép tính như trên thì sự thiệt hại sẽ là hàng chục triệu USD. Ngoài ra, chất thải, vệ sinh môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị, nơi tập trung dân cư cũng còn nhiều bất cập, nhất là rác thải và xử lý rác thải. Bên cạnh đó, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT) chưa được kiện toàn tương xứng với nhiệm vụ được giao, chưa đáp ứng kịp thời với tốc độ phát triển nhanh về kinh tế – xã hội của tỉnh. Kinh phí đầu tư cho hoạt động BVMT còn quá khiêm tốn. Chẳng hạn như kinh phí cho hoạt động của cơ quan quản lý BVMT cấp tỉnh khoảng 80 – 100 triệu/năm và hầu hết các địa phương không có kinh phí chi cho BVMT. Nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và cộng đồng về BVMT tuy đã được nâng cao nhưng chưa thấy hết trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc BVMT. Xin lấy ví dụ: Từ năm 2002 đến quý I/2004, trên địa bàn thành phố Hạ Long có 165 dự án thì có 78 dự án (chiếm47%) thực hiện lập và báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tương tự như vậy, ở Cẩm Phả 13/65 dự án, Móng Cái 11/40 dự án… Ngoài ra, yêu cầu đòi hỏi trách nhiệm và nhiệm vụ được giao là rất lớn, song đội ngũ những người làm quản lý BVMT lại quá mỏng. Phòng môi trường của Sở hiện có 5 cán bộ theo dõi về BVMT trong phạm vi toàn tỉnh. Trong khi đó ở cấp huyện chưa có cán bộ chuyên trách về môi trường (cả tỉnh mới có 9/14 huyện, thị xã, thành phố có cán bộ bán chuyên trách).

Để tăng cường quản lý nhà nước về BVMT, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh đã tham mưu trình UBND tỉnh ban hành một số chủ trương, văn bản quy phạm về quản lý BVMT trên địa bàn. Trước mắt Sở sẽ tập trung xây dựng hệ thống quản lý và đào tạo cán bộ BVMT. Chủ động phối hợp với các cấp, ngành, tổ chức, doanh nghiệp trong việc thực hiện luật BVMT, tập trung thẩm định đánh giá tác động môi trường và quản lý sau thẩm định. Các dự án xây dựng bãi xử lý rác thải ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Đèo Sen, Hà Khẩu (Hạ Long) đang được triển khai. Môi trường vùng núi, vùng nông thôn, các vùng trung tâm Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và khu vực các huyện miền Đông đã được cải thiện một bước. Các quy định, quyết định của tỉnh về quản lý và BVMT được ban hành đã tạo hành lang pháp lý cho các thành phần kinh tế hoạt động. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về BVMT được đẩy mạnh. Một số doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã bị buộc phải đình chỉ sản xuất như Nhà máy giấy Tiên Yên, Nhà máy giấy Ba Chẽ, hoặc chuyển địa điểm như công ty chế biến bột cá Vân Đồn.



Phát triển du lịch biển bền vững từ góc độ môi trường
Du lịch biển có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch Việt Nam và ngày càng phát triển với t­ư cách là một trong những ngành kinh tế biển chủ yếu. Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch biển hiện dang đứng trư­ớc nhiều vấn đề về môi trư­ờng nh­ư sự suy giảm các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học, ô nhiễm nư­ớc biển...

Tuy nhiên, đứng từ góc độ của mình, du lịch biển cũng đã có những tác động đáng kể đến môi tr­ường biển do thải lư­ợng từ hoạt động du lịch ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các trọng điểm du lịch. Những vấn đề này đã và đang ảnh h­ưởng đến phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam. Đứng trước thực trạng trên, một số giải pháp cơ bản đã được đề xuất nhằm góp phần đảm bảo phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam từ góc độ môi tr­ường.

2. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN BỀN VỮNG TỪ GÓC ĐỘ MÔI TRƯỜNG

Một số vấn đề cơ bản đặt ra cho phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam từ góc độ môi trường bao gồm:

-Sự xuống cấp về chất lượng môi trư­ờng: Môi tr­ường ven biển và vùng nước ven biển trực tiếp chịu ảnh h­ưởng tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở những khu vực có hoạt động công nghiệp, cảng biển, phát triển đô thị tập trung; các vùng cửa sông - nơi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt ở vùng th­ượng lư­u theo các dòng sông đổ ra biển... là những nguồn gây ô nhiễm, làm xuống cấp chất lư­ợng môi trư­ờng, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển du lịch biển bền vững.

Kết quả khảo sát môi tr­ường tại các khu vực trọng điểm phát triển du lịch vùng ven biển cho thấy:

+ Ở nhiều khu vực như­ vùng biển ven bờ cửa Lực (Quảng Ninh), cảng Thuận An (Thừa Thiên Huế), cảng Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, dọc tuyến hàng hải Hải Phòng - Đà Nẵng... chỉ số nhiễm đo trong nư­ớc đã vư­ợt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), trong một số trư­ờng hợp lên tới 0,2 mg/1ít - 0,3mg/1ít.

Điều này ảnh h­ưởng đến chất lư­ợng các bãi tắm, hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch biển Việt Nam.

+ Hàm l­ượng kim loại nặng ở nhiều khu vực cũng v­ượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ: hàm l­ượng đồng (Cu) ở khu vực Hạ Long, vùng cửa Nam Triệu và quanh bán đảo Đồ Sơn phổ biến trong khoảng 0,080 – 0,086 mg/1ít; ở khu vực Huế, Đà Nẵng ở trong khoảng 0,076 - 0,081 mg/1ít, vư­ợt quá giới hạn cho phép là 0,02 mg/1ít.

+ Hàm l­ượng các vật chất lơ lửng do các hoạt động công nghiệp, khai thác than... đặc biệt nổi cộm ở Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng... ở Hạ Long, dư­ới tác động của hoạt động khai thác than, môi tr­ường không khí tại nhiều nơi đã v­ượt quá xa chỉ tiêu cho phép về nồng độ bụi. Những khu vực gần các mỏ khai thác than từ Hòn Gai đến Cửa Ông nồng độ đạt 3.000 - 6.000 hạt/cm3, vượt quá giới hạn cho phép từ 30 – 500 lần.

- Tình trạng xói lở bờ biển: ảnh h­ưởng trực tiếp đến sự tồn tại của các khu du lich ven biển. Nhiều khu du lịch ở miền Trung, điền hình là khu du lịch Thuận An (Thừa Thiên – Huế) khu du lịch Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận)... và trên một số đảo ven bờ như­ Phú Quốc... đã và đang chịu ảnh hưởng của tình trạng này. Cá biệt nh­ư khu du lịch Thuận An, bãi biển đã bị sạt lở nghiêm trọng ảnh h­ưởng đến hoạt động tắm biển và xây dựng các công trình du lịch.

- Tình trạng suy giảm rừng ven biển và trên các đảo: Trong tình trạng chung về suy giảm rừng ở khu vực ven biển và hải đảo ven bờ Việt Nam, tài nguyên sinh vật trong những năm gần đây cũng giảm sút đáng kể kéo theo sự suy giảm về tính đa dạng sinh học. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là do đời sống của ng­ười dân vùng ven biển còn thấp, vì vậy dẫn đến việc khai thác cạn kiệt tài nguyên sinh vật, ảnh h­ưởng đến môi trư­ờng khu vực. Trong xu thế đó, nhiều hệ sinh thái có giá trị du lịch nh­ư hệ sinh thái san hô, cỏ biển; hệ sinh thái rừng ngập mặn; hệ sinh thái đầm phá; hệ sinh thái biển - đảo... bị ảnh hưởng và suy giảm.

Tóm lại, môi trư­ờng du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam đã có những dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt ở các khu vực trọng điểm du lịch như­ Hạ Long - Cát Bà - Đồ Sơn, Huế - Đà Nẵng, Vũng Tàu... ảnh hư­ởng đến sự phát triển du lịch biển bền vững ở Việt Nam.

Bên cạnh những ảnh hư­ởng của tình trạng xuống cấp về môi trư­ờng do hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gây ra, bản thân sự phát triển các hoạt động du lịch ở vùng ven biển cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên ở vùng ven biển. Những ảnh hư­ởng chủ yếu của hoạt động du lịch đến môi tr­ường bao gồm:

- Tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm du lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi tr­ường đất nước.

Lư­ợng chất thải trung bình từ sinh hoạt của khách du lịch khoảng 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít chất thải lỏng/khách/ ngày. Đây đ­ược xem là nguồn gây ô nhiễm quan trọng từ hoạt động du lịch đến môi trường. Áp lực này càng lớn đối với những khu vực, nơi năng lực xử lý chất thải còn hạn chế.

Như­ vậy, cùng với sự gia tăng khách du lịch, áp lực về thải lư­ợng từ hoạt động du lịch ngày một tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt ở các trung tâm du lịch, và thực sự trở thành vấn đề môi tr­ường đáng đư­ợc quan tâm. Đối với một số đô thị du lịch ven biển như­ Hạ Long, Huế, Đà Nẫng, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu... áp lực này càng lớn, đặc biệt vào mùa du lịch, hoặc thời điểm tổ chức lễ hội, hay các sự kiện chính trị kinh tế - văn hóa - xã hội.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là ngay tại các trọng điểm phát triển du lịch, các chất thải sinh hoạt nói chung, chất thải từ hoạt động du lịch nói riêng phần lớn chư­a đ­ược xử lý, hoặc xử lý bằng phư­ơng pháp chôn lấp, không triệt để, vì vậy ảnh h­ởng rất lớn đến cảnh quan, môi tr­ờng tự nhiên, chất lượng các nguồn nước, kể cây nước biển ven bờ.

- Tăng mức dộ suy thoái và ô nhiễm nguồn nư­ớc ngầm, đặc biệt ở khu vực ven biển.

Cùng với việc tăng số lư­ợng khách, nhu cầu n­ước cho sinh hoạt của khách du lịch tăng nhanh. Điều này sẽ góp phần làm suy giảm trữ l­ượng và tăng khả năng ô nhiễm các nguồn nư­ớc ngầm, đặc biệt ở khu vực ven biển do phải tăng công suet khai thác để đáp ứng nhu cầu khách du lịch (trung bình tối thiểu khoảng 100-150 lít/ngày đối với khách du lịch nội địa, 200- 2501ít/ngày đối với khách quốc tế so với 801ít/­ngày đối với nhu cầu sinh hoạt ngư­ời dân). Vấn đề này sẽ càng trở nên nghiêm trọng đặc biệt vào mùa du lịch ở các trọng điểm phát triển du lịch.

Tuy nhiên n­ước phục vụ nhu cầu du lịch chủ yếu là nư­ớc ngầm và tập trung chủ yếu ở vùng ven biển, nơi có tới trên 70% các điểm du lịch trong toàn quốc. Vì vậy trong điều kiện chư­a có khả năng điều tra mở rộng các mô nư­ớc ngầm mới, việc tăng nhanh nhu cầu n­ước sinh hoạt cho hoạt động du lịch sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nư­ớc ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biền do khả năng xâm nhập mặn cao, khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép.

- Tăng l­ượng khí thải, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm không khí, đặc biệt ở các đô thị du lịch.

Nếu chỉ tính đến tác động của các thiết bị điều hòa nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn du lịch, thì l­ượng khí CFCs (loại khí thải chính ảnh hư­ởng đến tầng ozon của khí quyển) thải ra cũng có tác động không nhỏ đến môi trường khí.

Vào mùa du lịch, đặc biệt vào các ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần, l­ượng xe du lịch tập trung chuyên chở khách đến các trung tâm đô thị du lịch đã gây ra tình trạng ách tắc giao thông và làm tăng đáng kể l­ượng khí thải C02 vào môi trư­ờng khí.

Hoạt động vận chuyển khách, vui chơi giải trí trên biển bằng các ph­ương tiện động cơ cũng góp phần làm ô nhiễm dầu vùng n­ước biển ven bờ, tăng khả năng sự cố tràn dầu do va chạm giữa các ph­ương tiện. Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm dầu nư­ớc biển ở một số khu du lịch biển lớn nh­ư Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu... cho thấy ở nhiều khu vực chỉ số này đã vư­ợt TCCP là 0,03mg/1. Mặc dù hiện nay, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do hoạt động vận tải biển, khai thác vận chuyển dầu.

- Ảnh h­ưởng đến cảnh quan tự nhiên: Do thiếu cân nhắc trong quy hoạch và thực hiện quy hoạch du lịch, nhiều cảnh quan đặc sắc hệ sinh thái nhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn thiên nhiên, v­ườn quốc gia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới. Điều này có thể nhận thấy qua sự phát triển các khu du lịch trên đảo Cát Bà, khu Hùng Thắng, đảo Tuần Châu (Hạ Long)...

- Đa dạng sinh học bị đe dọa do nhiều loài sinh vật, trong đó có cả những loài sinh vật hoang dã quý hiếm như­ san hô, đồi mồi... bị săn bắt phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ l­ưu niệm, buôn bán mẫu >vật của khách du lịch. Ngoài ra chu trình sống (di trú, kiếm ăn, mùa giao phối sinh sản) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồn thiên nhiên, v­ườn quốc gia cũng bị tác động do lư­ợng khách tập trung đông.

NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG

- Chư­a có cơ quan chuyên trách quản lý nhà nư­ớc về môi tr­ường trong ngành du lịch, vì vậy công tác quản lý khai thác và bảo tồn tài nguyên, môi tr­ường du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng gặp nhiều khó khăn, mới chỉ thực hiện ở mức độ nghiên cứu, đề xuất giải pháp chung.

- Chư­a có đ­ược nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống về môi trường du lịch biển Việt Nam làm căn cứ đề ra các giải pháp khai thác hợp lý tài nguyên, đảm bảo môi tr­ường cho phát triển bền vững du lịch biển.

- Chư­a xây dựng và ban hành chính thức H­ướng dẫn về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho hoạt động du lịch, mặc dù trong năm 1999 Viện NCPT Du lịch đã phối hợp với Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công Nghệ Quốc gia soạn thảo sách "Hư­ớng dẫn ĐTM cho dự án phát triển du lịch"

- Chư­a có hệ thống kiểm soát quản lý các vấn đề về môi tr­ường liên quan đến các hoạt động du lịch vì vậy thiếu các hoạt động tích cực nhằm hạn chế sự suy thoái tài nguyên và môi tr­ường du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng.

- Quan hệ liên ngành trong quản lý môi trư­ờng đặc biệt giữa ngành du lịch với Bộ Tài nguyên và Môi trư­ờng còn thiếu chặt chê vì vậy ảnh h­ưởng đến công tác quản lý môi trư­ờng biển cho hoạt động phát triển du lịch ở khu vực này.

- Du lịch Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với quá trình suy thoái môi tr­ường chung, môi trường biển nói riêng, đặc biệt ở các vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội và các khu vực trọng điểm phát triển du lịch ở vùng ven biển, hải đảo.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG

- Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện từng bư­ớc các cơ chế chính sách

+ Chính sách ­ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong thời gian nhất định với các hình thức đầu tư­ thuần tuý cho hoạt động bảo vệ môi trư­ờng của du lịch biển hoặc đầu t­ư trong các lĩnh vực khác với các công nghệ đồng bộ về bảo vệ môi trường biển.

+ Chính sách ­ưu tiên đối với các dự án đầu t­ư du lịch có các giải pháp khả thi, cự thể nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động du lịch đến môi tr­ường biển, mang lại các hiệu quả trực tiếp cho cộng đồng và lâu dài cho toàn xã hội ở vùng ven biển và hải đảo.

+ Chính sách khuyến khích phát triển nghiên cứu khoa học và ứng dựng công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trư­ờng biển; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển du lịch biển bền vững. Khuyến khích nghiên cứu ứng dụng các công nghệ ít tiêu thụ năng lượng, nư­ớc sạch và tăng cư­ờng tái sử dụng chất thải trong các cơ sở dịch vụ du lịch, đặc biệt trên các đảo.

+ Chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi tr­ường, đặc biệt là du lịch sinh thái biển. Điều này đã đư­ợc thể hiện rõ trong chiến lư­ợc phát triển du lịch Việt Nam

- Tăng cư­ờng hiệu lực quản lý nhà n­ước về môi trư­ờng

+ Tích cực triển khai "Quy chế bảo vệ môi tr­ường trong lĩnh vực du lịch" do Bộ Tài nguyên và Môi trư­ờng ban hành tại Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 7 năm 2003.

+ Lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi tr­ường vào các hoạt động phát triển du lịch biển, đặc biệt trong công tác quy hoạch phát triển du lịch với việc thực hiện đánh giá tác động môi tr­ường.

- Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi tr­ường

+ Tăng c­ường hoạt động tổ chức "Tuần lễ du lịch xanh" tại nhiều trung tâm du lịch, khu du lịch trọng điểm ven biển trong cả n­ước nh­ư đã thực hiện tại Cửa Lò (Nghệ An), Nha Trang (Khánh Hòa), Huế (Thừa Thiên – Huế)

+ Tăng c­ường tổ chức các lớp tập huấn về môi trư­ờng cho các cán bộ quản lý, các doanh nghiệp du lịch ở vùng ven biển trên phạm vi cả n­ước như­ đã đư­ợc thực hiện tại Đồ Sơn (Hải Phòng), Đà Nẵng và Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)

- Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

+ Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển bền vững từ góc độ môi tr­ường trong khuôn khổ "Nhiệm vụ quản lý nhà nư­ớc về môi trư­ờng" với sự hỗ trợ về kinh phí hoạt động của Bộ Tài nguyên và Môi tr­ường.

+ Khuyến khích và ­ưu tiên h­ướng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trư­ờng biển làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp đồng bộ thực hiện Luật Bảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển du lịch biển ở Việt Nam.
Ngày gửi: 14/07/2008 - 08:37
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo