Thế nào là văn hóa tổ chức làng xã?

Đặc điểm của tổ chức làng xã?
Đặc điểm văn hóa làng xã ở việt nam?
 |  Xem: 26.575  |  Trả lời: 2
Ngày gửi: 24/05/2008 - 12:10  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (2)

Bạn có thể tham khảo thêm tài liệu sau:

Làng Việt (kẻ, thôn…) là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông thôn Việt trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú; là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt; trồng trọt là điểm tập hợp cuộc sống cộng đồng tự quản đa dạng và phong phú của người nông dân, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ.

Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt (nổi lên là gia đình (nhà) - làng - nước, còn cấp vùng, tỉnh là đơn vị trung gian ít quan trọng hơn) với hai đặc trưng cơ bản là: tính cộng đồng và tính tự trị.

Làng Việt được tổ chức rất chặt chẽ, không phải theo một mà nhiều cách, nhiều nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp người khác nhau, khác nhau nhưng lại hoà đồng trong phạm vi làng. Về cơ bản, cơ cấu làng Việt (cổ truyền và hiện đại) được biểu hiện dưới những hình thức tổ chức (liên kết, tập hợp người) sau đây:

- Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: Làng phân thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiều nhà… thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông, chân đê, những khối chặt kiểu ô bàn cờ, theo hình Vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẽ với ruộng đồng… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng.

- Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình), dòng họ. Ngoài các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làng Việt, là chỗ dựa vật chất, và chủ yếu là tinh thần cho gia đình; có tác dụng trong định canh và xây dựng làng mới, như là trung tâm của sự cộng cảm trong các gia đình đồng huyết… Có làng gồm nhiều dòng họ, có làng chỉ một dòng họ và khi ấy làng và dòng họ (gia tộc) đồng nhất với nhau. Điều đáng lưu ý là mức độ liên kết huyết thống trong phạm vi làng Việt là hết sức rạch ròi, chi li với những tên gọi cụ thể (cố - cụ - ông - cha - bản thân - con - cháu - chắt - chút…)

- Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích và lòng tự nguyện (Phe-Hội, Phường nghề…). Mỗi làng có thể có nhiều Phe (một tổ chức tự quản dưới nhiều hình thức câu lạc bộ): Phe tư văn quan trọng hơn; nhiều Hội: hiếu hỷ, mua bán, luyện võ, tập chèo, đấu vật… các Phường nghề: mộc, nề, sơn, thêu, chèo, rối…

- Tổ chức làng theo lớp tuổi (truyền thống nam giới): tổ chức giáp, hiện rất mờ nhạt. Đây là môi trường tiến thân theo tuổi tác, tổ chức dành riêng cho nam giới, phụ nữ không được vào. Bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay, được lên đinh, ngôì chiếu giữa làng, được nâng dần địa vị, được lên lão… Nói chung, giáp gắn chặt với làng.

- Tổ chức làng theo cơ cấu hành chính.

Làng có khi gọi là xã (có xã gồm nhiều làng), có khi gọi là thôn (khi nhất xã nhất thôn). Tiêu chuẩn để phân định rõ nhất là chính cư và ngụ cư (nội tịch và ngoại tịch) một cách rất rành mạch, nhiều khi cực đoan. Tuy nhiên, có một điều mở là dân ngụ cư có thể chuyển thành chính cư khi có điền có điền sản và sống (cư trú) ở làng 3 đời trở lên. Dân cư trong làng được phân thành nhiều hạng, cơ bản là các hạng: chức sắc (đỗ đạt hoặc có phâm hàm vua ban); chức dịch (có chức vụ trong bộ máy hành chính); lão, đinh, ty ấu, người già, trai đinh, trẻ con (trong các giáp)…

Là một thiết chế xã hội của nông thôn Việt, có cơ cấu tổ chức phong phú nhưng chặt chẽ, có tính cộng đồng và tự trị cao, làng Việt ở mặt trái, mang tính khép kín, bản vị. Song nó lại chính là nơi lưu giữ, bảo vệ một thứ văn hoá làng chống lại sự xâm lăng, đồng hoá của văn hoá ngoại lai. Làng Việt và văn hoá làng Việt đang là vấn đề rất thú vị cho những ai quan tâm, nghiên cứu nó.

Tuy thế, ở nước ta, không phải bất kỳ đâu, làng Việt cũng có đặc điểm và tính chất giống hệt nhau. Nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ học, folklore học, tâm lý dân tộc học… qua quá trình điền dã và thẩm định đã cho thấy rằng: làng Việt ở Bắc - Trung - Nam bộ có những đặc điểm khác nhau trên cơ sở những cái giống, cái chung. Tính chất và đặc điểm đại đồng, tiểu dị này ngày càng được khẳng định không chỉ về mặt lý thuyết, mà còn ở thực tiễn nữa.

Vậy, đặc điểm lớn, khái quát của làng Việt từng khu vực Bắc - Trung, Nam là gì? Làng Việt Bắc bộ hình thành từ lâu đời, trên cơ sở tan rã dần công xã nông thôn, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, khép kín, bền vững trên cơ sở liên kết nhiều hình thức tổ chức mà mỗi hình thức tổ chức đó có ảnh hưởng gần như đến từng thành viên và dưới áp lực của rất nhiều hình thức đó, có cái hiện hình, có cái ẩn tàng, đặc biệt là của lệ tộc, của lệ làng, mà họ tham gia tạo nên. Người nông dân sống gắn bó, quanh quẩn với biểu tượng làng của mình, gắn bó chặt chẽ với xóm giềng, họ tộc, gia đình, làng nước.

Càng đi xuống phía nam, cơ cấu làng Việt càng trở nên mờ hơn, lỏng lẻo dần ra, năng động và bớt tính khép kín. Mô hình làng Bắc bộ bị đồng hoá kể từ Bắc Trung bộ, không giữ tính chặt chẽ tới mức khép kín nữa mà mở rộng đến liên làng, chú trọng hơn đến dòng họ, tộc họ. Càng cởi mở hơn, năng động hơn là làng Việt Nam Bộ. Làng Việt đồng bằng sông Cửu Long, theo tác giả Nguyễn Phương Thảo,(*) là làng khai phá, tuổi đời còn trẻ (trên dưới ba trăm năm), định cư từ giồng xuống trũng, kéo dài trên diện rộng, lấy kinh mương hay lộ giao thông làm trục (Khác làng Việt Bắc Bộ khép kín trên dỉa đất ven sông, ven đồi, duyên hải…), nên thiếu chất kết dính chặt chẽ, phân vực cao và sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá. Như vậy, làng Việt ở các vùng khác nhau có những khác biệt. Càng về phía Nam làng Việt càng mở, năng động, bớt những lệ làng.
Ngày gửi: 24/05/2008 - 16:40

ở đây, cần có sự phân biệt giữa làng và thôn. Thực ra, làng hay xã đều chỉ chung một khu vục dân cư được phân chia bằng các ranh giới tự nhiên. Thôn và làng có sự khác nhau. Thôn là chỉ một phần trong làng hay xã. Một làng có nhiều thôn, cũng có làng chỉ có 1 thôn.

Làng được cố kết với nhau bới tính huyết thống và lâu đời. Vì vậy, làng mới có sự phân chia dân ngụ cư và dân chính cư ( dân gốc). Sự phân chia này liên quan đến quyền lợi ở làng. Ví dụ như, dân ngụ cư không có ruộng, không được chia phần ỏ làng, không có cơ hội ngồi chiếu trên.

Trong tổ chức xã hội thời kỳ phong kiến, làng ( xã) là đơn vị hành chính thấp nhất.

Văn hóa tổ chức làng khá nghiêm ngặt thể hiện qua các quy định của làng. Các quy định này thể hiện rất rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của từng thành viên trong cộng đồng. Vì vậy, làng là tổ chức xã hội chặt chẽ nhất, khép kín. Đây cũng là lý do khiến người Việt Nam giữ được văn hóa truyền thống, giữ được đất nước qua bao nhiêu cuộc xâm lược của ngoại bang.

Ngày gửi: 04/12/2012 - 13:57
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn
cucreHCM_