Lập dàn ý nghị luận bài Tây Tiến??

koa ai lập dàn ý nghị luận bài TÂY TIẾN dùm em dc kg mai nộp rùi
 |  Xem: 31.187  |  Trả lời: 1
Ngày gửi: 28/09/2008 - 10:13  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (1)

Bạn tham khảo 2 dàn ý dưới đây để viết bài nhé:
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Trích:
Những chuyện độc đáo của các chiến sĩ Tây Tiến


Chính phủ kháng chiến Lào tặng quân đội ta cờ kỷ niệm.
Xa Hà Nội nên thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều nên hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại, các chiến sĩ thi nhau... bắt chấy, bắt rận. Quần áo thì cho vào nồi nấu lên để giết... những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn.


Đoàn “Vệ trọc” cương cường sắt đá, bên xác thù càng ngã càng lên, trí như gang thép vững bền... trích bài thơ “Hội núi sông” của Huyền Kiêu đọc trong đại hội luyện quân, lập công Liên khu 3 năm 1948.

Đặc trưng của các chiến sĩ Trung đoàn Tây Tiến trong buổi sơ khai là cái “đầu trọc”. Từ trung đoàn trưởng, chính ủy, đến các chiến sĩ trong trung đoàn đều đầu trọc. Nhiều anh em còn lấy những mảnh dạ bắt được của Tây làm xà cạp “cò cưa”, để đầu sáng bóng như gương soi dưới ánh nắng.

Đã nhiều bài báo, nhiều câu chuyện giải thích ý nghĩa của cái “đầu trọc”, nhưng dường như vẫn chưa đầy đủ. Để hiểu tường tận về chuyện này, cần biết là, anh em trong Trung đoàn Tây Tiến hầu hết là thanh niên, học sinh Hà Nội. Họ rất coi trọng mái tóc phi-lô-dốp của mình.

Nhiều anh em còn mang theo lọ Bi-ăng-tin làm bóng mượt mái tóc, hoặc ngâm hạt bưởi làm gôm chải tóc. Đêm ngủ, có anh còn lấy mù xoa buộc tóc, giữ gìn mái tóc một cách công phu, cầu kỳ. Bên dòng suối trong vắt nhiều khi bắt gặp những chiến sĩ soi đầu mình trên bóng nước, nâng niu, vuốt ve mái tóc.

Nhưng xa Hà Nội, thiếu thốn đủ đường, chấy rận nhiều lắm. Hành quân, công tác, chiến đấu thì thôi, thời gian còn lại là bắt chấy, bắt rận. Cho quần áo vào nồi nấu lên, cũng không hết rận, vì áo quần một bộ, xà phòng không có, chăn chiếu thiếu, nằm úp thìa vào nhau, những chú rận, chú chấy to kềnh, trắng hếu, béo nẫn cắm đầu vào da thịt, hút máu. Thế là, nhằm loại trừ các “anh bạn” bất đắc dĩ đó, không còn cách nào hơn là... gọt trọc đầu. Tất nhiên sự việc này, khi đó cũng chỉ mang tính chất địa phương, đơn vị, vì nhiều anh em đâu dễ dàng từ bỏ mái tóc phiêu bồng, tài tử.

Trích:
QD là đại đội trưởng trong đoàn quân TT. Chiến sĩ TT phần đông là người Hà Nội.Tuy chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ,địa bàn hoạt động hiểm trở,vật chất thiếu thốn,bệnh tật hoành hành…nhưng các anh vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng.
Hoàn cảnh sáng tác
“Tây Tiến” là tên một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947,có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng P, bảo vệ biên giới Việt –Lào.


Địa bàn hoạt động của” TT” khá rộng, từ Châu Mai,Châu Mộc sang Sầm Nưá rồi vòng về Thanh Hoá.
1948, QD chuyển sang đơn vị khác.Nhớ đơn vị cũ,QD viết “TT”
tại Phù Lưu Chanh. Lúc đầu bài thơ có tên là “Nhớ Tây Tiến”.
Bố cục
(4 phần):


Câu 1-14: Nhớ con đường hành quân

Câu 15-22: Nhớ kỷ niệm đời lính

Câu 23-30: Nhớ đoàn binh Tây Tiến

Câu 31-34: Nhớ tinh thần Tây Tiến

Nhớ chặng đường hành quân
Giôùi thieäu khaùi quaùt noãi nhôù ( 2 doøng thô ñaàu)
Soâng Maõ xa roài Taây Tieán ôi !
Nhôù veà röøng nuùi nhôù chôi vôi !
“Tây tiến ơi!”: tiếng gọi thiết tha
“rừng núi” vùng Tây Bắc
“Nhớ”
“chơi vơi” không thể định hình và định lượng
Câu cảm thán nỗi nhớ mênh mang, ngàn trùng tha thiết.
II. Phân tích
Nhớ chặng đường hành quân
Rừng núi Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ
b1. Thiên nhiên hoang vu, hùng vĩ và hiểm trở.
1- Địa danh xa lạ:
Sài Khao
Mường Lát
Mường Hịch
Mai Châu
Liệt kê những vùng đất xa xôi, hoang vu, hẻo lánh.

b1. Thiên nhiên hoang vu, hùng vĩ và hiểm trở.
2- Thời tiết khắc nghiệt:
Sương lấp
Mưa xa khơi
Tả thực
Sương dày đặc
Mưa mịt mù

Địa thế hiểm trở:
Dốc: khúc khuỷa >< thăm thẳm
Ngàn thước: lên cao >< xuống
Heo hút: cồn mây súng ngửi trời
Phép điệp + NT đối lập + từ láy + phép nhân hóa + ngôn ngữ tạo hình + nhiều tiếng thanh trắc diễn tả những dốc đèo vô tận, quanh co, gấp khúc, núi cao chót vót, vực sâu thăm thẳm.
Nhớ chặng đường hành quân
3 - Thiên nhiên hoang dã:
“Thác gầm thét”
“Cọp trêu người”
Chiều chiều
“Đêm đêm”
NT nhân hóa
Thác dữ
Thú dữ
Thường xuyên đối mặt với nguy hiểm
4 - Người lính Tây Tiến:
Dãi dầu – không bước -> tả thực -> bi Gian khổ
Gục lên súng mũ bỏ quên đời hy sinh
-> lối nói giảm -> hùng -> lãng mạn: chết trên đường hành quân -> cái chết Gian khổ tột cùng, hào hùng tột bậc = lòng yêu nước
Thiên nhiên TB thơ mộng mang hương vị cuộc sống.
Thiên nhiên thơ mộng:
Mường Lát hoa về trong đêm hơi…
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi !
“Hoa về” : hương hoa lan tỏa
“Đêm hơi”: khí lạnh tỏa ra từ đá núi và sương đêm
“nhà ai … mưa xa khơi”: những nếp nhà ẩn hiện trong màn mưa
Hình ảnh thi vị, lãng mạn, câu thơ nhiều âm tiết
mang thanh bằng, âm điệu trầm lắng
=>Cảnh vật lung linh huyền ảo
Hương vị cuộc sống:
“cơm lên khói”
“thơm nếp xôi”
tả thực
Bữa cơm nóng
Hương thơm nếp mới

“mùa em thơm nếp xôi”->
điễn đạt tài hoa “mùa em”
Mùa lúa chín
Mùa nếp thơm
Mùa của tình quân dân
cuộc sống bình dị + tình quân dân ấm áp -> lạc quan
=> Vẻ đẹp tâm hồn người lính
Sơ kết
Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc và người lính Tây Tiến được thể hiện bằng bút pháp vừa đậm chất hiện thực vừa mang màu sắc lãng mạn
Sự kết hợp linh hoạt giữa thanh bằng và thanh trắc tạo nên tính nhạc; ngôn ngữ giàu chất tạo hình -> trong thơ có họa
Hồn thơ mạnh mẽ + tài hoa của người chiến sĩ – thi sĩ Quang Dũng
Bài 2:


“Tây tiến”là bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng và cũng là tác phẩm không thể thiếu vắng trong những bức tranh thơ về người lính trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ dạt dào cảm hứng chân thành về một thời chinh chiến đầy gian lao vất vả nhưng vô cùng anh dũng.
a. Cảnh thiên nhiên:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
. Đọc và Phân tích. 1. Cảnh Tây Bắc
=> Địa danh cụ thể. Đêm nhẹ như hơi hay đêm mờ hơi sương. Đóa hoa chợt thấy trong ánh đuốc rừng hay bó hoa của ai đón bộ đội trong đêm khuya.
=> Vẻ đẹp nên thơ, lung linh hư ảo

Biện pháp nghệ thuật tương phản + từ láy tượng hình + đảo ngữ (heo hút cồn mây…) nhịp điệu nối tiếp liên tục của những thanh trắc đã tái hiện được con đường núi hành quân như đẩy lên chiều cao vời vợi, dốc núi dường như thẳng đứng, nhìn lên rất cao, nhìn xuống rất sâu.
=> Hùng vĩ, hiểm trở, quanh co, khúc khuỷu.

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây gió ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Thời gian đồng lõa với thiên nhiên để uy hiếp con người. Trần Lê Văn nhận xét “hai chữ Mường Hịch có hai dấu nặng đi với nhau nghe nặng như tiếng chân cọp”
=> Dữ dội, nguy hiểm
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Tất cả đột ngột như lắng lại. Hình ảnh bản làng với nét bình lặng ấm cúng đã mang lại sự ấm áp cho toàn đoạn đẩy lùi cái hoang vu của rừng thiêng nước độc mang lại chất thơ cho toàn đoạn. Cái ấm áp tỏa ra từ hơi ấm của tình dân quân, tình người Tây Bắc hay từ tình yêu đôi lứa – Có lẽ là tất cả.

* Quang Dũng mở rộng tâm hồn đón nhận cuộc sống chiến đấu từ mọi phía không theo khuôn mòn.
- Đoạn thơ có hai cảnh: Cảnh đêm liên hoan của bộ đội có đồng bào địa phương đến góp vui; Cảnh sông nước đầy chất thơ của Tây Bắc với hình ảnh uyển chuyển của cô gái Thái xuôi thuyền về Châu Mộc. Hồn thơ Quang Dũng thường dễ có cảm hứng trước những gì có màu sắc bí ẩn của xứ lạ phương xa.

Cảnh sinh hoạt: (Đoạn 2)
Những chi tiết thực, mộng đan xen, cái nhìn ngỡ ngàng(kìa em) vui sướng, cảm mến trước trang phục nghệ thuật vũ đạo có màu sắc xứ lạ(man điệu) vừa dịu dàng vừa tình tứ(nàng e ấp) của cô gái nơi miền núi rừng Tây Bắc dưới ánhsáng bừng lên của ngọn lửa đuốc liên hoan. Từ“bừng”có thể là ánh lửa cũng có thể gợi về sự tưng bừng của đêm lửa trại.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp. Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.
Cảnh đêm liên hoan:
Bút pháp “Thi trung hữu họa”, điểm chọn tinh tế, tác giả cốt ghi lấy cái hồn của ngàn lau, cái dáng tạo hình của cô gái Thái, cái ngả nghiêng “đong đưa”của những bông hoa rừng dường như muốn làm duyên với dòng nước lũ.Cảnh và người hòa hợp.

Cảnh sông nước: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Tản Đà đã từng miêu tả hình ảnh lau chạy trong gió thu:
“Một dãy lau cao, làn gió chạy
Mấy cây thưa lá sắc vàng phai”
Chế Lan Viên:
“Ngàn lau cười trong nắng
Hồn của mùa thu về
Hồn mùa thu sắp đi
Ngàn lau xao xác trắng”
Ngày gửi: 29/09/2008 - 08:48
Trả lời

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo