CNTT nên theo ngành học nào có tương lai?

CNTT nên theo ngành học nào có tương lai? anh chị cho e biết, em đang phân vâng chọn chuyên ngành cho nình.
 |  Xem: 32.616  |  Trả lời: 2
Ngày gửi: 14/06/2009 - 20:23  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (2)

- Ngành công nghệ thông tin (CNTT) có nhiều chuyên ngành như khoa học máy tính, mạng máy tính và truyền thông, kỹ thuật máy tính, kỹ thuật phần mềm, hệ thống thông tin… CNTT có hai phần cốt lõi là phần cứng và phần mềm, trong đó phần mềm mới thật sự là bản chất của CNTT. Muốn trở thành chuyên gia CNTT cần phải giỏi môn toán, tiếng Anh, có khả năng làm việc theo nhóm và sức khỏe thật tốt.

Nếu học lực của bạn khá giỏi nhiều năm liên tục, đặc biệt giỏi những môn thuộc khối thi ứng với ngành bạn định dự tuyển, bạn có thể yên tâm chọn các trường thành viên của ĐH Quốc gia, học viện và ĐH công lập, ĐH vùng.

Nếu học lực của bạn ở mức trung bình khá, tức không giỏi những môn sẽ dự thi, khả năng trúng tuyển không chắc chắn lắm ở những trường ĐH lớn, bạn có thể nhắm đến các trường ĐH bán công, dân lập, tư thục hoặc hệ CĐ các trường ĐH công lập, các trường CĐ trung ương và địa phương (các trường CĐ này có hướng liên thông tiếp tục lên ĐH sau này).

Ngoài ra, các trường trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề bạn cũng nên nhắm đến. Hầu hết các trường này không tổ chức thi tuyển, chỉ xét tuyển theo điểm học bạ THPT, điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc điểm thi ĐH, CĐ. Sau khi tốt nghiệp, bạn vẫn còn cơ hội học tiếp lên cao theo các chương trình đào tạo liên thông, chuyên tu hay tại chức. Tuy là đường vòng nhưng khá chắc chắn để bạn tìm được việc làm.

Thêm một hướng đi nữa là hiện có các trường đào tạo CNTT như Inforworld, Aptech... Đây là cơ sở đào tạo lập trình viên chuyên nghiệp (viết phần mềm). Vào học chương trình này chỉ cần tốt nghiệp lớp 12. Bằng cấp này không nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia nhưng có giá trị khi xin việc ở các công ty sản xuất phần mềm. Một lập trình viên chuyên nghiệp thường có mức lương rất cao (từ 500 đến hơn 1.000 USD/tháng) tùy theo công ty trong và ngoài nước.

Một số công việc sau khi tốt nghiệp những chuyên ngành của ngành công nghệ thông tin bạn hỏi:

+ Ngành khoa học máy tính đào tạo kỹ sư ngành khoa học máy tính nắm vững kiến thức cơ bản và chuyên môn sâu về khoa học máy tính, trong đó chú ý đến các lĩnh vực tiên tiến về CNTT như: các hệ thống điều khiển thông minh, các hệ thống đa truyền thông, các hệ thống khai thác xử lý tri thức, xử lý ngôn ngữ tự nhiên… Sinh viên tốt nghiệp có thể tham gia giảng dạy CNTT trong các trường ĐH, tham gia nghiên cứu trong các phòng lab R&D, tư vấn về CNTT cho các đơn vị, doanh nghiệp cũng như tham gia viết các sản phẩm phần mềm.

Cử nhân khoa học máy tính làm việc ở các chức danh: cán bộ nghiên cứu và ứng dụng CNTT ở các viện, trung tâm nghiên cứu và các trường ĐH, CĐ; giảng viên CNTT ở các trường ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề; cán bộ quản lý dự án CNTT ở các cơ quan, ngành, tổng cục, công ty; tiếp tục được đào tạo sau ĐH để nhận các trình độ thạc sĩ và tiến sĩ, trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực CNTT.

+ Ngành kỹ thuật máy tính đào tạo kỹ sư ngành kỹ thuật máy tính nắm vững các nguyên lý cơ bản và thực tiễn trong lĩnh vực kỹ thuật máy tính, đặc biệt là lĩnh vực thiết kế vi mạch. Sau khi hoàn thành chương trình, kỹ sư ngành này có khả năng nghiên cứu và thiết kế các bộ phận chức năng của máy tính, tham gia làm việc trong các dự án sản xuất các thiết bị máy tính cho các tập đoàn lớn trên thế giới đã đầu tư vào Việt Nam như: Intel, IBM, Samsung, Nidec…

+ Ngành kỹ thuật phần mềm trang bị cho sinh viên kiến thức tổng quát về qui trình xây dựng, quản lý và bảo trì hệ thống phần mềm; có khả năng phân tích, thiết kế và quản lý các dự án phần mềm; cung cấp phương pháp luận và công nghệ mới để sinh viên có thể nắm bắt và làm chủ các tiến bộ khoa học. Sinh viên được cung cấp kiến thức cơ bản về tổ chức và quản lý công nghệ phần mềm để có khả năng xây dựng mô hình và áp dụng các nguyên tắc của công nghệ phần mềm vào thực tế.

+ Ngành hệ thống thông tin đào tạo kỹ sư đáp ứng các yêu cầu về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin của xã hội. Sinh viên tốt nghiệp ngành hệ thống thông tin có khả năng tham gia xây dựng các hệ thống thông tin phục vụ cho các hướng ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội, là: giáo dục điện tử, thương mại điện tử, chính phủ điện tử, các hệ thống thông tin địa lý (GIS)… có khả năng tư vấn, xây dựng các hệ thống thông tin theo đặc thù phục vụ cho doanh nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp ngành hệ thống thông tin làm việc ở các chức danh: nghiên cứu viên, giảng viên, cán bộ quản lý dự án...

+ Ngành mạng máy tính và truyền thông đào tạo kỹ sư nắm vững kiến thức cơ bản và chuyên sâu về ngành nghề, đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu, ứng dụng, có khả năng thiết kế chế tạo, bảo trì, sản xuất, thử nghiệm, quản lý các hệ thống mạng máy tính và truyền thông. Sinh viên tốt nghiệp có khả năng đảm nhận các chức năng tham mưu, tư vấn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ với tư cách là một chuyên viên trong lĩnh vực CNTT.

Điểm chuẩn năm 2008 ngành công nghệ thông tin đối với ĐH Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM) ngành khoa học máy tính: 19, kỹ thuật máy tính: 18, kỹ thuật phần mềm: 21, hệ thống thông tin: 19, mạng máy tính và truyền thông: 20;

ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM): 21; ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM): 20; ĐH Bách khoa (ĐH Đà Nẵng): 19,5; Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông (phía Nam): 18,5; ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Công nghiệp TP.HCM: 16;

ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Sài Gòn: 15; ĐH Cần Thơ: 14,5; ĐH Tôn Đức Thắng: A-14, D-15; ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM), ĐH dân lập Văn Lang: 14; ĐH Nha Trang: 13,5;

ĐH Đà Lạt, ĐH Mở TP.HCM, ĐH Khoa học (ĐH Huế), ĐH dân lập Kỹ thuật công nghệ TP.HCM, ĐH dân lập Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, ĐH dân lập Hùng Vương TP.HCM: 13;

ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội): 23,5; Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông (phía Bắc): 22,5; ĐH Bách khoa Hà Nội: 21; ĐH Hàng hải: 16,5; ĐH Công nghiệp Hà Nội: 16; ĐH Mỏ địa chất: 15; Khoa Công nghệ thông tin (ĐH Thái Nguyên): 14,5…
Ngày gửi: 15/06/2009 - 16:37
Vì sao ngành công nghệ thông tin đột ngột “rớt giá”?

Các giảng viên ngành công nghệ của các trường ĐH lớn như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TPHCM đã chỉ ra 9 nguyên nhân chính khiến thí sinh đột ngột “lạnh lùng” với ngành học được cho là thời thượng và rất có tương lai này.

Đó là:

1. Thí sinh nhận thức được rằng, không phải ai theo học CNTT cũng có thể kiếm được việc làm đúng nghề, đúng chuyên ngành được đào tạo. Chỉ có người có khả năng (kỹ thuật, ngoại ngữ...) mới có cơ hội việc làm tốt.


2. Học CNTT không phải là một ngành học có thể chạy theo “mốt” mà nó đòi hỏi người học phải có niềm đam mê và khả năng tư duy tốt.


3. Tiếng Anh là một yêu cầu rất cần thiết khi học tin học. Có học tốt ngoại ngữ thì mới có khả năng đọc tài liệu tin học bằng tiếng Anh và mới có khả năng nghiên cứu tin học. Trong khi, trình độ tiếng Anh trong mặt bằng chung của học sinh lớp 12 và sinh viên hiện nay vẫn còn khá thấp.

4. Nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNTT ở Việt Nam trong những năm tới là rất lớn, nhưng đòi hỏi phải có chất lượng cao. Trong khi đó ở Việt Nam có quá nhiều trường đào tạo CNTT với mức điểm chuẩn đầu vào rất khác nhau. Đào tạo CNTT ở Việt Nam hiện nay đã thừa về số lượng tuy vẫn còn rất thiếu đội ngũ kỹ sư và quản lý trình độ cao.


5. Hệ thống đào tạo CNTT của Việt Nam hiên nay về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu đồi hỏi đối với ngành này, còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn.


6. Phương pháp giảng dạy của ngành CNTT đòi hỏi giảng viên phải phát huy được khả năng tự học của SV, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Người thầy phải đóng vai trò của người hướng dẫn và giải đáp những thắc mắc của SV, như là một người đi trước.

Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy này ở Việt Nam mới chỉ có rất ít trường thực hiện được. Một phần là do nếp cũ của thầy, nhưng một phần là do sức ì của một bộ phận SV (do bị nhồi nhét một cách thụ động, quá nhiều trong những giờ học thêm, luyện thi ĐH).


7. Tài liệu giảng dạy ngành CNTT còn bất cập. Hiện nay nguồn học liệu mở (của các trường ĐH tiên tiến trên thế giới) rất phong phú và rất dễ khai thác. Vì vậy các trường ĐH ở Việt Nam không thiếu tài liệu. Nhưng trình độ của người dạy và khả năng tiếp thu của người học đều chưa đủ khả năng khai thác và vận dụng. Giáo trình dạy CNTT ở các trường ĐH cập nhật thông tin mới rất chậm.


8. Chương trình đào tạo CNTT hiện nay chưa xác định rõ là đào tạo “chuyên gia làm việc trong industry” hay “nhà nghiên cứu trong lĩnh vực học thuật”. Vì thế, việc đào tạo sinh viên CNTT không xác định rõ được yêu cầu để phục vụ nguồn nhân lực cho việc CNH-HĐH đất nước hay để nghiên cứu phát triển khoa học.


9. Thách thức đối với ngành CNTT là quá lớn. Nghề IT chủ yếu chỉ "sung" ở thời trẻ. CNTT là một môi trường đầy thách thức do công nghệ liên tục đổi mới.

Trích dẫn:


Tin học có khác Công nghệ thông tin?Đối với ngành CNTT, đã có nhiều bạn đọc gửi e-mail thắc mắc ngành Tin học và CNTT khác nhau như thế nào, tại sao có trường đào tạo ngành Tin học, có trường đào tạo ngành CNTT? Bằng kỹ sư CNTT và bằng cử nhân CNTT khác nhau ra sao?TS Quách Tuấn Ngọc đã trả lời cho những thắc mắc này như sau:Về thuật ngữ, Tin học được dịch từ Informatique (tiếng Pháp) là tên chuyên ngành được phổ biến từ những năm 1970 đến 1990. Tiếng Anh thì vẫn dùng phổ biến là Computer Science. Khoảng năm 1990, thế giới phổ biến dùng CNTT, dịch từ Information Technology. Đến năm 2000, thế giới lại dùng là ICT (Information and Communication Technology), cho thấy sự hội tụ giữa Tin học và Viễn thông. Hiện nay, ở Việt Nam, các trường có nơi gọi là khoa Tin học, có nơi gọi là Khoa CNTT, nhưng về nội hàm thì không khác biệt.Các trường đại học kỹ thuật hệ 5 năm như ĐHBK thì bằng tốt nghiệp mang tên bằng kỹ sư.Các trường khác đào tạo hệ 4 năm như ĐH Công nghệ... thì bằng tốt nghiệp gọi là bằng cử nhân.
Ngày gửi: 15/06/2009 - 16:38
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(4 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo
Cucre_hn