Giúp mình phân tích sự khác nhau giữa tài sản cố định và tài sản lưu động với?

 |  Xem: 21.832  |  Trả lời: 3
Ngày gửi: 11/06/2009 - 13:23  |  Câu hỏi liên quan
Trả lời

Danh sách trả lời (3)

Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động)- công nợ ngắn hạn

Tài sản lưu động= tài sản ngắn hạn= các hạng mục có tính thanh khoản cao (có khả năng chuyển thành tiền trong một chu kỳ kế toán)

Ở đây cái từ vốn này làm cho chúng ta nhầm lẫn rất nhiều: ví dụ, chúng ta có học: vốn cố định, vốn lưu động, nhưng chúng tai lại được biết: vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ. Cái định nghĩa về vốn lưu động thì tương đối rõ ràng, nhưng vốn cố định thì không rõ lắm. Hơn nữa ngày xưa, khi mình học môn tài chính doanh nghiệp, các thầy cũng không giảng rõ lắm khái niệm này
Ngày gửi: 12/06/2009 - 11:43
Chào các anh, chị,

Em rất mù mờ về kế toán tài chính, nhưng cũng muốn hỏi các anh chị một chút.

Theo em vốn lưu động (em vẫn thấy nhiều người gọi thế này, chứ vốn hoạt động em nghe lạ tai hơn :D) có thể được tính theo cả 2 công thức:

VLĐ = Tổng nguồn vốn dài hạn - Tổng tài sản dài hạn (1)
= Tổng tài sản ngắn hạn - Tổng nợ ngắn hạn (2)

Điều này có thể được giải thích:
Nguồn vốn (X) = Nguồn vốn dài hạn (A) (Gồm Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn) + Nợ ngắn hạn (B)
Tài sản (X) = Tài sản dài hạn (C) + Tài sản ngắn hạn (D)

Tài sản = Nguồn vốn = X = A + B = C + D
VLĐ tính theo công thức (1) = A - C = A - (X - D) = A + D - X
VLĐ tính theo công thức (2) = D - B = D - (X - A) = A + D - X

Kết quả là như nhau, nếu khác có lẽ là cách hiểu về vốn lưu động.
Chẳng hạn như theo công thức 1: Tài sản dài hạn là loại tài sản có tính thanh khoản thấp, đòi hỏi được tài trợ hết bằng một nguồn vốn dài hạn (Vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn), phần dôi ra của nguồn vốn dài hạn sau khi đã tài trợ hết tài sản dài hạn chính là vốn lưu động.

Theo công thức 2: Tài sản ngắn hạn còn được gọi là tài sản lưu động. Nó được tài trợ 1 phần bởi nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn, người mua trả trước, phải trả người bán), phần dôi ra sau khi lấy tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn chính là vốn lưu động. Từ đó ta có công thức tính Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn.

Như vậy theo em nghĩ rõ ràng Vốn lưu động và Tài sản lưu động hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng trong 1 bài tập em làm hộ bạn gái, thầy giáo lại chia Tổng vốn theo 2 cách 1/ Theo sở hữu: Tổng vốn = Vốn chủ sở hữu + Vốn vay 2/ Theo tính chất: Tổng vốn = Vốn lưu động + Vốn cố định.
Vậy anh chị giải thích cho em cái này, có phải thầy giáo nhầm vốn lưu động với tài sản lưu động (ngắn hạn), và vốn cố định với tài sản cố định (dài hạn) không. Nếu không nhầm thì 2 cách tính này theo em ko ra kết quả như nhau.
Ngày gửi: 12/06/2009 - 11:44
hai công thức mà mình bôi đen là hoàn toàn đúng cả ý nghĩa kế toán lẫn số học. Và như bạn kết luận thì 2 công thức này cho ra cùng kết quả. Ở đây mình không chắc chắn mình suy diễn đúng nhưng Vốn lưu động được tính từ 2 đẳng thức kế toán của bạn nên hiểu đây chính là nguồn vốn của doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (tất nhiên với khả năng quay vòng nhanh và đựơc biểu hiện dưới hình thái các tài sản ngắn hạn có tính khả thanh cao). Và tôi nhất trí với câu trả lời của một bạn ở trên là: đây là vốn hoạt động!
Bạn sẽ hiểu dễ dàng hơn khi nhìn nhận như sau: Trên bảng cân đối kế toán (2 cột) cột bên phải sẽ là nguồn vốn của doanh nghiệp gồm các chỉ tiêu như bạn đã nêu và bên trái là cột tài sản (vốn).
Ở đây, theo đẳng thức được chuyển hoá ở trên nguồn vốn vay dài hạn của doanh nghiệp sẽ được sử dụng để tài trợ cho tài sản dài hạn trước (0) và khi nó chưa đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn thì một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn kinh doanh (1) sẽ được đem tài trợ cho tài sản dài hạn, tiếp đó nếu nguồn vốn dài hạn chưa tài trợ được cho tài sản dài hạn thì nợ ngắn hạn sẽ được sử dụng để tài trợ cho tài sản dài hạn (2). (bạn chú ý phần mình bôi đen; (2) bao gồm cả (1) và (0) bạn nhé).
Khi trường hợp (1) xẩy ra nghiễm nhiên nguồn vốn dài hạn đã đảm bảo tài trợ cho tài sản dài hạn thì một phần vốn tự có của doanh nghiệp sẽ được sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn (hay lưu động).
Khi trường hợp (2) xẩy ra thì có nghĩa doanh nghiệp không có vốn lưu động mà phải dựa vào vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn lưu động của doanh nghiệp là âm ().
Với trường hợp (0): ngiã là vốn vay dài hạn không những đủ tài trợ cho tài sản dài hạn của doanh nghiệp mà còn tài trợ sang tài sản lưu động của doanh nghiệp nữa. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng đến vốn vay khi chưa sử dụng vốn tự có (các tổ chức tín dụng sẽ không dễ dàng giải ngân cho các doanh nghiệp thừa vốn này đâu ạ). Đến đây, sẽ có người phản bác lại tôi rằng do tôi thừa nhận trình tự tài trợ của các khoản mục nguồn vốn nên trường hợp (0) có thể xẩy ra khả năng là vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tài sản dài hạn nên cần tài trợ của vốn vay dài hạn - Tôi đồng ý với quan điểm này nhưng không thể huy động vốn vay dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động được (sử dụng vốn vay sai mục đích và các ngân hàng giải ngân từng đợt và doanh nghiệp phải trình các giấy tờ chứng minh doanh nghiệp đang sử dụng đúng mục đích vay; Vốn vay dài hạn luôn phải được tài trợ cho các TS dài hạn đấy là nguyên tắc của các ngân hàng)
Và đến đây các bạn lại thấy sơ hở tiếp theo là: Ở trường hợp 2 vô hình chung doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho TS dài hạn à? Có nhiều lý do để giải thích với câu hỏi này: thứ nhất nợ vay ngắn hạn không nhất thiết phải là nợ vay tổ chức tín dụng mà có thể là nợ mà doanh nghiệp chiếm dụng vốn với người bán. Với các tổ chức tín dụng thì khi doanh nghiệp có kết cấu Nợ và tài sản như trên thì họ khó có khả năng giải ngân nhưng họ vẫn giải ngân cho doanh nghiệp vì tin tưởng vào khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai để có thể vận dụng tốt đòn bẩy tài chính hoặc duy trì sản xuất khi giá bán chưa ở mức phải đóng cửa sản xuất. Ngân hàng đặt vào tình thế này khi họ đã lỡ tài trợ cho tài sản dài hạn của doanh nghiệp và "đâm lao thì phải theo lao mà lấy lao về" mà!

Về nhu cầu vốn lưu động vấn đề này thường được đề cập trong các kế hoạch kinh doanh bạn à! cụm từ "nhu cầu vốn lưu động" được hiểu như là dự báo về vốn lưu động cần thiết trong tương lai tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
(Ở đây mình cũng muốn nói thêm với bạn rằng: vốn là tài sản hay cách gọi khác của tài sản trên bảng cân đối kế toán là vốn.)
và ở đây bạn không nên hiểu nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu chênh lệch trị số từ các đẳng thức trên mà nên hiểu là nhu cầu về tài sản lưu động cần thiết tham gia sản xuất sắp tới được quy ra dưới giá trị tiền tệ kế toán; Đây cũng là cơ sở để lập kế hoạch kinh doanh vay vốn ngân hàng bằng các nội dung diễn giải về quy mô, vòng quay vốn lưu động các tình huống giả định rồi quy về giá trị theo đơn vị tiền tệ.
Câu hỏi: 2 cách 1/ Theo sở hữu: Tổng vốn = Vốn chủ sở hữu + Vốn vay 2/ Theo tính chất: Tổng vốn = Vốn lưu động + Vốn cố định.
Như vậy thì "Vốn lưu động" câu hỏi của bạn về cách trả lời của thầy giáo thì vốn lưu động là "tài sản lưu động" trên bảng cân đối kế toán.
Đến đây thì kết luận của tôi về câu hỏi của bạn là nêu hiểu cụm từ "vốn lưu động" theo từng ngữ cảnh cụ thể chứ không nhất thiết phải đồng nhất chúng với nhau đâu ạ!
Ngày gửi: 12/06/2009 - 11:45
Trả lời

Sản phẩm tham khảo tại cửa hàng.

Đang được quan tâm nhất

Những thành viên tích cực trong tháng
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(2 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
(1 lượt cảm ơn)
Quảng cáo